CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÂU ĐỐ VÀ HÁT ĐỐ DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT 1. Giới thiệu chung về câu đố dân gian người Việt 1. Khái niệm câu đố Câu đố xuất hiện khá sớm trong lịch sử văn học nhân loại, là một bộ phận không thể thiếu trong các nền văn học. Từ các tài liệu cổ xưa nhất của loài người, chúng ta đã tìm thấy câu đố trong các huyền thoại, truyện cổ tích… Trong lịch sử nghiên cứu câu đố, có nhiều cách định nghĩa nhằm khu biệt giá trị và khẳng định câu đố là một thể loại văn học dân gian, một thành tố của folklore ngôn từ.
Chẳng hạn theo Aristot thì: câu đố là "một kiểu ẩn dụ hay" và cái hay đặc biệt của câu đố là ở chỗ "trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố cũng đồng thời kết hợp cả với cái hoàn toàn không thể có được". [64, 244] Còn với chuyên gia về câu đố dân gian người Phần Lan Annikki Kaivola– Bregenhoj thì khẳng định: "Câu đố là một thể loại của truyền thống truyền miệng phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa". [53, 662] Là một thể loại truyền miệng dân gian nên câu đố dù có ở khắp mọi nơi trên Trái đất này nhưng vẫn mang nét văn hóa của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về thể loại câu đố.
Từ điển thuật ngữ văn học (2007) định nghĩa về câu đố như sau: "Một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa gây nhiễu (chuyển vật nọ thành vật kia) được nhân dân dùng trong sinh hoạt tập thể để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết và mua vui, giải trí."[43, 48] Định nghĩa trên dựa vào nội dung phản ánh và phương thức tạo lập của câu đố, cũng như tính truyền miệng của thể loại. Chu Xuân Diên thì cho rằng: "Câu đố là một loại sáng tác phản ánh các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch, nói một đằng hiểu một nẻo" [64, 257]. Với Triều Nguyên: "Câu đố là một thể loại của văn học dân gian, gồm 2 bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố), lời đố bằng văn vần nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoán nhận lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật hiện tượng có tính chất khái quát phổ biến ai cũng từng hay, từng biết. Tuy có nhiều định nghĩa về câu đố nhưng tất cả đều nêu lên những đặc điểm nổi bật của thể loại.
Về nội dung, câu đố là một thể loại phản ánh các sự vật hiện tượng khách quan. Nó có xu hướng nêu lên những đặc điểm, chi tiết riêng của mỗi sự vật, sự việc, hiện tượng 12 khác nhau. Nội dung phản ánh của câu đố luôn gắn liền với hiện thực cuộc sống, những điều mắt thấy tai nghe, những thứ gần gũi với đời thường,… Về hình thức, câu đố được trình bày một cách ngắn gọn và phản ánh sự vật hiện tượng theo phương pháp nói chệch, giấu tên, gây nhiễu nhằm đánh tráo khái niệm "định danh" làm cho người giải phải nhọc nhằn trong việc nêu lên vật đố chính xác. Những phương pháp phản ánh khác nhau như: nói chệch, giấu tên, gây nhiễu… buộc người giải phải vận dụng óc phán đoán, suy luận và cả sự hiểu biết đời sống của bản thân để giải đố.
Sinh hoạt câu đố là một hoạt động giao tiếp giữa những cá thể tham gia. Vì vậy, yêu cầu trong diễn xướng phải có ít nhất hai người để đáp ứng được mô hình hỏi – đáp (nghĩa là phải có một người hỏi, một người trả lời). Tùy theo từng khía cạnh, điểm nhìn khác nhau mà mỗi tác giả diễn đạt thành những định nghĩa khác nhau về thể loại câu đố. Song, những định nghĩa trên đã nêu lên được những nét riêng biệt của câu đố, nhằm khu biệt câu đố với các thể loại dân gian khác.
Diễn xướng của câu đố dân gian người Việt 1.1 Môi trường sinh hoạt của câu đố Sinh hoạt câu đố có thể diễn ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, không gian, thời gian khác nhau. Vì thế, việc xác định môi trường sinh hoạt câu đố một cách cụ thể là điều rất khó. Nếu nhìn từ góc độ qui mô, môi trường sinh hoạt câu đố có thể khái quát ở những loại cụ thể sau: Thứ nhất, đó là môi trường lễ hội. Nó là yếu tố gắn liền với loại sinh hoạt câu đố dân gian có tổ chức.
Ở đó, câu đố được mang ra làm trò, để thi thố tài năng, .với vai trò như một màn trình diễn. Thứ hai, đó là môi trường sinh hoạt hàng ngày. Nó là những khoảng không mênh mông của đồng ruộng; gốc đa, giếng nước; hay trong nhà của ông Lý, ông Tổng thời xưa;. Với khoảng không ấy, những người bình dân có thể đố nhau khi rảnh rỗi, lúc vui mùa gặt hay trong những đêm trăng tròn.
Chẳng hạn như: Trong "một đêm trăng trung tuần tháng 8 ở thôn miền Bắc cách nay hơn nửa thế kỷ. Trời quang đãng, trăng đêm sáng quắc giát bạc đầy sân, gió thu hây hây mát dịu. Trẻ, già, trai, gái ngồi chật ba chiếc chiếu trải giữa sân. Trên hai chiếc chõng tre mấy vị bô lão ngồi hút thuốc lào chiêu với nước chè tươi đặc.
Bỗng bác phó Khảm lên tiếng: "Xin phép các cụ và bà con, tôi xin đố trước ạ". Rồi bác đằng hắng đố: "Vừa bằng con bò nằm co giữa ruộng" đố là cái gì? Bác chưa dứt lời, mấy cô đã nhao nhao tranh nhau đáp: "Cái mả. Bác phó 13 lại đố luôn: "Thế .vừa bằng hạt đỗ ăn giỗ cả làng. Lập tức nhiều tiếng đáp ngay: "là con ruồi".
Cuộc đố giúp cho tinh thần mọi người được thoải mái hơn, vui tươi hơn,. Môi trường sinh hoạt này của câu đố có tính mở rộng và không có sự gò bó nào ở các yếu tố tham gia. Bên cạnh đó, nó rất dễ tiến hành, chỉ có một địa điểm, hai người trở lên đã có thể làm nên một cuộc đố. Thứ ba, đó là môi trường lao động.
Cũng với những hoàn cảnh cụ thể đồng ruộng, sông nước,. Tuy nhiên, chúng gắn liền với hoạt động lao động của con người. Bấy giờ, câu đố là nguồn năng lượng nâng cao năng suất lao động, giảm bớt sự mệt mỏi của con người. Trên cánh đồng mùa nhộn nhịp tay gặt, tay hái, những người bình dân vừa làm vừa đố nhau những, như: Ai đi biển rộng sông dài, Uống ngụm nước ngọt, nhớ ai trên rừng? Đố ruột thịt, đố người dưng, Suối sông ắp nước chảy mừng nhờ ai?" (Nguồn) [86, 150] Hay "Bằng trang điếu thuốc, Ngủ ngày nó ngáy ton ton." (Ngón tay) [86, 370] Không khí lao động trở nên sôi nổi hơn, vừa lao động vừa suy nghĩ, bàn bạc với nhau xem đấy là cái gì, làm cho mọi người quên hết mệt nhọc, nắng gió.
Nhìn chung, môi trường diễn xướng sinh hoạt câu đố dân gian hết sức đa dạng. Điều này chứng minh sự phổ biến của câu đố trong đời sống của người bình dân.2 Hình thức sinh hoạt của câu đố Trên thực tế, câu đố được trình bày theo lối nói đối đáp. Có người đọc lên, nói lên lời đố, kèm theo những biểu cảm trên nét mặt, hoặc trầm tư tạo sự bí ẩn, hoặc nhếch miệng cười theo kiểu thách thức,. Nhưng để mọi người nắm bắt, lời đố cần được nhắc lại đôi lần.
Và đối tượng khác hưởng ứng bằng cách nêu lên vật đố. Câu đố tồn tại trong nền văn hóa với một thời gian lâu dài và lưu trong trí nhớ của mỗi người, từ người biết chữ đến những người bình dân chẳng một con chữ "lộn lưng". Hình thức diễn xướng của câu đố có thể biến đổi theo môi trường, đối tượng, tình huống thể hiện,. Đó là sự biến chuyển qua lại giữa nói, đọc, kể,.
Chẳng hạn trong lúc rảnh rỗi, hai người bạn có thể đố nhau như sau: A: Tao vừa biết được câu đố này, đố mày nè! "Bằng chiếc đũa, dài một gang, 14 Lắm đốt, nhiều khoang; Xây lâu đài trong lòng đất." [86, 301] Đố mày là con gì? Chắc mày không biết đâu. B: Tao biết rồi, đó là con giun đất. Thế tao đố lại mày nhe! Trong các thứ cỏ, cỏ nào nằm ngửa? [86, 436] A: ??? B: Nhìn mày là biết không đáp được rồi. Đó là cửa ngõ.
A: Tại sao lại là cửa ngõ? Mày đang đố về cỏ mà? B: Thì cỏ ngửa là cửa ngõ đấy. Chính sự thay đổi này là một thuận lợi để câu đố có thể xâm nhập vào các cuộc sinh hoạt của các thể loại dân gian khác.3 Đối tượng tham gia trong sinh hoạt của câu đố Đối tượng tham gia trong buổi sinh hoạt câu đố là không hạn chế, bao gồm tất cả các lứa tuổi, tầng lớp tham gia: từ những người bình dân chân lấm tay bùn đến những người trí thức, nho sĩ,. Trong đó, có thể chia thành hai dạng đối tượng chủ yếu: Một là những đối tượng tham gia trực tiếp. Những đối tượng này là những người nêu lên lời đố, giải đáp văn bản đố được đặt ra.
Họ có vai trò đặc biệt làm nên một cuộc đố thành công. Ở đây, điều quan trọng nhất đối với người tham gia là sự hiểu biết về câu đố cũng như tri thức đời sống, xã hội,. Chính đối tượng này điều phối buổi sinh hoạt câu đố. Thời gian đố có kéo dài được hay không, nội dung đố có phong phú, có hấp dẫn và lôi cuốn hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào họ.
Hai là đối tượng tham gia gián tiếp. Đó là những người xem, người dự, có thể xem họ như những khán giả nhiệt tình và có trách nhiệm nhất trong cuộc đố. Họ đến với cuộc đố nhằm để giải khuây hay vì sự tò mò, hiếu kì, vì mong muốn mở rộng sự hiểu biết,. Họ vừa thể hiện vai trò người xem, người chứng kiến sinh hoạt câu đố diễn ra, vừa là người nhận xét đánh giá, cũng có thể tham gia bằng những lời góp ý, lí giải bằng những hiểu biết của mình.
Họ còn là những đối tượng tiềm năng hình thành nên đối tượng tham gia trực tiếp. Sự phân tách này chỉ tương đối bởi cuộc đố diễn ra trên không gian rộng lớn, mang tính tập thể, không cố định người tham gia. Vì thế, đối tượng tham gia gián tiếp cũng có thể là đối tượng trực tiếp nếu họ nêu lên được một hoặc một vài lời đố, lời giải.