Chương 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Dòng họ của người Nùng Phàn Slình ở huyện Cao Lộc Chương 3: Quan hệ dòng họ trong đời sống tín ngưỡng Chương 4: Quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế và tương trợ Chương 5: Quan hệ dòng họ với hệ thống chính trị cơ sở Chương 6: Kết quả và bàn luận 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về quan hệ dòng họ Ở Việt Nam, dòng họ là một thiết chế xã hội quan trọng, trực tiếp góp phần tạo nên kết cấu làng xã và rộng hơn nữa là đất nước, bởi gia đình - họ hàng - làng, nước được coi như là sự tổng hòa của các mối quan hệ văn hóa - xã hội - chính trị - luật tục trong xã hội truyền thống. Việc nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ có vị trí quan trọng và đã có khá nhiều công trình nghiên cứu từ các góc độ dân tộc học/nhân học, sử học, xã hội học, văn hóa học,… Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận án tiến sỹ nhân học văn hóa, chúng tôi chỉ tập trung vào việc tổng quan những công trình nghiên cứu về dòng họ thuộc lĩnh vực dân tộc học/nhân học là chính, sau nữa là những nghiên cứu về lĩnh vực này của các khoa học gần gũi về đối tượng.
Các nghiên cứu về quan hệ dòng họ trên thế giới và quan hệ dòng họ của người Việt Có thể nói rằng, nghiên cứu dòng họ là nền tảng cơ bản để tìm hiểu về quan hệ xã hội của tộc người trong bất cứ xã hội nào, vì vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài như Maine, McLennan và Morgan, Lévi-Strauss và Radcliffe-Brown, Grant Evans. quan tâm đến. Lévi-Strauss đã xây dựng một lý thuyết về cấu trúc thân tộc, trong đó hạt nhân là vấn đề “lớp hôn nhân”. Đóng góp lớn nhất của ông chính là phát hiện và phân tích sâu sắc về quy tắc “cấm đoán loạn luân” và cũng là người đưa ra nhiều luận giải về chế độ mẫu hệ, phụ hệ.
Theo ông, hệ thống thân tộc hôn nhân là một hệ thống trao đổi, trong đó, người chủ mưu là đàn ông, đàn bà là những vật được trao đổi cho nên luôn luôn thụ động. Còn Radcliffe-Brown, từ những trải nghiệm, khảo cứu của mình đã cho rằng, bản chất của một hiện tượng thân tộc hiểu rộng là sự thành lập những đơn vị có cấu trúc chặt chẽ và trường tồn trong thời gian, nghĩa là có trước những cá nhân thành viên của những đơn vị ấy và tồn tại sau khi những cá nhân ấy đã chết [57]. Trong khi đó, Grant Evans lại nêu đặc điểm cụ thể hơn về chức năng của dòng họ ở châu Á trong tác phẩm Bức khảm văn 7 hóa châu Á là những thực thể chính trị có thể hoặc không có thể phát triển tùy theo tình thế chính trị và kinh tế của các thành viên có khả năng trong dòng họ [37]. Ở Việt Nam, dòng họ cũng được đề cập từ khá sớm.
Vào thời phong kiến, những ghi chép về dòng họ chủ yếu được tìm thấy trong các thư tịch cổ Trung Quốc, các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục. Các bộ sách này chủ yếu mới chỉ có tính chất hệ thống lại, mô tả về phả hệ của các dòng họ chứ chưa đi sâu tìm hiểu về cấu trúc, nội dung, ảnh hưởng của dòng họ. Trước năm 1945, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo như của Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Pierre Gourou… Lần đầu tiên, trong Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, Pierre Gourou đã tiến hành điều tra, thống kê tên các dòng họ ở vùng châu thổ Sông Hồng (202 họ) và bước đầu có những nhận xét sơ bộ về tên họ và sự phân bố tại các làng xã, vùng miền [41]. Từ năm 1945 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dòng họ được xuất bản, trong số đó phải kể đến nghiên cứu của nhà dân tộc học Trần Từ.
Ông cho rằng, dòng họ đóng một vai trò nhất định trong lịch sử xây dựng làng mới: những người đầu tiên bỏ quê đi lập làng mới thường là họ hàng với nhau, thổ cư các gia đình thành viên thường áp sát nhau và chiếm vị trí trung tâm trên khu đất mới. Dòng họ còn đóng vai trò “một chỗ dựa tinh thần, và đôi khi chính trị nữa” (chứ “không phải một viện trợ vật chất”) cho các thành viên trong làng Việt cổ truyền vốn chằng chịt vô vàn mâu thuẫn [115]. Từ góc nhìn xã hội học, Trịnh Thị Quang lại cố gắng tìm hiểu vai trò của dòng họ và quan hệ dòng họ mà tác giả gọi là “tổ chức thân tộc”. Tác giả cho rằng, quan hệ thân tộc vốn thường đảm nhận ba chức năng: là một cộng đồng pháp lý, một cộng đồng kinh tế, cộng đồng sinh sống, đạo đức và tôn giáo; và chú ý xem xét những chức năng đó đã và đang biến đổi như thế nào [88].
Dựa trên sự tiếp cận đồng đại và lịch đại, Ngô Thị Chính đã phân tích hệ thống thân tộc người Việt truyền thống qua các chiều cạnh của ngôn ngữ cũng như qua các tài liệu điền dã dân tộc học để đưa ra một bức tranh khá đầy đủ về hệ thống thân tộc phụ hệ truyền thống của người Việt [23]. Từ góc nhìn văn hóa học, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có nhận định tổng quan về thân tộc, dòng họ của người Việt rằng, một người Việt Nam bình thường có ba họ: 8 họ bố, họ mẹ, họ vợ chồng [121]. Còn Giáo sư Phan Văn Các cho rằng, dòng họ là một hiện tượng lịch sử - xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại [19]. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “họ” có thể được hiểu theo ba nghĩa: (1) Là những người cùng mang một tên họ, nhưng không thể chứng minh có chung một nguồn gốc…; (2) Là những thành viên mang cùng tên họ, có cùng một nguồn gốc…; (3) Là những người cùng thuộc về một ông tổ 5 đời (chi họ) [117].
Từ góc nhìn cấu trúc luận, Giáo sư Phan Đại Doãn cho rằng, dòng họ của người Việt, có một thể chế phức tạp và chặt chẽ thường được gọi là thể chế tông pháp. Đó là những quy định về cách ứng xử giữa con người với con người cùng một tổ tiên, trước hết là các công việc quan, tang, hôn, tế, tức là các quan hệ trên cơ sở huyết thống về các mặt. Quan hệ dòng họ với người Việt thực sự có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng ngày và có ý nghĩa là điểm tựa thường xuyên của cuộc sống con người [32, tr. Dựa trên những nghiên cứu kết hợp giữa xã hội học và sử học, hai nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn và Mai Văn Hai đã chỉ rõ vai trò của dòng họ trong cộng đồng làng xã với tư cách là một đơn vị kinh tế, một bộ phận của tổ chức quyền lực và quản lý làng xã, một thiết chế trong đời sống văn hóa tín ngưỡng [45].
Những năm gần đây, trong xu thế phục hưng, chấn hưng dòng họ, một số hội thảo khoa học được tổ chức nhằm thảo luận, trao đổi về vai trò, ảnh hưởng của dòng họ, văn hóa dòng họ trong đời sống xã hội hoặc lịch sử của một số dòng họ, gia đình… như Hội thảo “Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An trong sự nghiệp thực hiện chiến lược con người ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, “Văn hóa dòng họ ở Thái Bình” [93]. Theo hướng đó, đã xuất hiện một số luận án, luận văn viết về một hoặc nhiều dòng họ trong một làng, một tỉnh như Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ qua tư liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ) [98], Văn hóa dòng họ Nguyễn Quý ở làng Đại Mỗ (xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội [3], Dòng họ và quan hệ dòng họ của người Việt ở làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định [4]. Các công trình đã cho thấy thực trạng và xu hướng vận động, biến đổi của dòng họ, quan hệ dòng họ tại các địa phương khác nhau, từ đó bước đầu làm rõ vai trò của quan hệ dòng họ cả về mặt tích cực lẫn hạn chế, trong mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. 9 Tóm lại, vấn đề dòng họ và quan hệ dòng họ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ các góc độ tiếp cận khác nhau.
Trước hết, dòng họ người Việt là quan hệ huyết thống, có một mối quan hệ tín ngưỡng và kinh tế nhất định nhưng không cùng chung một ngôi nhà, không ăn chung một bếp và các gia đình duy trì quan hệ ngang nhau; Thứ hai, phần lớn các nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu cấu trúc và chức năng của dòng họ, nhất là dòng họ thuộc bên nội (phụ hệ); Thứ ba, nghiên cứu những yếu tố liên quan đến dòng họ quan hệ lãnh thổ, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ tín ngưỡng, thậm chí còn liên quan đến vấn đề văn hóa, khoa cử, quyền lực…; Thứ tư là, xu thế phục hưng dòng họ… Tuy nhiên chưa có nhiều công trình đi sâu phân tích sự tác động, ảnh hưởng của các nhân tố khách quan (địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế-xã hội, mặt bằng văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, sự cố kết dòng họ, dòng họ trong mối quan hệ với quyền lực…) đến quan hệ dòng họ cũng như sự phát triển, vai trò và vị trí của nó trong đời sống của cộng đồng cư dân, sự so sánh những nội dung đó giữa các dòng họ không chỉ trong cộng đồng người Việt mà giữa các tộc người trên phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần phải tiếp tục nghiên cứu dòng họ ở tất cả các chiều cạnh một cách có hệ thống và phải đặt dòng họ thành một trong những đối tượng chủ yếu để tìm hiểu một cách thấu đáo trong lĩnh vực dân tộc học/nhân học ở nông thôn nước ta trong bối cảnh phát triển và hội nhập là công việc cần thiết. Nghiên cứu về quan hệ dòng họ của các tộc người thiểu số ở Việt Nam và người Nùng Phàn Slình 1. Các công trình chuyên khảo về quan hệ dòng họ Trong số những công trình nghiên cứu về dòng họ của các dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc, phần lớn tập trung vào các dân tộc có số lượng cư dân lớn như Mường, Thái, Hmông, Tày,.