Đặt vấn đề Việt Nam là một trong 16 quốc gia sở hữu sự đa dạng sinh học cao nhất thế giới.000 loài đã được xác định trong đó có 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước, 10.500 động vật trên cạn, 2.000 loài động vật không xương sống và cá nước ngọt, cùng hơn 11.000 loài sinh vật biển. Tuy nhiên, Trong gần 20 năm trở lại đây, các khu vực có rừng là sinh cảnh bị ảnh hưởng nhiều nhất với hơn 10.544 km2 diện tích đất rừng đã bị mất, chủ yếu do chuyển đổi thành đất rừng trồng và đất trồng cây ăn quả. Khoảng 2,8 triệu ha rừng tự nhiên đã bị mất do chuyển đổi sang phát triển các loài cây trồng thương mại khác, đó cũng là một trong những nguyên nhân làm suy thoái đa dạng sinh học ở nước ta. Bình Phước là một tỉnh biên giới giáp với Campuchia gồm nhiều dân tộc sinh sống.
Đây cũng là địa phương có nhiều người dân sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, trong đó có rau rừng. Bên cạnh đó, những tri thức bản địa rất phong phú trong việc sử dụng tài nguyên rừng cũng là chủ đề hấp dẫn các nhà khoa học. Rau rừng là nguồn tài nguyên mà được người dân của nhiều dân tộc tại Bình Phước sử dụng ngày một nhiều hơn, nhiều loài trở thành đặc sản được nhiều người ưa chuộng như Sắng, Hoa chuối, Nhíp, Đọt mây,… Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn tài nguyên rau rừng ở địa phương nói riêng, và trên cả nước nói chung đang bị suy giảm nghiêm trọng ngoài lý do suy thoái đa dạng sinh học nói trên thì việc khai thác quá mức cũng sẽ làm rau rừng cũng không bị suy siảm nhanh hơn cả về số lượng và chất lượng. Khi các nguồn tài nguyên tự nhiên bị suy thoái, làm thay đổi nếp sống và thói quen sinh hoạt là một tất yêu.
Nguồn tài nguyên, tri thức bản địa, những kiẻn thức được tích luỹ và truyền lại bằng miệng mà không được ghi chép cũng dần mất đi. Đặc biệt là bà con sống quanh rừng chỉ biết khai thác rau rừng ngoài tự nhiên về sử dụng mà không có các biện pháp làm phát triển hơn nữa nguồn tài nguyên này. Bởi vậy, việc gìn giữ tài nguyên rừng và tri thức bản địa về chúng là rất cần thiết. Đồng thời, hướng tới mục tiêu chung đó là bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật nói chung và rau rừng nói riêng.
2 Xuất phát từ những lý do trên, Để góp phần gìn giữ và phát triên nguồn tri thức bản địa và tài nguyên rau rừng tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa của đồng bào S’Tiêng về sử dụng và phát triển thực vật ăn được làm thực phẩm tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước” 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Về khoa học, Luận văn đóng góp các tư liệu khoa học về hiện trạng phân bố các loài rau rừng và tri thức bản địa của người đồng bào S’Tiêng. Về thực tiễn, Luận văn cung cấp cơ sở khoa học cho Hạt Kiểm lâm Bù Đăng giám sát hỗ trợ công tác khai thác sử dụng bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rau rừng tại địa phương. Ngoài ra, cần phát triển, nhân rộng một số mô hình trồng rau rừng trong vườn nhà xen canh tăng thu nhập, trống hoang hóa đất.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Tài nguyên thực vật ở Việt Nam. Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.
Phần lãnh thổ đất liền của Việt Nam trải dài từ 80°30’đến 230°24’ vĩ Bắc, mang tính chất của một bán đảo với điểm cực Bắc là chòm Lũng Cú thuộc cao nguyên Đồng Văn, điểm cực Nam là xóm Rạch Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Các đảo của Việt Nam trải dài từ Trường Sa đến Vịnh Bắc Bộ, với những hệ sinh thái dặc thù như Phú Quốc, Côn Đảo, Hoàng Sa, Hạ Long, Bái Tử Long, v.v…Bắc Việt Nam, từ Đèo Hải Vân trở ra Bắc, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Nam Á: gió mùa đông bắc mang theo không khí lạnh từng đợt từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa đông nam đưa tới những đợt không khí nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10. Từ Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với hai mùa nắng mưa, đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, ở cả hai miền đều có những dãy núi cao, hình thành những hệ sinh thái khác biệt vùng thấp cùng vĩ độ.
Những đặc điểm khí hậu và địa hình đó đã tạo nên một Việt Nam giầu tính đa dạng sinh vật. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài cây, trong đó 7.000 loài đã được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng, phần lớn là các loài cây dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết có 113 loài cây cho chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm; 458 loài có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu. Việt Nam có khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới.
Có những loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992-1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới ở Bắc Trường Sơn: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng xoắn Tây nguyên. Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí, như Amomum longiligulara, Rauwolfia vomitoria, Tetrapanax papyrifera… Các nhà thực vật học đã xác định khoảng 40-50% 4 thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,… di cư đến. Sự phong phú về loài của thực vật rừng Việt Nam rất cao: nhiều họ có trên 100 loài, như Phong lan có 901 loài; Thầu dầu có 333 loài; Cà phê có 286 loài; Cánh bướm có 290 loài… Nhiều họ thực vật ôn đới cũng được thấy ở Việt Nam như Hồ Đào, Du, Liễu, Dẻ… Có tới 8 họ cây Lá kim với 18 chi, 39 loài, một số loài đặc hữu, một số loài hiếm như: Thông lá dẹt (Ducampopinus krempfi), Thông 5 lá (Pinus dalatensis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông đỏ (Taxus baccata).
Định nghĩa Lâm sản ngoài gỗ Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phân chia thành hai loại: - Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ; - Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ. Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng. “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” ( Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990).
Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định. Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product). Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non- wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ.
5 Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”. Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lich sinh thái. Theo định nghĩa này củi, than gỗ, cành ngọn, gốc cây không được coi là LSNG, không thỏa đáng đối với việc khai thác tận dụng phế liệu gỗ. Những dịch vụ trong rừng như săn bắn, giải trí, dưỡng bệnh trong rừng, du lịch sinh thái, v.v…là một phạm trù khác, không được xếp vào LSNG, nhưng trên quan điểm kinh tế cũng có nơi du lịch sinh thái cũng được coi như sản phẩm của rừng.
Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ LSNG. Với định nghĩa này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP vẫn được dùng.
Song có tác giả, để hạn chế đối tượng nghiên cứu, đánh giá giá trị kinh tế của LSNG, như Jenne H. De Beer thêm vào định nghĩa trên một mệnh đề, thành một định nghĩa khác như sau: “LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không phải gỗ được người ta khai thác từ rừng để sử dụng”. Có thể hiểu được rằng khái niệm hàm ý chỉ quan tâm đến sản phẩm được khai thác để dùng. Thuật ngữ “đặc sản rừng” còn hẹp hơn, và được hiểu là những cây, con LSNG có công dụng đặc biệt và đặc hữu của Việt Nam.
Vì khái niệm và định nghĩa LSNG có sự khác nhau như thế nên việc vận dụng vào thực tế cũng có sự khác nhau. Rau rừng là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các loài thực vật có thể sử dụng làm rau ăn hàng ngày. Rau rừng là một nhóm sản phẩm của lâm sản ngoài gỗ. Theo tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO) - 1999: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”.