mở đầu cho những nghiên cứu duy văn hóa về tính cách dân tộc J. Bromlej đƣa ra quan điểm, tính cách dân tộc là đối tƣợng đặc biệt của tâm lí học dân tộc. Tính cách cộng đồng dân tộc bao gồm những đặc điểm, thuộc tính mà nó phản ánh ở những phƣơng diện sau: Quan hệ chung nhất với thế giới xung quanh, với những sự kiện xã hội – chính trị; Quan hệ với lao động, với các hoạt động xã hội – lao động; Quan hệ với các dân tộc khác; Quan hệ của những thành viên cộng đồng dân tộc và những ngƣời đại diện cho dân tộc; Quan hệ với những hiện vật, đồ dùng hàng ngày [46. Ông nhấn mạnh các mối quan hệ đƣợc tính cách dân tộc phản ánh nhƣ là một yếu tố dẫn đến sự hình thành tính cách dân tộc, tuy nhiên tác giả chƣa hệ thống hóa lại để làm nổi bật các nét tính cách của dân tộc.
Nhƣ vậy, theo tác giả này thì tính cách dân tộc đƣợc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống con ngƣời, đây là cách tiếp cận khá gần gủi với tâm lý học dân tộc Năm 1942, nghiên cứu của G. Batason ủng hộ cho khuynh hƣớng nghiên cứu tính cách dân tộc theo phƣơng pháp tiếp cận liên ngành và thiết lập một khoa học về tính cách dân tộc [16. Công trình nghiên cứu này kết hợp với các công trình nghiên cứu của Morris Ginberg và Oa Klineberg nhằm xây dựng một phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành, khoa học và mới mẻ về tính cách dân tộc. Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại mang tính kinh nghiệm nhiều là xây dựng 8 một lý thuyết mang tính hàn lâm về lý luận liên quan đến tính cách dân tộc.
Hai tác giả là Erich Fromm và David Riesman ( 1941) đã đƣa ra mô hình về “tính cách xã hội”. Ở đây, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhân tố xã hội – lịch sử và vai trò của các nhân tố xã hội – kinh tế trong sự hình thành cá tính tập thể trong xã hội. Tính cách tập thể mà các tác giả này nói tới là biểu hiện quan trọng của tính cách dân tộc. Erich Fromm (1941) là ngƣời đã áp dụng khái niệm tính cách xã hội để chỉ đặc điểm tâm lý cơ bản của các cá nhân tham gia cùng một văn hóa.
Tác giả giải thích sự thống nhất của ý thức xã hội bằng tính cách xã hội: “Để đảm bảo sự vận hành suôn sẻ của một xã hội nhất định, các thành viên của nó phải đạt tới một kiểu tính cách khiến cho họ muốn hành động với tƣ cách là thành viên của xã hội ấy hay của giai cấp nhất định”. Theo nghĩa này, tác giả đã xem tính cách xã hội tạo ra một tập hợp những nét cá tính và những giá trị văn hóa, đƣợc thành viên của nhóm nhập tâm, mà tác giả chƣa tách rõ tính cách xã hội và tính cách dân tộc. David Riesman nhà nghiên cứu ngƣời Mỹ đã có cách tiếp cận xã hội – lịch sử về tính cách dân tộc Trong tác phẩm “Đám đông cô đơn” (1950), D.Riesman đã dùng thuật ngữ “tính cách dân tộc” để chỉ tất cả các thành tố của cá tính mà các cá nhân đạt tới nhờ quá trình tập luyện trong cuộc đời và đóng một vai trò quyết định trong sự duy trì các cấu trúc xã hội. Tác giả phân biệt ba kiểu tính cách xã hội chủ yếu, mỗi kiểu tính cách xã hội quy định một kiểu xã hội, một kiểu cá tính: cá tính truyền thống, cá tính hƣớng nội và cá tính hƣớng ngoại [78.
Nhƣ vậy, tác giả thông qua tính cách xã hội để đề cập đến tính cách dân tộc và chỉ ra vai trò của tính cách dân tộc quy định kiểu xã hội. Có thể nói tác giả đã nhấn mạnh vấn đề kiểu xã hội và kiểu cá tính khi đề cập đến tính cách dân tộc. Trƣờng phái nghiên cứu về những hình ảnh dân tộc và “khuôn mẫu dân tộc” có sự phát triển đáng kể vào những năm 1940, 1950 và 1960; Các tác giả thuộc trƣờng phái này cho rằng, các khuôn mẫu xã hội nhƣ những ý tƣởng nhận đƣợc từ các đối tƣợng xã hội, có xu hƣớng quyết định các thái độ hoàn toàn có sẵn hay trở thành khuôn mẫu, có liên quan đến các giai cấp xã hội, các đảng phái 9 chính trị, các nhóm dân tộc. Các khuôn mẫu dân tộc có ảnh hƣởng quyết định tới những liên hệ giữa các dân tộc và tới ứng xử của mỗi nhóm dân tộc [78.
Ở đây, tác giả đã đề cao khuôn mẫu dân tộc hơn là xác định giá trị hiện hữu của tính cách dân tộc đối với một tộc ngƣời hay một nhóm ngƣời. Các nhà tâm lí học xã hội học nghiên cứu tính cách dân tộc dƣới góc độ thống kê học. Họ đƣa ra giả thuyết có nhiều nét cá tính trong mỗi nhóm dân tộc, đối lập với quan niệm tổng thể của các nhà nhân học và phân tâm học duy văn hóa (quan niệm có cá tính chung cho tất cả các thành viên của nhóm dân tộc, có tính đặc thù của nó). Từ đó, họ đề xƣớng ra khái niệm “cá tính hợp nhất” – nhấn mạnh ý tƣởng liên kết của nhiều nét cá tính [78.
Các tác giả này hợp nhất hay liên kết các nét cá tính lại với nhau, tuy nhiên trong thực tế có nhiều nét tính cách có tính đặc trƣng đặc biệt khác nhau nên không thể quy chúng về một sự liên kết đơn điệu đƣợc V.Ladanov, trong tác phẩm Ngƣời Nhật (1985), đã nhận định tính cách dân tộc là một thực tại khách quan và nó bộc lộ dƣới dạng hệ tính đặc trƣng. Những đặc điểm của tính cách dân tộc đƣợc hai ông phân loại theo nguyên tắc “cộng đồng tộc ngƣời – nhóm ngƣời – cá nhân” [78. Các nhà tâm lí học xã hội học đƣa ra hai cách tiếp cận tính cách của một nhóm xã hội từ góc độ khách thể và góc độ chủ thể. Họ xây dựng hai mô hình phân tích thống kê học về tính cách dân tộc: Mô hình khách thể (cá tính mô thức) và mô hình chủ thể (những khuôn mẫu dân tộc).
Hai nhà tâm lí học xã hội là Alex Inkeles và Danial Levinson đã xây dựng mô hình khách thể và sử dụng khái niệm “cá tính mô thức” để nghiên cứu những biểu hiện khách thể của cá tính dân tộc. Họ cho rằng tính cách dân tộc là toàn bộ nét cá tính và những mô hình ứng xử tƣơng đối ổn định tạo thành các phƣơng thức trong cƣ dân ngƣời lớn của một xã hội và quan niệm mỗi dân tộc đều có nhiều nét cá tính đặc thù, nhƣng để phân biệt tính cách dân tộc giữa các xã hội phải đƣợc dựa vào phƣơng thức phân bố những nét cá tính căn bản. Nghiên cứu của các tác giả này đã mang lại một nền tảng tâm lí xã hội học cho sự xác định khái niệm cá tính 10 dân tộc và mở ra những triển vọng mới trong nghiên cứu tính cách dân tộc của các xã hội hiện đại ngày nay. Trƣờng phái này đƣa ra hai loại khuôn mẫu dân tộc là khuôn mẫu bên ngoài (nhìn nhận tính cách dân tộc từ bên ngoài) và khuôn mẫu bên trong (nhìn nhận tính cách dân tộc từ bên trong).
Các khuôn mẫu dân tộc là những biểu tƣợng tinh thần tập thể có quan hệ với các nhóm dân tộc, đƣợc diễn đạt bằng lời hoặc những xét đoán khuôn mẫu; Các tác giả đồng thời đặt ra những trình độ phân tích khác nhau đối với mô hình chủ thể về cá tính dân tộc, đƣa ra nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khuôn mẫu dân tộc. Đối với những khuôn mẫu tập thể lƣu hành trong các phƣơng tiện thông tin và truyền thông, họ sử dụng các phƣơng pháp phân tích về nội dung, còn đối với các khuôn mẫu cá nhân đƣợc các thành viên của nhóm lƣu hành và thể hiện thì họ sử dụng ba phƣơng pháp: phƣơng pháp danh mục về phẩm chất (D.Crown), phƣơng pháp đối chiếu (W.Cantrill) và phƣơng pháp các trƣờng ngữ nghĩa) (C. Những vấn đề bản sắc dân tộc, tính cách dân tộc cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà lí luận Mac xit.Kon cho rằng, nếu hiểutính cách dân tộc là một bản chất không thay đổi. Nó vốn sẵn trong tất cả mọi ngƣời của một dân tộc nhất định.
Bản chất ấy phân biệt họ với tất cả những nhóm tộc ngƣời khác và quyết định một cách kín đáo hành vi xã hội của họ, thì theo khoa học đó chỉ có trong huyền thoại. Tác giả đã phê phán cách nhìn nhận tính cách dân tộc nhƣ một cái gì đó bất biến, có sẵn. Nhƣ vậy, tác giả dã thừa nhận tính cách dân tộc không phải là một yếu tố tâm lý có sẵn nào của một dân tộc. Một nghiên cứu khác về tính cách dân tộc là nghiên cứu của X.Luree có quan điểm về vùng trung tâm của tinh thần dân tộc.
Điều này đã gây ra đƣợc sự chú ý và tạo ra tiền đề nghiên cứu liên ngành. Luree đề cập đến những vấn đề sau: – Định khu lòng tốt (Sự định vị nguồn gốc cái thiện). – Định khu ác độc (Sự định vị hình ảnh của cái ác – hình ảnh kẻ thù). 11 – Biểu tƣợng về cách thức hành động để lòng tốt chiến thắng độc ác [73.
Nhƣ vậy, phân tích trên cho thấy một số tác giả đồng nhất tính cách dân tộc với tính cách cá nhân dƣới sự phát triển nhân cách và các tác giả này đã chú trọng đến cách tiếp cận vấn đề trong nghiên cứu tính cách dân tộc. b) Những nghiên cứu về các điều kiện hình thành, các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành tính cách dân tộc Một số tác giả quan tâm đến môi trƣờng tự nhiên và xem đó là nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến quá trình hình thành tính cách dân tộc. Chẳng hạn, Herodot (khoảng 484 – 425 trƣớc Công nguyên) đƣợc coi là “ngƣời cha” của việc ghi chép sử học, dân tộc học. Ông đã giải thích những nét đặc trƣng văn hóa và tính cách của các dân tộc mà ông quan tâm bởi môi trƣờng tự nhiên xung quanh và so sánh giữa các dân tộc với nhau [73.
Tác giả chỉ quan tâm đến tính cách dân tộc gắn liền với môi trƣờng tự nhiên để từ đó so sánh giữa các dân tộc. Herodot chƣa thấy đƣợc có những tộc ngƣời cùng sống chung một môi trƣờng tự nhiên nhƣng tính cách dân tộc vẫn khác nhau. Hypocrate (460 – 377 trƣớc Công nguyên hoặc 356 trƣớc Công nguyên) đã cho rằng sự khác biệt về tâm lí giữa các dân tộc (hành vi, đạo lí, tập tục) đều có liên quan đến tự nhiên và khí hậu của từng nƣớc [46.