Tổng quan luận án
Truyện thơ là thể loại văn học có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam, xuất hiện ở cả văn học dân tộc Kinh và văn học các dân tộc thiểu số, tiêu biểu là dân tộc Thái. Dân tộc Thái có số dân đông thứ ba trong số các dân tộc sinh sống tại miền núi, sở hữu bề dày văn hóa và hệ thống chữ viết riêng từ sớm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về văn học Thái phần lớn tập trung vào một số tác phẩm quen thuộc như Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao), Khun Lú - Náng Ủa, hay các bản trường ca lịch sử như Chương Han, Quam tô mương. Trong khi đó, nhiều truyện thơ Thái có giá trị nghệ thuật và nội dung phong phú như Ngu háu, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Trạng nguyên, Trạng Tư chưa được khai thác, nghiên cứu đầy đủ.
Mặt khác, trong nền văn học trung đại của người Kinh, truyện thơ Nôm giữ vai trò trụ cột. Giữa truyện thơ Nôm và truyện thơ Thái tồn tại sự tương đồng về hạt nhân tự sự (cốt truyện) và hình thức biểu hiện trữ tình (thơ), cùng chia sẻ một số đề tài và mô típ truyện kể. Mặc dù vậy, mối quan hệ tương tác, điểm tương đồng và khác biệt giữa các truyện thơ Thái có cùng đề tài với truyện thơ Nôm Kinh vẫn là một khoảng trống học thuật chưa được khảo sát có hệ thống. Việc nghiên cứu so sánh các tác phẩm này xuất phát từ nhu cầu làm rõ diện mạo văn học dân tộc Thái, đồng thời phục vụ công tác giảng dạy văn học địa phương tại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và phổ thông ở khu vực miền núi phía Bắc.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là khảo sát toàn diện, có hệ thống các phương diện nội dung và nghệ thuật của nhóm truyện thơ dân tộc Thái có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh; từ đó xác định dấu ấn tư tưởng, thành tựu thẩm mỹ riêng của truyện thơ Thái và lý giải bản chất của mối giao lưu, tương tác văn học giữa hai dân tộc.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến thể loại truyện thơ, đặc điểm lịch sử văn hóa tộc người và hiện trạng truyện thơ dân tộc Thái.
- Khảo sát, phân tích giá trị nội dung và đặc điểm nghệ thuật của 5 tác phẩm truyện thơ dân tộc Thái được lựa chọn.
- Tiến hành so sánh, đối chiếu và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng cũng như khác biệt giữa 5 truyện thơ Thái với các truyện thơ Nôm dân tộc Kinh tương ứng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 5 truyện thơ dân tộc Thái: Trạng Tư, Trạng nguyên, Ý Nọi - Náng Xưa, Ngu háu, Ú Thêm. Các tác phẩm này được đặt trong tương quan so sánh với 5 truyện thơ Nôm dân tộc Kinh tương ứng là: Hoàng Trừu, Tống Trân - Cúc Hoa, Cái Tấm - Cái Cám, Thạch Sanh, Truyện Từ Thức.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tập trung khảo sát tư liệu văn bản tại khu vực cư trú của đồng bào Thái ở miền núi phía Bắc Việt Nam, trọng tâm là vùng Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình) và các khu vực lân cận như Thanh Hóa, Nghệ An; đối sánh với các văn bản truyện Nôm của người Kinh tại vùng đồng bằng.
- Thời gian: Khảo sát các sáng tác ra đời và lưu hành từ giai đoạn văn học trung đại đến đầu thế kỷ XX (thời kỳ truyện thơ Nôm và truyện thơ Thái phát triển mạnh mẽ; bản chép tác phẩm Trạng nguyên ghi niên hiệu Khải Định năm thứ 2, tức năm 1917).
- Giới hạn nội dung: Luận án không bao quát toàn bộ kho tàng truyện thơ của dân tộc Thái và không mở rộng ra toàn bộ truyện thơ các dân tộc thiểu số khác, mà giới hạn chặt chẽ ở 5 truyện thơ Thái có quan hệ đề tài với 5 truyện Nôm của người Kinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án tập trung vào hai vấn đề học thuật chính: vị trí thể loại của truyện thơ dân tộc thiểu số (trong đó có truyện thơ Thái) và mối tương tác giữa truyện thơ Nôm người Kinh với truyện thơ các dân tộc thiểu số.
Về vị trí và bản chất thể loại của truyện thơ, giới nghiên cứu tồn tại những quan điểm khác nhau:
- Nhóm ý kiến xếp truyện thơ vào văn học dân gian: Vũ Anh Tuấn khẳng định truyện thơ thuộc văn học dân gian, có cốt truyện mô phỏng theo truyện cổ tích và là phương thức tự sự bằng văn vần trước đòi hỏi đổi mới nghệ thuật ngữ văn dân gian. Đinh Gia Khánh định nghĩa truyện thơ là "truyện dài bằng thơ", nhấn mạnh tính tự sự kết hợp với ngôn ngữ thơ giàu nhịp điệu. Võ Quang Nhơn coi sự ra đời hàng loạt truyện dài bằng thơ là một hiện tượng phổ biến và nổi bật của văn học các dân tộc thiểu số.
- Nhóm ý kiến xem truyện thơ là giai đoạn trung gian chuyển tiếp: Vũ Tiến Quỳnh nhận định truyện thơ là "dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn". Đặng Nghiêm Vạn khi giới thiệu tác phẩm Ú Thêm cũng nhấn mạnh truyện thơ là loại hình chuyển tiếp, không dừng lại ở phạm trù dân gian mà đã bước sang phạm trù bác học. Nhà nghiên cứu N. Nikulin định danh truyện thơ là trường ca tự sự, bắt nguồn từ dân gian nhưng tạo thành bộ phận đặc biệt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam.
- Nhóm ý kiến xếp truyện thơ vào văn học viết: Cầm Cường quan niệm truyện thơ Thái là "tiểu thuyết bằng thơ" và là sự nở rộ của dòng văn học thành văn, bởi tác phẩm được ghi chép và lưu giữ bằng chữ viết riêng của dân tộc Thái. Nông Quốc Chấn cũng xếp truyện thơ Tày - Nùng vào nền văn học cổ điển.
Về đề tài, kết cấu và thi pháp truyện thơ: Hà Văn Thư, Hoàng Tiến Tựu và Phan Đăng Nhật đều thống nhất rằng truyện thơ có ba đề tài chủ yếu là tình yêu lứa đôi chung thủy, xung đột gia đình và tố cáo xã hội ngột ngạt, bất công; đồng thời nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ và sự miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Năm 1997, Lê Trường Phát khảo sát mô hình cốt truyện của 20 truyện thơ các dân tộc thiểu số và đưa ra kết luận kiểu kết thúc bi kịch là phổ biến nhất, theo mô hình: Gặp gỡ và yêu nhau -> Bị ngăn trở rẽ duyên -> Một hoặc cả hai đều chết. Tác giả lập bảng thống kê tỷ lệ kết thúc bi kịch so với kết thúc có hậu như sau:
| Dân tộc |
Số lượng tác phẩm thể hiện đề tài tình yêu (đến năm 1997) |
Tỷ lệ kiểu kết thúc: Bi kịch / Có hậu |
| Thái |
4 |
3/1 |
| Tày - Nùng |
7 |
2/5 |
| Mường |
4 |
4/0 |
| H'mông |
3 |
2/1 |
| Chăm |
2 |
2/0 |
| Tổng cộng |
20 |
13/7 |
Lê Trường Phát giải thích rằng ở truyện thơ Tày - Nùng, kết thúc có hậu chiếm ưu thế do có sự tham gia sáng tác của các nho sĩ miền xuôi mang theo ảnh hưởng truyện Nôm; trong khi ở dân tộc Thái và Mường, tác giả chủ yếu là người bản địa nên dấu ấn Nho giáo mờ nhạt và kết thúc bi kịch chiếm ưu thế. Tuy nhiên, luận án chỉ ra rằng do hạn chế tư liệu tại thời điểm năm 1997, nhận định này chưa bao quát hết thực tế; hiện nay nhiều văn bản truyện thơ Thái được phát hiện có kết thúc có hậu và mang tên gọi tương tự truyện Nôm Kinh như Quám Mai công (Nhị độ mai), Tống Trân - Cúc Hoa, Trạng Tư (Hoàng Trừu), Quám Thư Kiêu (Truyện Kiều).
Về mối tương tác giữa truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm Kinh: Kiều Thu Hoạch nhận định có sự tương đồng về mở đầu, kết thúc, ngôn ngữ pha tạp và cho rằng truyện Nôm của người Việt xâm nhập một chiều vào truyện thơ Tày, Nùng, Thái. Ngược lại, Đinh Gia Khánh phân vân giữa hai giả thiết: hoặc các trí thức bản địa tiếp thu truyện Nôm để sáng tác mang phong cách cá nhân, hoặc truyện thơ dân tộc thiểu số chỉ là bản dịch, sao chép từ truyện Nôm người Kinh. Lê Trường Phát cho rằng các cặp tác phẩm tương ứng là những "cặp bài trùng", không đơn thuần là dịch phẩm mà có khoảng cách xa về tình tiết và tính dân tộc. Thêm vào đó, công trình Kinh tộc văn học sử của Tô Duy Quang, Quá Vĩ, Vi Kiên Bình (sưu tầm lời kể của các nghệ nhân người Kinh tại Quảng Tây năm 1980 như Nguyễn Kế Tự, Phạm Trọng Phương, Tô Tích Quyền) ghi nhận cốt truyện Tống Trân - Trần Cúc Hoa, chứng minh hiện tượng giao lưu văn hóa diễn ra từ sớm trong quá trình thiên di.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Trước đây, các công trình chủ yếu dừng lại ở những nhận định tổng quan, phán đoán tản mạn hoặc thiếu cứ liệu văn bản đối chiếu cụ thể. Chưa có công trình nào khảo sát tỉ mỉ, công phu từng văn bản chữ Thái cổ để trả lời dứt khoát câu hỏi: truyện thơ Thái là bản dịch, sao chép nguyên xi hay là sự sáng tác độc lập, tiếp thu có biến đổi từ truyện thơ Nôm dân tộc Kinh. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này thông qua việc phân tích trực tiếp văn bản dịch thuật kết hợp so sánh loại hình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các khái niệm và khung lý thuyết thuộc thi pháp học, tự sự học, văn học dân gian và văn học so sánh:
- Khái niệm truyện thơ: Xác định truyện thơ là sáng tác tự sự dưới hình thức thơ ca trường thiên, kết hợp hai yếu tố hạt nhân là cốt truyện (phản ánh hiện thực khách quan thông qua hệ thống biến cố, hành vi nhân vật) và thơ (phương thức trữ tình bộc lộ trực tiếp cảm xúc, thế giới nội tâm). Truyện thơ nằm ở vị trí trung gian giữa văn học dân gian và văn học thành văn.
- Khái niệm đề tài và cốt truyện: Vận dụng định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi), đề tài là phạm vi hiện thực đời sống được miêu tả trực tiếp trong tác phẩm. Cốt truyện là hệ thống các biến cố được tổ chức theo quy luật nghệ thuật, vận động qua các giai đoạn: trình bày, khai đoan (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút). Cốt truyện truyện thơ chủ yếu vận động theo trật tự thời gian tuyến tính.
- Khung phân tích kết cấu: Khảo sát hai dạng thức kết cấu chính trong truyện thơ Thái: kết cấu ba chặng kinh điển (gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ) chịu ảnh hưởng của thi pháp truyện cổ tích (theo mô hình nghiên cứu của V. Propp và Lê Trường Phát), và kết cấu xâu chuỗi, lắp ghép (các tình tiết, biến cố độc lập được liên kết qua một nhân vật trung tâm). Phân tích không gian nghệ thuật đa tầng gồm ba cõi: Mường trời, Mường quỷ và Mường trần gian.
Bốn phương pháp nghiên cứu chính được triển khai trong luận án gồm:
- Phương pháp hệ thống: Đặt từng chi tiết, hình tượng nhân vật và biến cố cốt truyện trong mối liên hệ hữu cơ của chỉnh thể tác phẩm, của nhóm truyện và của toàn bộ hệ thống thể loại truyện thơ.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp phương pháp phân tích tác phẩm văn học viết với phương pháp nghiên cứu văn học dân gian (folklore), đồng thời sử dụng phối hợp góc nhìn văn hóa học - văn học để làm sáng tỏ bối cảnh giao lưu tộc người.
- Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại và lịch sử giữa 5 truyện thơ Thái và 5 truyện thơ Nôm Kinh về đề tài, kết cấu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ, nhằm chỉ ra các điểm tương đồng loại hình và những biến đổi mang sắc thái bản địa.
- Phương pháp loại hình: Khám phá các quy luật phát triển chung và riêng của thể loại truyện thơ ở các dân tộc có sự gần gũi về địa bàn cư trú và lịch sử tiếp xúc văn hóa.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án:
- Hệ thống văn bản truyện thơ Thái:
- Tác phẩm Ngu háu (trích Trường ca dân tộc Thái, Lương Hải Nhì - Ngô Thị Phượng dịch và biên soạn, 2009; bản viết tay cổ tại Thư viện tỉnh Sơn La gồm 515 câu thơ).
- Tác phẩm Trạng nguyên (trích Trường ca dân tộc Thái, Lương Hải Nhì - Ngô Thị Phượng - Cầm Thị Pánh dịch và biên soạn, 2010; văn bản cổ có ghi niên hiệu Khải Định 2 - năm 1917 tại Thư viện tỉnh Sơn La).
- Tác phẩm Trạng Tư (trích Trường ca dân tộc Thái, Lương Hải Nhì - Ngô Thị Phượng dịch và biên soạn, 2009; dịch từ văn bản cổ tại Thư viện tỉnh Sơn La).
- Tác phẩm Ú Thêm (Hà Văn Ban - Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990).
- Tác phẩm Ý Nọi - Náng Xưa (Lò Ngọc Duyên dịch và biên soạn, 1999).
- Hệ thống văn bản truyện thơ Nôm dân tộc Kinh dùng đối sánh:
- Thạch Sanh (Huỳnh Lý - Nguyễn Xuân Lân hiệu đính, chú thích, Nxb Văn học, Hà Nội, 1971; gồm 1812 dòng thơ lục bát).
- Tống Trân - Cúc Hoa (Nxb Phổ thông, Hà Nội, 1960).
- Hoàng Trừu (Nxb Văn học, Hà Nội, 1964).
- Truyện Từ Thức (in trong Kho tàng truyện Nôm khuyết danh Việt Nam, tập 1, Bùi Văn Vượng chủ biên, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000).
- Cái Tấm - Cái Cám (in trong Kho tàng truyện Nôm khuyết danh Việt Nam, tập 1, Bùi Văn Vượng chủ biên, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000; văn bản gồm 568 câu lục bát).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về truyện thơ dân tộc Thái có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh
Chương 1 thiết lập cơ sở lý luận và khảo sát bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn tự của tộc người Thái trong tương quan với truyện thơ Nôm người Kinh.
Về bối cảnh lịch sử - xã hội: Tộc người Thái vận hành dưới chế độ phong kiến phìa tạo. Đứng đầu bản mường là các chúa đất an nha, phìa, tạo với bộ máy quan lại giúp việc gồm sen, pằn, cha hươn, ông mo, ông nghe, ông chang. Hệ thống này bóc lột nặng nề tầng lớp nô tỳ cuông nhốc (người Thái và người Xá). Về hôn nhân, xã hội Thái tồn tại sự chuyển giao từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang phụ quyền, duy trì luật tục kết hôn môn đăng hộ đối và tục ở rể (ở quản). Về tín ngưỡng, người Thái theo quan niệm đa thần và Saman giáo, gắn vương quyền của an nha với dòng dõi Then Luông (nhà trời); quan niệm con người có ba loại hồn (khuôn), sau khi chết chia thành ma an nha, ma phìa tạo và ma bình dân. Các mâu thuẫn xã hội và phong trào khởi nghĩa cuối thời phong kiến đã thúc đẩy nhu cầu dân chủ hóa, tạo tiền đề cho sự phát triển của truyện thơ.
Về văn tự: Dân tộc Thái là một trong 7 dân tộc có chữ viết cổ tại Việt Nam (bên cạnh Khơme, Chăm, Lào, Tày, Nùng, Dao). Văn tự Thái có nguồn gốc từ chữ Phạn (Ấn Độ), xuất hiện khoảng từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV (gắn với huyền tích Tạo Xuông, Tạo Ngần ở Mường Lò và sự kiện An nha Lò Lẹt ở Mường Muổi làm quan Xenxa tại Lào học chữ mang về). Chữ Thái cổ có 7 biến thể địa phương (như chữ Thái Đen, Thái Trắng ở Mường Lay, Mường So, Mường Sang, Mường Tấc, Quỳ Châu, miền Tây Nghệ An), ghi âm tiết, viết bằng bút nhọn trên giấy dướng hoặc lá cọ, không có dấu thanh. Chữ viết là công cụ quyết định giúp truyện thơ Thái chuyển từ truyền miệng sang văn học thành văn.
Về hiện trạng tư liệu: Thư viện tỉnh Sơn La hiện lưu giữ khoảng 300 tác phẩm truyện thơ viết bằng chữ Thái cổ, nhưng mới chỉ có 6 tác phẩm được dịch và xuất bản bằng chữ quốc ngữ (Xống chụ xon xao, Khun Lú - Náng Ủa, Chương Han, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Khăm Phanh); 294 tác phẩm còn lại chưa được dịch thuật. Truyện thơ Thái gắn liền với điệu hát thơ (khắp xư), song các văn bản như Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu chỉ tồn tại dưới dạng văn bản viết tay chứ không diễn xướng.
Về phương thức tương tác văn học giữa hai dân tộc: Luận án phân định 3 cấp độ vận động:
- Tiếp nhận đề tài mang tính chất phổ biến toàn thế giới: Cặp truyện Ý Nọi - Náng Xưa và Cái Tấm - Cái Cám (kiểu truyện Tấm Cám); cặp truyện Ngu háu và Thạch Sanh (kiểu truyện diệt chằn tinh, cứu người đẹp).
- Tiếp thu trực tiếp cốt truyện từ truyện thơ Nôm Kinh: Người Thái tiếp nhận văn học Kinh vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX khi sự giao lưu với Phật giáo Lào và Thái Lan giảm dần. Tác giả Thái bám sát cốt truyện của người Kinh nhưng bản địa hóa bối cảnh và tư tưởng (Trạng nguyên dựa trên Tống Trân - Cúc Hoa; Trạng Tư dựa trên Hoàng Trừu).
- Tiếp thu mô típ chung để xây dựng cốt truyện độc lập: Cặp truyện Ú Thêm và Truyện Từ Thức cùng chia sẻ mô típ lạc vào cõi tiên nhưng phát triển tình tiết và kết cục hoàn toàn khác nhau.
So sánh cụ thể cặp tác phẩm Thạch Sanh và Ngu háu:
- Thạch Sanh (Kinh): Dài 1812 dòng lục bát, kết cấu 3 phần gồm 24 sự kiện chính. Thạch Sanh có lai lịch siêu nhiên (Thái tử đầu thai), chiến thắng nhờ các bảo bối thần kỳ (đàn thần, niêu cơm thần) và sự trợ giúp của Tiên ông.
- Ngu háu (Thái): Dài 515 câu thơ, kết cấu 3 phần gồm 19 sự kiện chính. Nhân vật Lưu Vĩnh có xuất thân thường dân nghèo khó, tài năng võ nghệ và phép thuật đạt được nhờ sự rèn luyện kiên trì và sự kèm cặp trực tiếp của người cha chứ không do thế lực siêu nhiên ban tặng. Tác phẩm xuất hiện mô típ mãng xà dọa dâng nước lật ván ngăn sông Đà, sông Thao, phản ánh dấu ấn trị thủy gần gũi với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh.
Chương 2: Nội dung của một số truyện thơ dân tộc Thái cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống chủ đề và nội dung tư tưởng của các truyện thơ Thái trong thế đối sánh với truyện thơ Nôm Kinh, thể hiện qua năm phương diện:
-
Khát vọng chinh phục tự nhiên:
Truyện thơ Thái phản ánh cuộc đấu tranh sinh tồn quyết liệt giữa con người và thiên nhiên vùng rừng núi Tây Bắc. Trong Ngu háu, quỷ mãng xà đe dọa gây nạn hồng thủy, làm ngập lụt bản mường; việc Lưu Vĩnh tiêu diệt mãng xà là biểu tượng cho nỗ lực chế ngự lũ lụt, bảo vệ nguồn nước và đất canh tác của cư dân nông nghiệp thung lũng. Khác với truyện Nôm người Kinh nơi yếu tố quái vật mang tính chất thử thách đạo đức cá nhân, ở truyện thơ Thái, hành vi diệt quái gắn liền với nhiệm vụ sinh tồn của toàn thể cộng đồng bản mường.
-
Khát vọng bảo vệ gia đình và xã hội:
Các tác phẩm tập trung phê phán sự áp chế của giai cấp thống trị phìa tạo và sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Trong Trạng nguyên và Trạng Tư, mâu thuẫn gia đình và định kiến môn đăng hộ đối bị công kích. Nhân vật vượt qua định kiến xã hội, bảo vệ đạo hiếu đối với cha mẹ và tình nghĩa vợ chồng son sắt. Khát vọng bảo vệ xã hội thể hiện qua việc lên án các hủ tục gả bán, thói tham lam của quan lại và sự khẳng định quyền sống, quyền tự do định đoạt hạnh phúc cá nhân.
-
Khát vọng con người lý tưởng và niềm tự hào dân tộc:
Hình tượng con người lý tưởng trong truyện thơ Thái (Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu) là sự dung hợp giữa vẻ đẹp đạo đức truyền thống bản tộc và mẫu hình trí thức Nho học thành đạt (thi đỗ trạng nguyên, thủ khoa). Tác phẩm thể hiện ý thức khẳng định phẩm giá: người miền núi không hề thua kém người miền xuôi về tài năng văn chương, mưu lược chính trị và năng lực quản lý quốc gia. Đây là biểu hiện của tâm thức tự hào tộc người khi tiếp xúc với nền văn hóa chiếm ưu thế.
-
Khát vọng "ở hiền gặp lành":
Chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân quả, các tác phẩm như Ý Nọi - Náng Xưa khẳng định chân lý cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Những nhân vật chịu nhiều đau khổ, bị hãm hại như Ý Nọi trải qua nhiều lần hóa thân để cuối cùng giành lại vị thế làm người và hưởng hạnh phúc trọn vẹn, trong khi kẻ thủ ác phải nhận sự trừng phạt thích đáng.
-
Khát vọng tâm linh:
Truyện thơ Thái phản ánh thế giới quan đa thần bản địa. Thế giới thực và thế giới siêu nhiên đan xen mật thiết; các nghi lễ cúng vía, gọi hồn, tạ ơn thần linh sau khi vượt qua hoạn nạn (như lễ gọi hồn cho công chúa trong Ngu háu) được miêu tả chi tiết, phản ánh đậm nét tập tục sinh hoạt tâm linh của người Thái.
Chương 3: Nghệ thuật của một số truyện thơ dân tộc Thái cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh
Chương 3 phân tích thi pháp và cấu trúc hình thức của truyện thơ Thái qua các bình diện: kết cấu, mô típ, nhân vật, ngôn ngữ và thủ pháp nghệ thuật, dựa trên hệ thống số liệu khảo sát cụ thể.
Về kết cấu và tổ chức cốt truyện:
- Truyện thơ Thái kết hợp giữa kết cấu tuyến tính 3 giai đoạn (gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ) của truyện Nôm với kiểu kết cấu xâu chuỗi, lắp ghép của truyện tự sự dân gian. Các biến cố không chỉ tuân theo nhân quả một chiều mà mở rộng ra nhiều không gian khác nhau (mặt đất, lòng sông, cõi trời).
- Hệ thống mô típ: Khảo sát các mô típ quen thuộc như mô típ tái sinh, mô típ thi cử đỗ đạt, mô típ thử thách lòng chung thủy và mô típ người mang lốt xấu xí. Các mô típ này khi vào văn bản Thái được tái cấu trúc cho phù hợp với phong tục địa phương.
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật:
Luận án tiến hành thống kê số lượng và cơ cấu nhân vật trong các tác phẩm khảo sát qua các bảng số liệu cụ thể:
- Bảng 3.1: Số lượng nhân vật trong truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm.
- Bảng 3.2: Số lượng nhân vật chính.
- Bảng 3.3: Số lượng nhân vật phụ.
- Bảng 3.4: Tên nhân vật phụ.
Qua khảo sát, hệ thống nhân vật được phân chia thành: nhân vật chính diện (đại diện cho đạo đức, công lý, tài năng) và nhân vật phản diện (đại diện cho thế lực phong kiến bạo tàn, kẻ gian trá). So với truyện Nôm Kinh vốn chú trọng khắc họa tâm lý qua độc thoại nội tâm theo quy phạm văn học viết, nhân vật trong truyện thơ Thái mang tính cách mộc mạc, hành động dứt khoát và gắn bó mật thiết với môi trường sinh hoạt nương rẫy, bản mường.
Về nghệ thuật ngôn ngữ:
Đặc điểm ngôn từ được lượng hóa qua các bảng khảo sát chuyên biệt:
- Bảng 3.5: Ngôn ngữ nhân vật trong truyện thơ Thái.
- Bảng 3.6: Ngôn ngữ nhân vật trong truyện thơ Nôm.
- Bảng 3.7: Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại trong truyện thơ Thái.
Kết quả phân tích cho thấy:
- Thể thơ và nhịp điệu: Truyện thơ Nôm người Kinh sử dụng thể thơ lục bát với quy tắc phối thanh, hiệp vần chặt chẽ. Ngược lại, truyện thơ Thái sử dụng thể thơ tự do, số chữ trong câu linh hoạt dài ngắn xen kẽ, vần điệu bắt chéo theo âm hưởng các điệu khắp (hát dân gian).
- Tỷ lệ đối thoại và độc thoại: Truyện thơ Thái thiên về ngôn ngữ đối thoại trực tiếp giữa các nhân vật và ngôn ngữ dẫn chuyện mang tính diễn xướng; tỷ lệ độc thoại nội tâm thấp hơn so với truyện thơ Nôm bác học của người Kinh.
- Hình ảnh nghệ thuật: Tác giả Thái sử dụng hệ thống so sánh, ẩn dụ lấy trực tiếp từ thiên nhiên núi rừng (con suối, ngọn núi, cây tre, con trâu, hạt lúa) tạo nên cách diễn đạt cụ thể, giàu tính trực quan cảm tính.
- Màu sắc sử thi: Nhiều đoạn văn miêu tả chiến trận, hành động cứu nạn mang âm hưởng hào hùng, kế thừa phong cách miêu tả từ các thiên sử thi anh hùng ca cổ truyền (Chương Han).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu 5 đóng góp mới về mặt khoa học và tư liệu:
- Đưa ra cái nhìn tổng quan, hệ thống về 5 tác phẩm truyện thơ dân tộc Thái có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh, bổ sung một mảng tư liệu chưa được nghiên cứu thấu đáo.
- Khảo sát, phân tích có căn cứ khoa học để phác thảo diện mạo, quy luật vận động của truyện thơ dân tộc Thái trong mối tương tác loại hình với văn học người Kinh.
- Đánh giá toàn diện các giá trị nội dung tư tưởng (khát vọng tự do, khát vọng chinh phục tự nhiên, bảo vệ gia đình, niềm tự hào dân tộc) và đặc trưng nghệ thuật (kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ) của nhóm truyện thơ khảo sát.
- Xác lập các điểm tương đồng và dị biệt cụ thể giữa truyện thơ Thái và truyện thơ Nôm Kinh; chứng minh quá trình tiếp nhận của tác giả Thái mang tính chủ động, tái sáng tạo chứ không dừng lại ở việc phiên dịch hay sao chép nguyên xi.
- Phát hiện, dịch thuật và công bố tư liệu của 3 văn bản truyện thơ cổ lưu trữ tại Thư viện tỉnh Sơn La gồm Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu (do nghiên cứu sinh cùng các cộng sự Lương Hải Nhì, Cầm Thị Pánh thực hiện).
Về giải pháp và kiến nghị thực tiễn:
- Đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa và viện nghiên cứu cần có chương trình đầu tư kinh phí, tổ chức lực lượng chuyên môn phối hợp với trí thức người Thái bản địa để khẩn trương bảo tồn, dịch thuật và công bố 294 tác phẩm truyện thơ chữ Thái cổ còn lại tại Thư viện tỉnh Sơn La trước nguy cơ mục nát, thất truyền.
- Đưa các tác phẩm truyện thơ Thái đã được dịch thuật và nghiên cứu vào chương trình giảng dạy phần văn học địa phương tại các trường phổ thông, trường cao đẳng và đại học ở khu vực miền núi phía Bắc, nhằm giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nguồn tư liệu văn bản chữ Thái cổ vô cùng phong phú (khoảng 300 tác phẩm riêng tại Sơn La) nhưng hầu hết chưa được dịch thuật và giới thiệu bằng chữ quốc ngữ. Do điều kiện kinh phí tự túc và thời gian có hạn, luận án mới chỉ tiến hành dịch và khảo sát sâu được 3 văn bản cổ (Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu) cùng 2 văn bản đã in (Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm).
- Luận án chưa thể mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ kho tàng truyện thơ chữ Thái cổ, cũng như chưa tiến hành so sánh đối chiếu diện rộng với hệ thống truyện thơ của toàn bộ các dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và chú giải 294 văn bản truyện thơ Thái cổ còn lại ở Thư viện tỉnh Sơn La cùng các bản chép tay còn lưu lạc trong nhân dân.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đa chiều giữa truyện thơ Thái với truyện thơ của các tộc người có quan hệ ngôn ngữ - văn hóa láng giềng như người Lào, người Choang (Quảng Tây, Trung Quốc), và hệ thống truyện thơ Nôm của người Kinh ở các giai đoạn văn học khác nhau.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học dân gian, Văn học so sánh và Văn hóa học: Luận án cung cấp khung phương pháp luận về nghiên cứu liên ngành giữa folklore và văn học viết, cùng các thao tác so sánh loại hình văn học dân tộc thiểu số với văn học trung đại.
- Đối với giảng viên giảng dạy văn học tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Cung cấp tư liệu văn bản và kiến thức chuyên sâu để biên soạn giáo trình, bài giảng phần văn học các dân tộc thiểu số và văn học địa phương.
- Đối với các nhà quản lý văn hóa và nghiên cứu dân tộc học: Các thông tin về văn tự, bối cảnh phìa tạo và thực trạng lưu trữ văn bản cổ là cứ liệu quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Thái.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là nội dung dịch thuật 3 văn bản chữ Thái cổ (Trạng nguyên, Trạng Tư, Ngu háu) và hệ thống bảng thống kê định lượng về nhân vật, ngôn ngữ đối thoại - độc thoại ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn khảo sát những cặp tác phẩm truyện thơ Thái và truyện Nôm cụ thể nào?
Luận án tiến hành khảo sát và đối sánh 5 cặp tác phẩm cụ thể:
- Ngu háu (Thái) đối sánh với Thạch Sanh (Kinh)
- Ý Nọi - Náng Xưa (Thái) đối sánh với Cái Tấm - Cái Cám (Kinh)
- Ú Thêm (Thái) đối sánh với Truyện Từ Thức (Kinh)
- Trạng nguyên (Thái) đối sánh với Tống Trân - Cúc Hoa (Kinh)
- Trạng Tư (Thái) đối sánh với Hoàng Trừu (Kinh)
2. Thực trạng lưu trữ và dịch thuật truyện thơ chữ Thái cổ tại Thư viện tỉnh Sơn La được văn bản phản ánh ra sao?
Thư viện tỉnh Sơn La lưu trữ khoảng 300 tác phẩm truyện thơ viết bằng chữ Thái cổ trên giấy dướng. Trước khi luận án được thực hiện, mới chỉ có 6 tác phẩm được dịch sang tiếng Việt (Tiễn dặn người yêu, Khun Lú - Náng Ủa, Chương Han, Ý Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Khăm Phanh), còn lại 294 tác phẩm chưa từng được dịch thuật hay công bố. Để phục vụ nghiên cứu, tác giả luận án cùng các cộng sự người Thái đã tự dịch thêm 3 tác phẩm cổ: Trạng nguyên, Trạng Tư và Ngu háu.
3. Vì sao các tác giả Thái lại chuyển hướng tiếp nhận từ văn học phương Tây (Lào, Thái Lan) sang văn học người Kinh?
Theo lý giải trong luận án, trước đây người Thái có sự giao lưu văn hóa mạnh với Lào và Thái Lan. Tuy nhiên, khi Phật giáo trở thành quốc giáo tại Lào và Thái Lan, ngôn ngữ và văn hóa của các cộng đồng này mang đậm dấu ấn kinh Phật, trong khi người Thái ở Tây Bắc Việt Nam ít có điều kiện tiếp cận học vấn Phật giáo này. Trong bối cảnh cùng cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa người Kinh, các tác giả Thái từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đã chuyển mạnh sang tiếp thu các cốt truyện truyện thơ Nôm của người Kinh.
4. Nhân vật Lưu Vĩnh trong truyện thơ Ngu háu có điểm gì khác biệt căn bản so với nhân vật Thạch Sanh trong truyện Nôm người Kinh?
Thạch Sanh có xuất thân siêu nhiên (Thái tử nhà Trời đầu thai), sống mồ côi dưới gốc đa và lập chiến công nhờ sự trợ giúp của các yếu tố kỳ ảo (tiên ông dạy phép, đàn thần, niêu cơm thần). Ngược lại, Lưu Vĩnh trong Ngu háu có xuất thân thường dân nghèo khó, học giỏi đỗ thủ khoa; tài năng võ nghệ và phép thuật của chàng có được là nhờ quá trình khổ luyện bản thân dưới sự kèm cặp, dạy dỗ trực tiếp của người cha ruột, hoàn toàn không dựa dẫm vào thần linh bảo trợ.
5. Luận án đánh giá lại nhận định năm 1997 của Lê Trường Phát về kết thúc bi kịch trong truyện thơ Thái như thế nào?
Năm 1997, Lê Trường Phát nhận định truyện thơ Thái đa phần có kết thúc bi kịch (tỷ lệ 3 bi kịch / 1 có hậu) do trí thức bản địa sáng tác độc lập, không có sự tham gia của nho sĩ người Kinh như ở vùng Tày - Nùng. Luận án chỉ ra rằng kết luận trên bị giới hạn bởi số lượng tư liệu dịch thuật ít ỏi tại thời điểm đó. Thực tế khảo sát các văn bản chữ Thái cổ hiện nay cho thấy kho tàng truyện thơ Thái có rất nhiều tác phẩm mang kết thúc có hậu và chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng Nho giáo như Trạng nguyên, Trạng Tư, Quám Mai công, Quám Thư Kiêu.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt khảo sát 5 truyện thơ dân tộc Thái có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Thông qua việc dịch thuật và phân tích văn bản chữ Thái cổ, tác giả đã chứng minh quá trình người Thái tiếp thu văn học Kinh là sự tái sáng tạo nghệ thuật chủ động mang đậm sắc thái văn hóa bản địa, chứ không phải là sự sao chép cơ học. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vị thế của truyện thơ Thái như một thể loại thành văn đặc sắc, cung cấp tư liệu mới và phương pháp luận hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.