Mở đầu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục đích của đề tài, những mục tiêu mà luận văn hướng tới, phạm vi nghiên cứu, đặt ra câu hỏi nghiên cứu mà luận văn hướng đến giải quyết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài. Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ÂDYN nói riêng. Đồng thời, trình bày cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài, bao gồm: khái niệm ẩn dụ không theo lí thuyết tri nhận và ẩn dụ theo lí thuyết tri nhận; khái niệm và phân loại ; một số khái niệm có liên quan đến ÂDYN như ý niệm hóa, miền nguồn, miền đích, ánh xạ; TBVDTTT của đất, một số định nghĩa liên quan tới ý niệm “đất” trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 3 trình bày những phương pháp nghiên cứu luận văn đã sử dụng, công cụ nghiên cứu của luận văn, , các bước thu thập và phân tích dữ liệu, đồng thời trình bày độ tin cậy và tính giá trị của kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương này đi sâu miêu tả và phân tích các mẫu biểu thức ÂDYN của “đất” đã thu thập được trong các bài thơ tiếng Việt và tiếng Anh thế kỉ 20. Từ kết quả thu được, luận văn tiến hành so sánh đối chiếu chỉ ra nét tương đồng và khác biệt của ÂDYN về “đất” trong thơ tiếng Việt và tiếng Anh thế kỉ 20 trên các bình diện sự đa dạng và mức độ phổ biến của các ÂDYN của “đất”. Luận văn cũng trình bày một số nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau và khác biệt nhau sử dụng ÂDYN của “đất” ở hai ngôn ngữ.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 5 Chương này tóm tắt những kết quả đã bàn luận ở chương bốn. Đồng thời, trình bày một số hàm ý ứng dụng (implications) của đề tài vào thực tiễn dạy học ngoại ngữ có liên quan đến ÂDYN về “đất”. TÓM TẮT CHƯƠNG MỘT Chương một đã trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đặt ra các câu hỏi nghiên cứu mà luận văn tiến hành giải quyết. Bên cạnh đó, chương một cũng đã nêu ra ý nghĩa của luận văn về mặt lí luận và thực tiễn.
Trong chương tiếp theo, luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào việc trình bày tổng quan nghiên cứu đề tài ÂDYN của các tác giả trong và ngoài nước. Hơn nữa, một số lí thuyết thuộc cơ sở lí luận cũng sẽ được trình bày một cách trọng tậm, đầy đủ trong chương hai. 6 Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Nghiên cứu về đã thực sự thu hút được sự quan tâm rộng rãi từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là từ khi George Lakoff và Mark Johnson giới thiệu lý thuyết ÂDYN trong cuốn sách "Metaphors We Live By" (1980). Theo lý thuyết này, ẩn dụ không chỉ là phương tiện tu từ trong ngôn ngữ mà còn là cách con người tư duy và hiểu về thế giới.
Cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng lý thuyết ÂDYN vào phân tích văn học, trong đó có thơ. Các công trình nghiên cứu này đã đóng góp quan trọng vào việc áp dụng phương pháp phân tích ÂDYN vào các tác phẩm văn học, giúp làm sáng tỏ cách mà các nhà thơ, nhà văn sử dụng ẩn dụ để truyền tải những thông điệp sâu sắc. Chương này sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu đã có về ÂDYN. Ngoài ra, trong chương này, luận văn cũng sẽ giới thiệu cơ sở lý luận cho việc phân tích ÂDYN trong ngôn ngữ, chủ yếu dựa trên lý thuyết ÂDYN của Lakoff và Johnson.
Những cơ sở lý luận này sẽ là nền tảng cho việc khảo sát và phân tích các tác phẩm thơ trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá và so sánh về cách sử dụng ÂDYN của “đất” trong thơ tiếng Việt và tiếng Anh thế kỷ 20. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Năm 1980, hai tác giả Lakoff và Johnson đã thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học bằng cách đưa ra một cách tiếp cận mới đối với ẩn dụ thông qua cuốn sách “Metaphors We Live By”. Trong cuốn sách này, hai tác giả đã khẳng định “Ẩn dụ thâm nhập khắp trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn cả trong tư duy và hành động. Hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, thông qua đó chúng ta tư duy và hành động, về cơ bản là có tính ẩn dụ” (1980, tr.
Cách tiếp cận này đã nhận được nhiều sự đồng tình, ủng hộ từ các nhà ngôn ngữ học trên toàn thế giới.88) đã đánh giá đây là “cuốn Kinh thánh về phương pháp tiếp cận tri nhận đối với ẩn dụ, có giá trị tương tự như Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F. de Saussure trong lĩnh vực ngôn ngữ học”. 7 Lakoff và Johnson (2003) trong phiên bản mới của cuốn sách “Metaphors We Live By” đã chứng minh rằng các ẩn dụ không chỉ là một hình thức ngôn ngữ mà chúng tác động mạnh mẽ đến cách chúng ta suy nghĩ, hành động và đối nhân xử thế trong cuộc sống. Kovecses (2010) cho rằng, về bản chất, ÂDYN là cách hiểu miền ý niệm này thông miền ý niệm khác.
Trong đó, có một miền ý niệm được cộng đồng ngôn ngữ thụ đắc trước, giữ vai trò hỗ trợ trong việc tri nhận một miền ý niệm mới, gọi là miền nguồn, còn miền đích sẽ là miền được cấu trúc bởi miền nguồn. Việt Nam đã biết đến ÂDYN từ những nghiên cứu của các tác giả như Lakoff và Johnson (1980), hay Kovecses, Turner M, tuy nhiên, mãi đến gần đây lĩnh vực này mới được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu sâu rộng. Lý Toàn Thắng (2005) đã nêu rõ từ ý niệm hóa cho đến các quá trình ý niệm, các điển dạng và các phạm trù tri nhận. Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu về những sự khác biệt trong các mô hình ngôn ngữ về thế giới.
Ngô Tuyết Phượng (2007) đã khảo sát 18.598 đơn vị thành ngữ, tục ngữ, luận án thu được 760 biểu thức ẩn dụ là thành ngữ, tục ngữ. Thông qua việc nghiên cứu ngữ liệu cụ thể, luận án cho thấy có vô vàn mối liên tưởng sâu xa trong thế giới tư duy, trong kinh nghiệm và nhận thức về cuộc sống của dân gian đã được thể hiện qua các cảm xúc đa dạng của trí tưởng tượng, tạo ra những mối liên hệ đầy bất ngờ và thú vị giữa cuộc sống xã hội và thế giới con người trong các thành ngữ và tục ngữ. Trần Văn Cơ (2009) đã dựa trên cuốn sách “Metaphors we live by” của Lakoff và Johnson 1980 và một phần tác phẩm “Women, Fire, and Dangerous things” để trình bày một cách tường tận và toàn diện những vấn đề chính có liên quan đến ÂDYN. Tiếp theo đó là hàng loạt các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và bài báo khoa học cũng đã tiến hành nghiên cứu sâu rộng về ÂDYN, có thể kể đến như: Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009) đã quán triệt và hiện thực hoá tư tưởng chủ đạo của học thuyết về ẩn dụ tri nhận của Lakoff và Johnson, theo đó ẩn dụ không chỉ thuộc về ngôn ngữ, mà chủ yếu là cơ chế của tư duy, hành động và cảm xúc của con người.
8 Đinh Thị Vũ Trinh (2010) đã tập trung nghiên cứu từ vựng, thành ngữ, ca dao, tục ngữ và ca khúc Việt Nam xoay quanh 121 ý niệm thuộc miền ý niệm sông nước nhằm nghiên cứu ca từ dưới góc độ tri nhận luận. Phan Văn Hòa và Hồ Thị Quỳnh Như (2011) đã cho thấy ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH tồn tại ở cả tiếng Việt và tiếng Anh có một số điểm giống nhau và có rất nhiều điểm khác nhau trong cách thể hiện giữa tiếng Anh và tiếng Việt như công trình nghiên cứu đã cung cấp, nhưng vẫn chưa thể lí giải đầy đủ về những hiện tượng này. Nguyễn Thị Quyết (2012) đã phân tích các miền nguồn trong hai ngôn ngữ ánh xạ (mapping) sang miền đích là cuộc đời; nhận xét và đánh giá các biểu hiện đặc trưng, từ đó đưa ra các bình luận về quan điểm của người sử dụng ngôn ngữ ở hai cộng đồng Anh và Việt, đồng thời gợi ý những cách diễn đạt phù hợp với ngôn ngữ đích khi dịch. Vũ Đức Tồn và Vũ Thị Sao Chi (2013) đã bàn về mối quan hệ bộ ba giữa ẩn dụ tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ là mối quan hệ giữa cái phổ quát, cái phổ biến và cái đặc thù; là quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014) đã khảo sát biểu thức ÂDYN thuộc phân loại ẩn dụ định hướng “Buồn là hướng xuống” trong ca từ của Trịnh Công Sơn dưới góc độ ẩn dụ tri nhận. Lưu Quý Khương và Bạch Thị Thanh Phượng (2015) đã khảo sát ÂDYN cấu trúc (conceptual structural metaphor) của mùa xuân trên cứ liệu 500 mẫu được rút ra từ 100 bài thơ tiếng Anh và 150 bài thơ tiếng Việt đồng thời nêu ra sự giống và khác nhau của ẩn dụ này ở cả hai ngôn ngữ. Kết quả cho thấy, 9 ÂDYN cấu trúc của mùa xuân trong tiếng Anh và 12 ý niệm cấu trúc của mùa xuân trong tiếng Việt đã được tìm thấy. Phạm Thị Hương Quỳnh (2015) đã nghiên cứu ẩn dụ bản thể trong thơ tình của Xuân Quỳnh được thể hiện thông qua ÂDYN “Cơ thể là vật chứa cảm xúc”.
Trong đó, tác gỉa đã dẫn ra những biểu thức ÂDYN mà Xuân Quỳnh đã dùng “trái tim”, “bụng” như là vật chứa cảm xúc “vui”, “yêu”, “buồn”. 9 Phạm Huỳnh Phú Quý (2016) đã nghiên cứu biểu thức ÂDYN “Ý tưởng là thức ăn” được ý niệm hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt, qua đó chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa ÂDYN “Ý tưởng là thức ăn” trong hai ngôn ngữ này cũng như tìm ra nguyên nhân cho những điểm tương đồng và khác biệt đó. Trần Khánh Hà (2021) đã khảo sát 75 bài thơ tiêu biểu của hai tập thơ “Viên xúc xắc mùa thu” và “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến” của tác giả Hoàng Nhuận Cầm để phân tích, đánh giá những giá trị nội dung, nghệ thuật ẩn dụ tri nhận thơ Hoàng Nhuận Cầm. Huỳnh Ngọc Mai Kha (2022) đã khảo sát ẩn dụ trong thơ Tố Hữu, tác giả đã cung cấp thêm một hệ thống về các ý niệm CUỘC ĐỜI, ĐẤT NƯỚC, ĐỊA DANH, THIÊN NHIÊN từ lí thuyết tri nhận qua thơ của Tố Hữu.