Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dòng họ Nguyễn làng Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) là một trong những cự tộc văn hiến tiêu biểu trong lịch sử văn hóa Việt Nam, với hơn bốn thế kỷ hình thành và phát triển (kéo dài từ năm Tân Sửu 1601 khi Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm di cư vào đất Tiên Điền đến năm 1954 khi Tiến sĩ Nguyễn Mai qua đời). Dòng họ này không chỉ đạt nhiều đỉnh cao trên con đường khoa bảng, hoạn lộ dưới các triều đại phong kiến mà còn đóng góp to lớn vào tiến trình phát triển văn học dân tộc với đại diện xuất sắc là Đại thi hào Nguyễn Du.

Tuy nhiên, các công trình khảo cứu về dòng họ Nguyễn Tiên Điền trong lĩnh vực văn chương nhìn chung vẫn còn khoảng trống đáng kể. Đa số độc giả và giới nghiên cứu chủ yếu tiếp cận Nguyễn Du qua kiệt tác chữ Nôm Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều). Mảng di sản thơ chữ Hán của Nguyễn Du cùng các trước tác thi ca chữ Hán của anh ruột ông là Nguyễn Đề (Quế Hiên) và cháu ruột ông là Nguyễn Hành (Minh Quyên) vẫn chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu tương xứng, chủ yếu mới dừng lại ở công tác sưu tầm, phiên dịch văn bản và một số phác thảo sơ lược.

Bên cạnh đó, trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, mái che là hình ảnh gắn liền mật thiết với đời sống sinh tồn ("an cư lạc nghiệp") và thế giới tâm linh từ cõi sống đến cõi chết (nhà ở, cung điện, đình chùa, nhà trạm, nhà thuyền, mồ mả, lăng miếu). Trong thơ chữ Hán của ba tác giả họ Nguyễn Tiên Điền, các dạng thức mái che xuất hiện dày đặc, mang tính quan niệm nghệ thuật sâu sắc nhưng chưa có một công trình nào khảo sát hệ thống và chuyên biệt. Ngoài ra, việc giảng dạy thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền trong nhà trường phổ thông và đại học hiện còn nhiều bất cập (ở bậc phổ thông chỉ giảng dạy duy nhất bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du trong chương trình Ngữ văn 10; thơ Nguyễn Đề và Nguyễn Hành hầu như vắng bóng).

Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

  1. Làm rõ những nét đặc sắc, mới mẻ của hình ảnh mái che trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền qua ba tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đề, Nguyễn Du và Nguyễn Hành.
  2. Chỉ ra những điểm gặp gỡ và nét dị biệt làm nên dấu ấn cá nhân trong tư tưởng và phong cách nghệ thuật của từng nhà thơ.
  3. Gợi mở hướng tiếp cận và cung cấp tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập mảng thơ chữ Hán trung đại trong nhà trường phổ thông và đại học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Yếu tố không gian có mái che trong toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của ba tác giả Nguyễn Đề, Nguyễn Du và Nguyễn Hành.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trực tiếp 603 bài thơ chữ Hán gồm:
    • Tác giả Nguyễn Đề: 131 bài thơ trong ba tập Hoa trình tiêu khiển tiền tập, Hoa trình tiêu khiển hậu tập và Quế Hiên thi tập (trích từ Thơ Nguyễn Đề (tuyển), 2019, Lê Quang Trường chủ biên).
    • Tác giả Nguyễn Du: 250 bài thơ trong ba tập Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục (trích từ Nguyễn Du toàn tập, tập 1, 1996, Mai Quốc Liên chủ biên và Thơ chữ Hán Nguyễn Du, 2012, Lê Thước - Trương Chính biên soạn).
    • Tác giả Nguyễn Hành: 222 bài thơ trong hai tập Minh quyên thi tập và Quan Đông hải (trích từ Thơ Nguyễn Hành tuyển, 2015, Mai Quốc Liên chủ biên).
    • Phạm vi mở rộng: Liên hệ, đối sánh tổng quát với thơ văn chữ Hán giai đoạn trước, trong và sau thời đại Nguyễn Du.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng các lý thuyết văn học và liên ngành khoa học xã hội để giải quyết vấn đề:

  • Khung lý thuyết thi pháp học văn học: Vận dụng quan niệm về không gian nghệ thuật của Trần Đình Sử (Dẫn luận thi pháp học văn học, 2017) – xem không gian nghệ thuật được cấu thành từ cấu trúc và các biểu tượng mẫu gốc; kết hợp khái niệm "không gian có mái che" được định danh bởi Lê Thu Yến (Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, 1999). Mái che được nhìn nhận là một yếu tố không gian nghệ thuật mang tính quan niệm, có khả năng co giãn linh hoạt và phản ánh thế giới nội tâm của chủ thể sáng tạo.
  • Lý thuyết biểu tượng học và phân tâm học: Tiếp cận biểu tượng ngôi nhà và mái che như một mẫu gốc nguyên sơ (archetype) gắn liền với cấu trúc tâm thức con người (theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant).
  • Mô hình phân loại hệ thống mái che:
    • Mái che của người sống: Cung điện, lầu gác; nhà quan; nhà chùa; nhà trạm, nhà thuyền; nhà ở quê.
    • Mái che của người chết: Mồ mả (dành cho bậc hiền tài/anh hùng/nữ nhi tiết liệt; kẻ tiểu nhân; người vô danh); am miếu, đình đền.

Khóa luận sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thi pháp học văn học (phương pháp chủ đạo): Khảo sát cấu trúc không gian, phân tích mối quan hệ giữa yếu tố không gian có mái che và tâm trạng nhân vật trữ tình.
  • Phương pháp xã hội học văn học: Lý giải hiện thực lịch sử - xã hội Đàng Trong, Đàng Ngoài và phong trào Tây Sơn chi phối cảm thức sáng tác.
  • Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Kết nối cuộc đời, gia thế và biến cố hành trình của từng tác giả để soi sáng văn bản thơ.
  • Phương pháp so sánh văn học: Tìm kiếm các điểm đồng quy và nét phong cách riêng biệt giữa ba tác giả thuộc hai thế hệ trong một dòng họ.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tích hợp tri thức lịch sử, văn hóa học (văn hóa ứng xử, văn hóa tâm linh) và tôn giáo học (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo).
  • Thao tác bổ trợ: Thống kê, phân loại văn bản, phân tích và tổng hợp số liệu.

Nguồn ngữ liệu phục vụ nghiên cứu dựa trên các ấn bản văn bản Hán Nôm đáng tin cậy của Viện Văn học, Viện Hán Nôm cùng các công trình nghiên cứu gia phả dòng họ (Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Hoàng Lê nhất thống chí, Vũ trung tùy bút).


Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm phần Mở đầu (17 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (6 trang), Phụ lục thống kê (61 trang) và 3 chương nội dung chính:

Chương Tiêu đề Dung lượng Trọng tâm nghiên cứu
Chương 1 Những vấn đề chung 35 trang Thuật ngữ, bối cảnh lịch sử, dòng họ Nguyễn Tiên Điền, tiểu sử và diện mạo thơ chữ Hán 3 tác giả
Chương 2 Hình ảnh mái che của người sống trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền 42 trang Khảo sát 5 dạng thức mái che cõi dương: cung điện/lầu gác, nhà quan, nhà chùa, nhà trạm/nhà thuyền, nhà ở quê
Chương 3 Hình ảnh mái che của người chết trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền 39 trang Khảo sát 2 dạng thức mái che cõi âm: mồ mả (3 nhóm đối tượng) và am miếu, đình đền
                              HỆ THỐNG HÌNH ẢNH MÁI CHE
         MÁI CHE NGƯỜI SỐNG                              MÁI CHE NGƯỜI CHẾT
  (Cung điện, Nhà quan, Nhà chùa,                  (Mồ mả các đối tượng,
   Nhà trạm - Nhà thuyền, Nhà quê)                   Am miếu - Đình đền)

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và cơ sở thực tiễn cho toàn bộ đề tài:

  • Xác lập thuật ngữ "hình ảnh mái che": Định vị mái che dưới góc độ thi pháp học là "yếu tố không gian có mái che". Đây là không gian nghệ thuật mang tính quan niệm, chuyển tải ý chí chủ quan và tâm trạng của tác giả. Không gian này có thể co giãn linh hoạt: mở rộng tương thông với vũ trụ qua khung cửa sổ, cửa nhà ("Môn tiền yên cảnh cận như hà / Nhàn nhật khai song sinh ý đa" - Nguyễn Du), hoặc thu hẹp tù túng, ngột ngạt.
  • Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX: Phân tích sự sụp đổ của triều đình Lê - Trịnh, cuộc phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài, tình cảnh lầm than của nhân dân dưới ách cai trị của kiêu binh và quyền thần (Trương Phúc Loan), sự bùng nổ của phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn và quá trình thiết lập triều Nguyễn.
  • Dòng họ Nguyễn Tiên Điền: Khái quát nguồn gốc từ làng Canh Hoạch (Thanh Oai, Hà Đông) di cư vào Tiên Điền năm 1601, truyền thống khoa bảng đỉnh cao với Tể tướng Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm, sự hình thành văn phái Hồng Sơn và truyền thống đi sứ của dòng họ.
  • Chân dung tiểu sử và thơ chữ Hán của ba tác giả:
    • Nguyễn Đề (1761 - 1805): Anh ruột Nguyễn Du, đỗ thủ khoa nhiều kỳ thi, làm quan triều Lê, sau đó bất đắc dĩ làm quan triều Tây Sơn, hai lần đi sứ nhà Thanh (1790, 1795). Thơ ông (131 bài) khắc họa thiên nhiên khoáng đạt và con người mang tâm thế sứ thần, giàu ý thức khẳng định tài năng cá nhân (con người hữu ngã).
    • Nguyễn Du (1765 - 1820): Trải qua "mười năm gió bụi", thăng trầm qua các triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Thơ chữ Hán (250 bài) là tiếng lòng u uất, trắc ẩn sâu sắc trước nỗi đau nhân sinh, tâm thức lưu lạc và khát vọng tri âm.
    • Nguyễn Hành (1771 - 1824): Cháu ruột Nguyễn Du, giữ trọn khí tiết trung thần với nhà Lê, sống cuộc đời bần hàn, lánh đời. Thơ ông (222 bài) là tiếng thở dài thế sự, bi kịch của kẻ sĩ lạc thời trước thời cuộc biến chuyển.

Chương 2: Hình ảnh mái che của người sống trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền

Chương 2 đi sâu phân tích nghĩa thực và nghĩa biểu tượng của các không gian sống thực tại:

  • Cung điện, lầu gác (Khảo sát tại Bảng 2.1): Xuất hiện qua hành trình đi sứ hoặc những hồi ức kinh kỳ Thăng Long, Yên Kinh. Đây là không gian phơi bày sự xa hoa tráng lệ của vương quyền nhưng đồng thời là chứng tích cho quy luật thịnh suy, phế hưng dâu bể của lịch sử.
  • Nhà quan (Khảo sát tại Bảng 2.2): Không gian phản ánh hiện thực bất công xã hội, nơi dung dưỡng sự tham tàn, nhũng lạm của quan lại đối lập gay gắt với cảnh cơ hàn, đói rách của thường dân.
  • Nhà chùa (Khảo sát tại Bảng 2.3): Nơi nương tựa tâm linh, phản ánh tâm thiền và không gian thể nghiệm triết lý nhân sinh của thi nhân trước cuộc đời tao loạn; điểm dừng chân giải tỏa ưu phiền thế sự.
  • Nhà trạm - Nhà thuyền (Khảo sát tại Bảng 2.4 và 2.5): Không gian đặc thù gắn liền với bước đường lưu lạc, tha hương và những chuyến đi sứ vạn dặm. Mái nhà trạm tạm bợ và khoang thuyền chật hẹp trở thành không gian biểu tượng cho tâm trạng cô đơn, bất an, cảm giác trôi dạt vô định của kiếp người.
  • Nhà ở quê (Khảo sát tại Bảng 2.6): Không gian đối lập với chốn quan trường hiểm trở. Mái nhà tranh nơi quê cũ (chốn Lam Hồng, Bích Câu) là biểu tượng cho giấc mộng "nhàn", nơi ẩn náu tinh thần và khát khao trở về với nếp sống thuần phác, tự do.

Chương 3: Hình ảnh mái che của người chết trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền

Chương 3 tập trung giải mã không gian cõi âm và thế giới tâm linh:

  • Mồ mả đối với bậc hiền tài, anh hùng, nữ nhi tiết liệt: Thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ, tri âm và xót thương vô hạn trước những nhân cách cao đẹp nhưng chịu số phận oan nghiệt (Khuất Nguyên, Nhạc Phi, Đỗ Phủ, Tiểu Thanh...).
  • Mồ mả đối với kẻ tiểu nhân, độc ác: Không gian phán xét lịch sử, thể hiện thái độ nghiêm khắc, khinh miệt và bài bác của tác giả đối với những kẻ phản trắc, hại nước hại dân (Tần Cối, Mã Viện...).
  • Mồ mả đối với người vô danh: Biểu hiện đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo; niềm xót thương hướng về những nấm mồ vô chủ, hài cốt cô hồn phiêu bạt nơi góc bể chân trời không người hương khói.
  • Am miếu, đình đền (Khảo sát tại Bảng 2.8): Không gian văn hóa tâm linh kết nối quá khứ với hiện tại. Đứng trước các di tích, phế tích, các nhà thơ đối thoại với tiền nhân, thể hiện cảm thức hoài cổ và chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ biến dịch của vũ trụ và kiếp nhân sinh.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Xác lập hệ thống cứ liệu định lượng: Khóa luận lập danh mục và bảng biểu thống kê chi tiết tần suất xuất hiện của 8 dạng thức mái che (người sống và người chết) trên diện mạo 603 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đề, Nguyễn Du và Nguyễn Hành (chi tiết tại Phụ lục 1 và 2).
  2. Khám phá chiều sâu thi pháp không gian: Chứng minh hình ảnh mái che trong thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền không chỉ là chi tiết tả thực không gian kiến trúc mà là một biểu tượng nghệ thuật phức hợp, phản ánh sâu sắc cảm quan thế sự, ý thức cá nhân và thế giới tâm linh của các tác giả thời trung đại.
  3. Phân hóa phong cách trong cùng dòng họ:
    • Nguyễn Đề: Nghiêng về không gian sứ trình, hành trình phụng mệnh với giọng điệu tự tin, khẳng định bản ngã.
    • Nguyễn Du: Chuyển hóa không gian mái che thành cõi lòng trắc ẩn mênh mông, day dứt khôn nguôi về thân phận con người và lẽ thịnh suy.
    • Nguyễn Hành: Thu hẹp không gian trong nỗi sầu thế biến, hoài Lê cay đắng và tâm sự cô độc của kẻ sĩ lánh đời.

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Về mặt nghiên cứu văn học: Khóa luận mở ra hướng tiếp cận thi pháp học mới đối với bộ phận thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền; góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động của tư tưởng nhân văn và sự thức tỉnh của ý thức cá nhân (con người hữu ngã) trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Về mặt giáo dục và giảng dạy: Cung cấp hệ thống ngữ liệu đối sánh, bảng biểu và phân tích văn bản cụ thể, làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn trong việc đổi mới dạy học các chuyên đề văn học trung đại và tác gia Nguyễn Du.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế:
    • Khóa luận khảo sát dựa trên nguồn văn bản thơ chữ Hán đã được tuyển chọn và phiên dịch trong các ấn bản tuyển tập hiện hành (Thơ Nguyễn Đề tuyển, Thơ Nguyễn Hành tuyển, Nguyễn Du toàn tập), chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp toàn bộ 374 bài thơ chữ Hán nguyên bản của Nguyễn Đề trong kho lưu trữ Hán Nôm.
    • Việc vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, tôn giáo học, phân tâm học) mới dừng lại ở mức độ bổ trợ, chưa đi sâu giải mã toàn diện dưới góc độ nhân học văn hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi văn bản sang các tài liệu Hán Nôm chép tay chưa công bố của dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
    • Mở rộng đối sánh mô hình không gian có mái che giữa họ Nguyễn Tiên Điền với các dòng họ thế gia văn hiến khác cùng thời như họ Phan Huy (Thu Hoạch), họ Nguyễn Huy (Trường Lưu) hoặc với thi ca đi sứ Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên).

Giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm, Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp học không gian nghệ thuật, kỹ năng thống kê ngữ liệu và cách triển khai đề tài nghiên cứu tác gia - dòng họ văn học.
  • Giáo viên Ngữ văn THPT: Khai thác ngữ liệu văn bản thơ chữ Hán của Nguyễn Đề, Nguyễn Hành để đối sánh, làm sâu sắc thêm bài giảng tác gia Nguyễn Du (Độc Tiểu Thanh kí, trích đoạn Truyện Kiều) và các chuyên đề học tập Ngữ văn trung đại theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình:
    • Hệ thống 8 bảng thống kê tần suất các dạng thức mái che tại Chương 2, Chương 3 và phần Phụ lục (61 trang).
    • Khảo luận chuyên sâu về tiểu sử, hành trạng hoạn lộ và sự nghiệp trước tác của Quế Hiên Nguyễn Đề và Minh Quyên Nguyễn Hành ở Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu bài thơ chữ Hán và của những tác giả cụ thể nào thuộc họ Nguyễn Tiên Điền?
Khóa luận khảo sát tổng cộng 603 bài thơ chữ Hán của ba tác giả tiêu biểu thuộc hai thế hệ: Nguyễn Đề (131 bài trong 3 tập: Hoa trình tiêu khiển tiền tập, Hoa trình tiêu khiển hậu tập, Quế Hiên thi tập); Nguyễn Du (250 bài trong 3 tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục); Nguyễn Hành (222 bài trong 2 tập: Minh quyên thi tập, Quan Đông hải).

2. Khái niệm "yếu tố không gian có mái che" trong khóa luận được định nghĩa và phân loại ra sao?
Dưới góc độ thi pháp học, yếu tố không gian có mái che là không gian nghệ thuật mang tính quan niệm, biểu hiện tâm trạng và thế giới quan của tác giả. Hệ thống này được chia thành 2 nhóm lớn:

  • Mái che của người sống: Cung điện/lầu gác, nhà quan, nhà chùa, nhà trạm/nhà thuyền, nhà ở quê.
  • Mái che của người chết: Mồ mả (bậc hiền tài/anh hùng/nữ nhi liệt nữ, kẻ tiểu nhân, người vô danh) và am miếu/đình đền.

3. Mối quan hệ thân tộc và bối cảnh xuất thân của ba tác giả Nguyễn Đề, Nguyễn Du và Nguyễn Hành có điểm gì đặc biệt?
Nguyễn Đề và Nguyễn Du là hai anh em ruột (cùng là con của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm và bà trắc thất Trần Thị Tần). Nguyễn Hành là cháu ruột gọi Nguyễn Đề và Nguyễn Du bằng chú. Cả ba tác giả đều sinh ra và lớn lên tại đất kinh kỳ Thăng Long (phường Bích Câu), sớm hấp thu tinh hoa văn hóa cung đình triều Lê trước khi trải qua những biến động lịch sử dữ dội cuối thế kỷ XVIII.

4. Vì sao tác giả khóa luận nhận định nghiên cứu "hình ảnh mái che" là một đóng góp mới mẻ so với các công trình đi trước?
Các nghiên cứu trước đây về thơ chữ Hán họ Nguyễn Tiên Điền chủ yếu tập trung vào các hình tượng thiên nhiên truyền thống (núi sông, mùa thu, tóc bạc, thời gian) hoặc nếu có chạm đến mái che thì chỉ dừng lại ở mảng mồ mả cõi âm của Nguyễn Du. Khóa luận là công trình đầu tiên mở rộng toàn diện sang các dạng thức mái che cõi dương (nhà trạm, nhà thuyền, nhà quan, nhà chùa...) và khảo sát đồng bộ trên cả ba tác giả trong dòng họ.

5. Khóa luận dựa trên những nguồn văn bản chữ Hán xuất bản nào làm căn cứ phân tích chính?
Khóa luận sử dụng ba công trình tuyển tập văn bản chính: Thơ Nguyễn Đề (tuyển) (2019) do Lê Quang Trường chủ biên (NXB Văn học); Nguyễn Du toàn tập, tập 1 (1996) do Mai Quốc Liên chủ biên kết hợp Thơ chữ Hán Nguyễn Du (2012) do nhóm Lê Thước - Trương Chính biên soạn; Thơ Nguyễn Hành tuyển (2015) do Mai Quốc Liên chủ biên (NXB Văn học).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hữu Rạng đã giải mã thành công hệ thống hình ảnh mái che trong 603 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đề, Nguyễn Du và Nguyễn Hành dưới góc nhìn thi pháp học không gian nghệ thuật. Thông qua việc phân loại rành mạch các dạng thức mái che của người sống và người chết, công trình làm nổi bật cảm quan thế sự sâu sắc, tinh thần nhân bản và ý thức khẳng định bản ngã của các thi nhân họ Nguyễn Tiên Điền giữa thời đại biến loạn. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bù đắp khoảng trống trong việc nghiên cứu thơ chữ Hán Quế Hiên và Minh Quyên mà còn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị phục vụ công tác giảng dạy văn học trung đại trong nhà trường.