CHƯƠNG 1: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU NGÂN GIANG NỮ SĨ 1.1 Ngân Giang quen mà lạ. (1916-2002) Trong số hiếm hoi các nữ sĩ của thời đại cách tân thi ca Việt Nam có Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết, Thu Hồng, Hằng Phương, …. và Ngân Giang nữ sĩ, nhưng không có nhà thơ nào mang cuộc đời khổ ải, gian truân như Ngân Giang. Từ thuở nhỏ, bà sống trong khuôn phép Nho Giáo.
Tuy nhiên, chính điều kiện đó lại hun đúc cho nữ sĩ một cá tính mạnh mẽ. Thân phụ ép duyên vì ắt biết mệnh số con mình sẽ lận đận nhưng Ngân Giang cương quyết cự tuyệt, cho đến khi trốn đi bị cha bắt về mới đành lòng vì chữ hiếu kết nghĩa xích thằng. Ngay từ nhỏ, cá tính mạnh mẽ ấy đã bộc lộ rất rõ. Hơn hết là một tâm hồn nhạy cảm rất mực.
Một lần theo người bác ra sân ga, cô bé Đỗ Thị Quế đã thốt lên hai câu thơ nẫu ruột. Người bác nhắm lẽ huyền vi biết cơ số rồi sẽ khiến cháu gái trầm luân dâu bể. “Tàu về, rồi tàu lại đi Khối đen đủi ấy nhớ gì sân ga” {26} Ngân Giang tên thật là Đỗ Thị Quế, các bút danh khác như: Hạnh Liên, Đỗ Quế Anh, Nguyệt Quyên. Bà sinh ngày 20 tháng 3 năm 1916, trước Bích Khê bốn ngày, trong một gia đình Nho Học tại phố HàngTrống, Hà Nội; nhưng nguyên quán thì ở thôn Hướng Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
Dòng họ Đỗ sống thanh đạm bằng nghề thêu ren và bốc thuốc, nhưng là một dòng họ có truyền thống văn thơ. “Ông ngoại của bà là hậu duệ của chúa Trịnh Sâm hay chữ, ông nội là một nho sĩ nổi tiếng ở đất Bắc Hà, bằng hữu của thi hào Nguyễn Du; còn cha bà, nhờ được ông nội dạy cho chữ Hán, đàn nguyệt nên cũng nổi danh không kém” {115}. Lên 6 tuổi, Ngân Giang được cha dạy cho Hán tự, học “ké” chữ quốc ngữ với người thầy bên hàng xóm và được người bác gái làm nghề thuốc yêu thích thơ Đường, dạy cho cách làm thơ phú và dịch Đường Thi.Tám tuổi, Quế có bài thơ đầu tiên: “Vịnh Kiều”, đăng trên Đông Pháp Thời báo, với bút danh Nguyệt Quyên. Nhưng sang năm, tâm hồn 6 non trẻ ấy nhạy cảm đến mức tự vẫn vì học đến Kinh Phật rồi nhận thấy nhân sinh-thế cuộc quá nhiều tội lỗi.
Éo le thay, kiếp má hồng vẫn chưa hết nợ. Năm1932, 16 tuổi, Ngân Giang in tập thơ đầu tiên “Giọt Lệ Xuân”, bằng cái tên Hạnh Liên, do nhà Tân Dân ấn hành. Hiểu tính nết con, cụ Đỗ Hữu Tài bắt Hạnh Liên phải lấy chồng. Chưa hết, một đêm mưa gió bão bùng, đang có mang, Hạnh Liên lại gieo mình xuống Hồ Tây.
"Dường như trời chưa cho tôi thoát kiếp trầm luân" - nữ sĩ nhớ lại. Rồi bà bảo: "Kiếp trước tôi là võ tướng, vì giết nhầm một văn nhân nên kiếp này phải làm thi sĩ để trả nghiệp".{117} Vì là nghiệp chướng nên cái nợ văn chương cứ đeo đuổi mãi. Năm 20 tuổi, bà viết cho tờ Ngọ báo, Bắc Hà và học đàn tại Hàn Lâm Âm Nhạc do Hội Khai Trí Tiến Đức chủ trì. Năm 21 tuổi, bà có thơ in chung trong cuốn “Duyên văn”.
Năm 22 tuổi (1938), bà rời Hà Nội vào Sài Gòn, viết cho Điện Tín nhật báo, báo Mai. Sau đó, bà trở ra Hà Nội viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Đàn bà.Năm sau (1939), thi phẩm “Trưng Nữ Vương” ra mắt, gây tiếng vang trên thi đàn. Đầu năm 1944, bà tham gia mặt trận Việt Minh. Và cũng trong năm này, bà cho in tập thơ “Tiếng Vọng Sông Ngân”.
Thực lẽ, Ngân Giang là cái tên quen thuộc đương thời. Năm 1945, bị hiến binh Nhật bắt ở nhà Dầu (Khâm Thiên), bị giam cầm khoảng một tháng, được tha, bà tham gia cướp chính quyền rồi được cử làm Trưởng đoàn phụ nữ Cứu quốc Thành phố Hà Nội, sau phụ trách Phòng Tuyên truyền đường lối chính sách của Mặt trận Việt Minh. Năm 1946, Ngân Giang phụ trách Ban Lễ tân Bộ Nội Vụ, cho in cuốn “Những ngày trong hiến binh Nhật”, nhưng sách vừa in xong chưa kịp phát hành thì toàn quốc kháng chiến. Ngay đó, bà ra chiến khu công tác tại Sở tuyên truyền liên khu I.
Sau cách mạng tháng Tám và sau khi kháng chiến thành công, không hiểu vì sao, một nhà thơ sớm giác ngộ lí tưởng cộng sản và có nhiều đóng góp cho phong trào thanh niên như Ngân Giang lại bị gạt tên. Khi vấn đề Nhân Văn Giai Phẩm được xem xét ở hội Nhà Văn Việt Nam, Ngân Giang rất bất bình và lên tiếng bênh vực những nghệ sĩ của báo Nhân Văn. Thêm nữa, Ngân Giang luôn là người dám lên tiếng tố cáo những tiêu cực của lãnh đạo văn nghệ Việt Nam. Sau đó vài năm, bà tuyên bố “Với tư cách sáng lập viên và hội viên Hội Nhà 7 Văn Việt Nam, tôi xin về”.
Cuộc đời Ngân Giang bắt đầu những ngày cùng khốn kể từ đây. Có nhiều lúc đói khổ, nhà thơ phải nhờ đến Xuân Diệu xin hộ việc làm cho qua ngày khốn đốn. Lần hồi, con đò văn chương bỏ lại Ngân Giang. “Tiếng Vọng Sông Ngân” lùi vào hẻo lánh.
Vài nét về tài thơ của nữ sĩ, Nguyễn Vỹ cho thấy một tấm lòng trân trọng, lại như nâng niu viên pha lê tinh khiết cao trọng, thanh nhã, và cũng phần nào, ông bày tỏ mối sầu mênh mông của phận số thi nhân. "Không giống như Mộng Sơn, Anh Thơ, Ngân Giang nữ sĩ sống rất nhiều về tình yêu, đau khổ rất nhiều về tình yêu. Nhưng chẳng bao giờ nàng có hạnh phúc với tình yêu cả…”. "Và không biết vì lý do gì, Ngân Giang không thích đăng thơ trên báo, nhưng thi thoảng được nghe thơ Ngân giang, chúng tôi cảm động, khoái trá, bởi phong vị sầu mơ da diết, ngào ngạt trong thơ".
{103} Thêm nữa, Từ điển Tác gia Văn hóa Việt Nam cho biết: "Tiếng thơ Ngân Giang một thời vang vọng, như có lần thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) lúc giảng dạy tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, khi giới thiệu bài “Trưng Nữ Vương” của bà, ngâm xong bài thơ, ông đột quỵ. Sinh viên đưa đi cấp cứu nhưng vừa đến bệnh viện thì ông ra người thiên cổ. Âu cũng là một thi thoại văn chương đáng trân trọng”{66} Tới đây, Ngân Giang đã trở thành một giai thoại xa lạ. Hình bóng Ngân Giang lần hồi phai nhạt, chỉ còn lại tấm lưng còng hiu hắt bên sông.
Quy nhất, khi cả thế hệ tìm đến bộ cánh tân thời phương Tây, Ngân Giang lại thủy chung vô vàn với thơ Đường. Nhưng hồn thơ mang phong khí Đường Thi của nữ sĩ lại mang đến bầu hương sắc khác hẳn với thơ Đường của Quách Tấn. Nữ sĩ viết :“Ai về qua xứ trăng vàng cũ ? / Có thấy muôn hương dậy trái mùa”(Tiếng Vọng Sông Ngân) ; Nghe đôi câu những tưởng đang thụ hưởng một cái gì rất mới mẻ…. nếu Thu Hồng là cô bé ngây thơ, Mộng Tuyết là thiếu nữ mơ màng, và Anh Thơ thì rất đỗi trong sáng; Ngân giang lại ngất ngưởng, sầu mơ da diết, nhưng đâu đó lại hết sức giản dị, mộc mạc, mà cũng rất mực sang trọng và thanh nhã.
“Mùa thu ơi, ai gợi sầu thứ lữ ? Nẻo hoàng thành châu ngọc dựng biên cương” (Thu tửu ) 8 Tài thơ của nữ sĩ hẳn thực rành rõ. Giữa làng Thơ Mới, Ngân Giang ngự riêng một góc trời, nhưng lại là khung trời ít người để ý. Dẫu vậy, những đóa hoa của “Nàng” vẫn ngát hương, vẫn rất mực tài hoa và độc đáo. Thế cuộc bể dâu, sự thái bỉ khiến chân mỹ càng rạng tỏ.
Ví như “Ngân Giang” dẫu thật quen mà đến nay nghe xa lạ trong văn giới cũng bởi cái lí thăng trầm vốn có xưa nay.2 Những chặng đường thơ và tác phẩm tiêu biểu a. Từ ấu thời đến 1935 Lại kể về buổi chiều trên sân ga, cô bé Đỗ Thị Quế vì nao lòng mà cảm tác nên hai câu thơ :“Tàu đến rồi tàu lại đi/ Khối đen đuổi ấy nhớ gì sân ga”. Câu thơ giản dị mà tinh tế, sâu nặng và đìu hiu, vẽ chốn cô phòng, gợi niềm lữ thứ. Bà kể rằng khi ấy mới sáu tuổi và người bác đi cùng khi nghe được mấy câu thơ đã quay sang bảo rằng “sau này cháu tôi lại khổ thôi”.
Và từ đó Ngân Giang tập tành đi những bước đầu tiên trên đường thơ trải dài gần đến 80 năm. Năm 1924, lần đầu tiên thơ của Quế được đăng báo, ấy là bài Vịnh Kiều, được dẫn trên Đông Pháp thời báo với bút danh Nguyệt Quyên, một tờ báo uy tín bấy giờ. Rồi càng ngày, Quế dấn thân xa hơn vào đồng thơ. Từ năm 1929 đến 1931, mới lên 13, nữ sĩ độ tuổi trăng tròn đã là cây bút thường xuyên của Trung Bắc Tân Văn, Đông Pháp với các bút danh Hạnh Liên, Đỗ Quế Anh.
Đến năm 1932, cô Hạnh Liên cho in tập thơ đầu tay với tên “GIỌT LỆ XUÂN”. Từ đây Đỗ Thị Quế chính thức bước vào làng thơ. Báo Phụ Nữ Thời Đàm dành hẳn một trang giới thiệu “GIỌT LỆ XUÂN” của Hạnh Liên đang tuổi trăng rằm. Tiếng tăm của nàng thơ đầu mùa đưa tác giả trở thành thi nhân đầy triển vọng.
Tuy rằng không đủ sức tiên phong cho thời đại Thơ Mới, đi đôi với bài viết của Phan Khôi năm 1932 nhưng “GIỌT LỆ XUÂN” đã báo hiệu bằng những chồi non mới mẻ. Đó là hồn thơ dồi dào sức sống, mang nhịp thở của thời đại trong ngôi nhà Đường luật đài các như các bài : Con ai, Gửi bạn, Rượu nào….Ta thấy những câu thơ đậm màu sắc lãng mạn: “Sương thả màn lam, cây mải ngủ, / Liễu buông rèm biếc, gió đua rờn. / Khôn toan đánh thức thần hoa dậy, / Đành gối song trăng mộng chập chờn…. Giai đoạn 1935 - 1945 Trong giai đoạn văn học 1932 – 1945, có thể nói Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiên phong khi “mặt trời chân lí chói qua tim” và con chim ấy đã hát vang bài ca cách mạng cho đến khi trút dứt “Một Tiếng Đờn”.
Nữ sĩ Ngân Giang tham gia vào Tổ chức Thanh niên Cộng sản Cách Mạng khoảng những năm 1934, 1935. Từ đây thơ Ngân Giang bước sang một chặng đường khác. Đã chìm lắng những dòng suối nhu mì lặng lẽ, kiêu sa, diễm lệ, mà góp vào đó là bao khúc ca vang giọng hào sảng, luôn cao ngất tinh thần dân tộc, tự hào dòng dõi Rồng Tiên, dạt dào lòng yêu nước, hoàn thiện hình ảnh người phụ nữ trong loạn li. Thời kỳ này, cái tôi sầu muộn có phần chùng xuống để cho cái tôi hào hùng, bi tráng phất cao ngọn dân tộc.