CHƯƠNG 1 BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ TỐ HỮU 1.1 Quan niệm về biểu tượng từ các góc độ khác nhau "Biểu tượng" trong tiếng Việt là một thuật ngữ có nguồn gốc ra đời từ rất sớm, trong buổi bình minh của nhân loại ở Hi Lạp (symbolon) để chỉ đối tượng giữ vai trò như một loại ''kí hiệu'' cổ. Thực tế đã khẳng định biểu tượng phát triển cùng quá trình tiến hoá của nhân loại. Cho tới ngày nay, thuật ngữ "biểu tượng" đã trở nên rất quen thuộc và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau. Theo triết tự Hán Việt: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó, Tượng có nghĩa là "hình tượng".
"Biểu tượng" là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng.Thoạt tiên, biểu tượng được dùng theo một nghĩa thực dụng: là một vật (đá, ngọc, sành, hay gỗ) được chia làm hai trong một giao ước như tín vật, khi gặp nhau chắp lại để làm tin. Sau này, theo cách hiểu trừu tượng hơn, biểu tượng là phương tiện phản ánh tư duy, hành vi, khát vọng, kể cả điều cấm kỵ, ám ảnh, sợ hãi. Biểu tượng thể hiện những góc khuất của tiềm thức và vô thức, cho nên biểu tượng "bộc lộ rồi lủi trốn; càng tự phơi bầy sáng tỏ, nó lại càng tự dấu mình đi. Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ"[4, tr.
Biểu tượng là phương tiện chuyển tải tư tưởng, thông điệp vượt ra ngoài khuôn khổ của dấu hiệu, hình ảnh, âm thanh. Biểu tượng mang đến nhiều điều bất khả tri giác. Nhà từ điển Pháp André Lalande định nghĩa: "Biểu tượng là cái biểu hiện một cái khác căn cứ vào một tương ứng loại suy". Giản dị hơn, "biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, bằng con vật sống động hay đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự hay một điều gì đó"[11, Pg.
Bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng chính là sự chia ra và kết lại với nhau, nó hàm chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp. Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến ảo, nó bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ vừa là nối kết, vừa xuất hiện lại vừa mất đi, khiến cho tư duy luôn phải truy tìm, liên tưởng và muốn nắm bắt lấy vô vàn những ý nghĩa đang còn 11 z tiềm ẩn ngay trong lòng của nó. Chính tính chất đa nghĩa, trừu tượng, thậm chí là mơ hồ của các biểu tượng khiến cho việc phân tích và giải mã biểu tượng trong các tác phẩm văn học không dễ dàng, đôi khi lâm vào tình trạng bế tắc, tạo nên những "cuộc tranh luận liên miên về ý nghĩa của những biểu tượng" (Raymond Firth). Để tháo gỡ những bế tắc nói trên, chỉ "một mình" phê bình văn học sẽ rất khó giải quyết được hết những "đặc tính khó lường" của biểu tượng.
Vì vậy, vấn đề giải mã biểu tượng cần có một cái nhìn tổng thể bao gồm cả văn học cũng như những ngành học thuật khác có liên quan như triết học, logic học, ký hiệu học, nhân học,… 1.1 Biểu tượng, nhìn từ góc độ triết học Theo Từ điển triết học: "Biểu tượng là hình ảnh trực quan, cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giác quan"[38, tr. Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, ngược lại hiện thực khách quan là điều kiện hàng đầu tạo nên biểu tượng. Theo đó, biểu tượng chỉ phản ánh những dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng một cách khái quát, lược bỏ đi những nét riêng biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tiêu biểu nhất mà thôi.Từ cách hiểu này, mọi sự vật của tồn tại khách quan đều có thể trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình.Và, có thể hiểu: "biểu tượng" là khái niệm dùng để chỉ một thực thể bao gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu đạt).2 Biểu tượng, nhìn từ góc độ tâm lý Theo quan điểm tâm lí học, biểu tượng là hiện tượng tâm sinh lí do có một sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được hình ảnh của vật kích thích trở lại trí tuệ hay cảm giác. Từ điển tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, 2000) định nghĩa rằng: "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng.
Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri 12 z giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai"[6, tr. Quan niệm tương tự về biểu tượng cũng thấy trong Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên: "Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt".26] Như vậy, tâm lý học coi biểu tượng là một giai đoạn của nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các giác quan. Cùng với cảm giác và tri giác, biểu tượng đã tạo ra những tiền đề cơ sở cho nhận thức lí tính.
Nó còn góp phần giúp con người nhận thức được những thuộc tính: bản chất, tính quy luật của sự vật, đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc về sự vật. Bởi lẽ biểu tượng luôn gắn liền với các khái niệm với những phán đoán, suy lí, đặc biệt là trí tưởng tượng. Cũng từ đây, tâm lý học chia biểu tượng thành hai loại là biểu tượng của trí nhớ (là hình ảnh của tri giác lúc trước được tái hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định) và biểu tượng của tưởng tượng (là hình ảnh mới được trí tưởng tượng tạo nên trên nền của biểu tượng). Trong đó biểu tượng của tưởng tượng là loại biểu tượng thường thấy trong nghệ thuật, đặc biệt ở thể loại thơ ca.3 Biểu tượng, nhìn từ góc độ văn hóa Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hoá (International Thesaurus on Cultural Development) của UNESCO: "Văn hoá là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt" [2, tr.
Levy-Strauss, người đặt nền tảng cho chủ nghĩa cấu trúc, nhà nhân chủng học vĩ đại nhất của Pháp cũng đã rút ra một khái niệm tương tự từ nghiên cứu nhân loại học về các sự kiện văn hoá. Ông viết: "Mọi nền văn hoá đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo". Cũng ở lĩnh vực nghiên cứu văn hoá học, về phần mình, L.White - nhà nhân học Hoa Kỳ không đồng ý cách hiểu văn hoá như một "trừu tượng lý thuyết", một cấu trúc logic chỉ tồn tại trong tư duy của con người mà nêu lên một định nghĩa nhấn mạnh vào ý nghĩa biểu tượng của văn hóa. White cho 13 z rằng: "Văn hoá là cơ chế của các hiện tượng, vật thể, hành động, tư tưởng, cảm xúc.
Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng hoặc phụ thuộc vào các biểu tượng đó". Quan niệm của các tác giả về những định nghĩa văn hoá nhìn chung đã có một sự tương đối đồng thuận. Họ thống nhất với nhau ở một điểm, văn hóa, đó là cái làm nên sự khác biệt giữa người và động vật và là cái đặc trưng cho xã hội loài người. Nhà văn hoá học Nga L.
Iô-nhin trong lời kết thúc bản tóm tắt giới thiệu các định nghĩa khác nhau về văn hoá đã nhận định ". Các tác giả định nghĩa về văn hoá đã đồng ý với nhau, rằng văn hoá di truyền không theo con đường sinh học mà bằng con đường học tập. Tiếp đó, họ thừa nhận văn hoá trực tiếp gắn liền với các ý tưởng, chúng tồn tại và được truyền đạt dưới hình thức biểu tượng (Symbol)" Qua một số quan niệm về văn hoá nêu ở trên ta thấy có sự tương đồng về mặt ý nghĩa. Các tác giả đều cho rằng, yếu tố cốt lõi của văn hoá chính là "hệ thống các biểu tượng", nó được xem là "tế bào" của văn hoá.
Có thể xem "thế giới biểu tượng "- hệ thống các "ký hiệu hàm nghĩa" là hình thái ngoại hiện của văn hoá, còn "hệ giá trị - xã hội" nằm trong lòng mỗi biểu tượng là nội dung cơ bản của nó. Do vậy, "đơn vị cơ bản" của văn hoá chính là "biểu tượng", vật hàm chứa những thông tin - xã hội. Đó cũng là "hạt nhân di truyền" của xã hội, nó làm nên toàn bộ đời sống văn hoá và chi phối mọi hoạt động, mọi ứng xử của con người trong đời sống xã hội, và là cái làm nên sự khác biệt giữa hoạt động của người với động vật.4 Biểu tượng, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học Ngôn ngữ, đặc biệt ngôn ngữ văn học là "kho tàng" bảo lưu những giá trị văn hóa của một dân tộc. Do đó, nghiên cứu về biểu tượng, không thể không xem xét trong mối quan hệ với ngôn ngữ.
Các nhà ngôn ngữ học dựa trên sự phân tích bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thấy rằng: với mỗi một tín hiệu ngôn ngữ, theo nguyên lí chung của việc thành lập một tín hiệu, bao giờ cũng phải có hai mặt: Đó là mặt biểu hiện (hình thức tín hiệu) và mặt được biểu hiện (nội dung tín hiệu).