Chương 1. Trần Quang Quý và nỗ lực tạo dựng cái tôi trữ tình trong hành trình đổi mới thơ đương đại Việt Nam. Những biểu hiện cơ bản của cái tôi trữ tình trong thơ Trần Quang Quý. Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu thể hiện cái tôi trong thơ Trần Quang Quý.
12 CHƢƠNG 1 TRẦN QUANG QUÝ VÀ NỖ LỰC TẠO DỰNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG HÀNH TRÌNH ĐỔI MỚI THƠ ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM 1. hái ni m về cái t i và cái t i t ữ t nh” 1. Cái tôi Cái tôi là một trong những khái niệm uất hiện từ rất lâu trong lịch sử triết học. Cái tôi thuộc về bản chất, là chiều sâu tinh thần con người.
Nó đánh dấu thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể độc lập khác với cá thể khác. Khái niệm cái tôi là một khái niệm có tính chất nội hàm rộng, vì vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau như trong triết học phương Đông, triết học phương Tây, phật giáo… nhưng ở đây chúng tôi chỉ dừng ở một số quan niệm của triết học về cái tôi vì nó liên quan trực tiếp đế việc tìm hiểu cái tôi trữ tình. Nhà triết học R. Đề Các (1596 - 165 ) quan niệm cái tôi thể hiện như một cái nhìn thuộc về thực thể tư duy và do đó cái tôi là căn nguyên của nhận thức duy l , cái tôi mang tính độc lập.
ng có một định nghĩa rất nổi tiếng: tôi tư duy tức là tôi tồn tại. Theo Kant (1724 - 1804) - một đại diện tiêu biểu của triết học duy tâm, cái tôi đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người. Cái tôi tồn tại vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình nhận thức. Đồng thời, Kant còn tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của cái tôi: tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó mà trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi.
Như vậy, theo Kant, cái tôi cá nhân được thừa nhận như một đối tượng khám phá phức tạp của con người. Đối với Heghen (1770 - 1831), ông quan niệm cái tôi tồn tại như một cá thể độc lập. Một mặt ông nhấn mạnh cái tôi như là sự tha hóa của thức tuyệt đối, một nặt nhấn mạnh vai trò của cái tôi. Cái tôi như là trung tâm cửa sự tồn tại, có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực.
Trong triết học, chủ thể là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích cực, thể hiện trên các mặt hoạt động có mục đích, tự giác và tự do. Cái tôi là yếu tố 13 của chủ thể làm cho chủ thể thức được chính mình. Lêônch p chủ biên đã ác định: cái tôi là kết quả của việc con người tách mình ra khỏi môi trường ung quanh, cho ph p con người cảm thấy mình như một chủ thể. Cái tôi là quan niệm của chủ thể về chính mình, hình thành trong hoạt động và giao tiếp, mang các đặc điểm như chỉnh thể, thống nhất, có khả năng tự đánh giá, tự quan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện có mâu thuẫn nhưng thống nhất.
Như vậy, cái tôi là chức năng tự nhận thức của chủ thể. Nếu chủ thể đối lập với khách thể, thì cái tôi không chỉ đối lập với khách thể, mà còn đối lập với chính mình, như một chủ thể và đối lập với các chủ thể khác, các cái tôi khác, như là cái không phải tôi”. Tính tích cực của chủ thể là nhận thức và hoạt động cải tạo thế giới, còn tính tích cực của cái tôi là tự thức về mình, tự ác định giá trị của mình trong thế giới. Chủ thể, theo triết học, là một khái niệm đa thức.
Nó có thể là một cá nhân riêng lẻ, có thể là một nhóm người được tập hợp một cách hữu cơ, có tính hệ thống, có mục đích, chí, hành động, sức mạnh chung như gia đình, giai cấp, ã hội, đảng phái. Chủ thể có thể là một cộng đồng lịch sử, hoặc là toàn thể ã hội, hoặc nhân loại. Để hiểu r chức năng thức về chủ thể của cái tôi, cần tìm hiểu các thuộc tính của cái tôi, phạm vi của hiện tượng cái tôi. Dựa vào mô hình cái tôi của nhà tâm l học W.
Wundt trong công trình Ti u luận tâm l học (1877), có thể hình dung các thuộc tính ấy như sau: Thứ nhất, Cái tôi có đặc tính là luôn luôn tự thức mình là một bản chất tinh thần, tự phân biệt với thể ác, ch ng hạn: Thân thể ở trong lao - Tinh thần ở ngoài lao” (Hồ Chí Minh). Thứ hai, Cái tôi có chức năng duy trì sự đồng nhất bản chất tinh thần của mình qua bao nhiêu biến đổi, thăng trầm, ly hợp, tạo cho mình một sự thống nhất bền vững, ch ng hạn: Vẫn còn nguyên v n niềm yêu - Như cây tứ qu đất ngh o nở hoa” (Xuân Quỳnh),… Thứ ba, Cái tôi có chức năng định hướng, ác lập chí hướng cho tính tích cực. Người ưa thường nói chí”, thơ ngôn chí, như một thuộc tính của cái tôi. Dù cho chí được hiểu một cách thô sơ như là cái khí ở trong tim hướng về đạo thì 14 nó vẫn là cái đích mà cái tâm hướng tới.
Chí là cái đích của hành động và suy nghĩ. Chí ở non cao hay ở nước sâu, ở đồng ruộng hay ở lầu son gác tía thì cũng là yếu tố l tưởng, sứ mệnh, nơi gửi gắm trọn v n nghĩa cuộc đời, một phương diện cơ bản của cái tôi. Thứ tư, Cái tôi có chức năng nội cảm hoá toàn bộ thế giới tạo thành cái thế giới chủ quan hết sức độc đáo. Đặc điểm này làm cho cái tôi có sức dung chứa vô hạn.
Cuộc đời càng phong phú, sức nội cảm của cái tôi càng bao la, siêu phàm. Năng lực nội cảm này lấy cái tôi làm trung tâm, quy thế giới về mình, làm cho mỗi người có riêng một thế giới, một trật tự thế giới. Đó là thế giới của giá trị, thế giới của cái nhìn. Thứ năm, Cái tôi có chức năng ây dựng hình ảnh, quan niệm về chủ thể, cho chủ thể.
Cái tôi luôn luôn tự ác định, hình dung về bản thân mình, ch ng hạn : Ngâm thơ ta vốn không ham…” (Hồ Chí Minh) ; Đường về thu trước a lăm lắm - Mà kẻ đi về có một tôi” (Chế Lan Viên) ; Hồn tôi là một vườn hoa lá - Rất đậm hương và rộn tiếng chim” (Tố Hữu)… Thứ sáu, Cái tôi không phải là một đại lượng đơn nhất, thuần nhất. Trước đây, Hegel đã em cái chủ quan là một sự thống nhất của nhiều mâu thuẫn đối lập.Freud chú đến ung đột của bản ngã, tự ngã, siêu ngã. Phát triển niệm của Hegel, nhà triết học Mỹ Josiah Royce ác nhận: con người ta không cô độc, không thể chỉ có một cái tôi thuần tu , mà phải là một thế giới do nhiều cái tôi hợp thành. Royce nói tiếp: Tôi muốn trở thành chính tôi thì tôi phải không ngừng phân hoá, tôi không thể là tôi thuần tu , tôi phải vứt bỏ cô lập, dấn thân vô nhân quần.
Tôi chiếm lĩnh tôi có nghĩa là tôi phải vứt bỏ bản thân tôi trong một số mối liên hệ nào đó” … Từ cách l giải trên, có thể thấy cái tôi” luôn gắn với những bước tiến hóa của nhân loại trong quan niệm về con người của triết học, nó đã ảnh hưởng đến thức nghệ thuật văn chương trong việc thiết lập quan niệm về cái tôi trữ tình. Suy cho cùng, cái tôi trong thế giới trữ tình có nguồn gốc từ cái tôi trong triết học, nhưng vào thế giới thơ ca nó lại có một diện mạo rất riêng, với những dạng thức khác nhau. Vì vậy, khi đi vào làm r bản chất của cái tôi, chúng ta 15 không thể quy cái tôi cá nhân với cái tôi trữ tình thuần túy, cũng như không thể đồng nhất cái tôi trữ tình với cái tôi cá nhân ấy, càng không thể hợp nhất cái tôi trữ tình, cái tôi tác giả và cái tôi nhà thơ về một mối. Có thể hiểu, cái tôi trữ tình” là nguồn gốc của thơ trữ tình.
Cái tôi trữ tình Thơ trữ tình là một thể loại từ lâu đã được kh ng định là vương quốc chủ quan” (Biêlin ki), là sự biểu hiện và cảm thụ chủ thể” (Hêghen), trong đó tính chủ quan vừa là nguyên tắc tiếp cận đời sống, vừa là nguyên tắc ây dựng thế giới nghệ thuật. Vì vậy, để đánh giá được bất kỳ một giai đoạn thơ nào, cũng đều phải dựa trên mối quan hệ giữa thơ với đời sống, dựa trên những biến động về thức của cái tôi trữ tình. Trong thơ, cái tôi trữ tình là hình thức tự thức của tác phẩm trữ tình. Khái niệm cái tôi trữ tình, do đó có khả năng khái quát được mối quan hệ giữa thơ và đời sống, bao quát được toàn bộ thế giới tinh thần của chủ thể.
Chủ quan là đặc trưng nội dung của thơ trữ tình. Cái tôi là đơn vị biểu hiện của nội dung đó. Nó tồn tại như một yếu tố trung tâm, có thể liên kết, thống nhất các yếu tố khác của thể loại như đề tài, cảm hứng, tư tưởng, nhân vật trữ tình, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ. Sự phát triển và phong phú của nội dung thơ trữ tình gắn liền với sự phát triển của các yếu tố hình thức trữ tình.
Vì vậy, trên cơ sở miêu tả bức tranh cụ thể về loại hình cái tôi trữ tình trong từng giai đoạn lịch sử, có thể thấy được sự chi phối của cái tôi trữ tình tới các nguyên tắc ây dựng thế giới nghệ thuật của thơ trữ tình, tức có khả năng tìm hiểu được quy luật vận động của thể loại thơ trữ tình như là sự vận động của cái tôi trữ tình. Từ thời cổ, ri tôt trong gh thuật th ca đã nhận thấy trữ tình là sự thay mặt (nhân danh) để trình bày. Cái cá nhân, cái chủ quan không được nhắc đến nhưng được quan niệm như sự thay thế về ngôi kể và đối tượng kể. Đến giai đoạn chủ nghĩa lãng mạn trong văn học châu Âu thế kỷ XVIII, thức về giải phóng cá tính phát triển, quan niệm về cái chủ quan trong thơ trữ tình đã tiến thêm một bước.
Khi trình bày phần Các nghệ thuật lãng mạn trong công trình Mĩ học đồ sộ của mình, Hêghen đã lí giải rất sâu sắc về thể loại trữ tình.