MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xuân Diệu là nhà thơ lớn, nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Trong sự nghiệp thơ của ông, ông đã để lại nhiều tác phẩm tuyệt vời trước và sau Cách mạng tháng Tám như: Yêu, Vội Vàng, Chiều, Lời kĩ nữ, Đàn, Tương tư,…. Tất cả những tác phẩm điều mang tâm hồn thơ về tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, tình yêu say đắm.
Tuy nhiên, nói đến giá trị thơ của Xuân Diệu phải nhắc đến cái tôi được cảm nhận ở tấm lòng, tài năng của ông. Thơ trước Cách mạng tháng Tám đáng kể nhất là hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió, mang hồn thơ lãng mạn, thiết tha và sâu lắng. Với Thơ thơ và Gửi hương cho gió mặc dù đã ra đời cách đây khoảng 76 năm nhưng vẫn không thay đổi giá trị của nó về tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống. Bài thơ Vội vàng đã nói lên giá trị sử dụng cảm xúc, cảm giác rất đổi đời thường vào trong thơ của Xuân Diệu: Ta muốn ôm, tôi muốn buộc gió, ta muốn riết mây, ta muốn thâu, ta muốn cắn, hôn, … tình yêu tuổi trẻ được tác giả cảm nhận rất mạnh mẽ, say đắm, khát khao tình yêu cuộc sống: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! (Vội Vàng) Các nhà phê bình đã đánh giá rất cao về nghệ thuật và giá trị nội dung trong thơ của ông.
Để làm nên giá trị trong hai tập thơ, Xuân Diệu thể hiện tài năng sử dụng giá trị sáng tạo từ mới, hình ảnh thơ, dùng từ, biện pháp nghệ thuật trong thơ. Đặc biệt phải nói đến cách nhìn nhận tài năng của ông trong so sánh tu từ qua hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió: Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo; Tình thì buồn như tất cả chia ly. Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo; Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi (Tình thứ nhất) Chính những điều đó đã làm cho thơ ông hay và có giá trị hơn. Khi ông chứng tỏ tài năng của mình không chịu dừng bước với những khuôn mẫu sẵn có và với nội dung tư tưởng mới, điều đó càng tạo ra những bước tiến đột biến, đặc sắc trong thơ.
Là một sinh viên học ngành Ngữ văn, bản thân tôi rất thích thơ Xuân Diệu từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Tôi luôn khao khát được một lần tìm hiểu, đi sâu vào nghiên cứu thơ ông. Tôi yêu thơ ông bởi thơ ông đem đến tình yêu cuộc sống, giá trị cuộc sống, tình yêu trong sáng, hồn nhiên: Em đáp lại: “Nói gì đau đớn vậy! Vừa gặp anh, em cũng đã mến rồi. Em phải đâu là ngọn nước trôi xuôi; Chưa hi vọng, sao anh liền thất vọng? (Hẹn hò) Chính vì lẽ đó, tôi quyết định chọn đề tài So sánh tu từ trong thơ Xuân Diệu qua hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ hiểu rõ hơn về thơ Xuân Diệu cả về nội dung cũng như hình thức thơ của ông. Tôi hi vọng có thể đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong việc nghiên cứu vấn đề về so sánh tu từ trong thơ và để góp thêm một ý kiến về việc đánh giá tài năng của nhà thơ Xuân Diệu. Lịch sử vấn đề Có thể thấy rằng, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu từ lâu đã trở thành đề tài của giới nghiên cứu, phê bình văn học. Chỉ riêng về thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu cũng đã làm hao tốn biết bao công sức, giấy mực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Tuy nhiên trong giới hạn đề tài, người viết chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu, với những ý kiến tiêu biểu nói về so sánh tu từ trong thơ Xuân Diệu. Từ những ý kiến này, người viết có thể nhận thấy đề tài của người viết mang tính kế thừa hoặc hoàn toàn mới mẻ. - Về góc độ tác giả: Khi nói về phong trào thơ Mới, không ai lại không nhớ đến Xuân Diệu. Người ta nhớ đến ông bởi ông được xem là người dẫn đầu trong phong trào thơ Mới trước Cách mạng tháng Tám.
Đặc biệt, Xuân Diệu cũng đã rất thành công trên con đường nghệ thuật. Vì vậy, thơ ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Cho nên, khi nghiên cứu về Xuân Diệu cũng như tác phẩm thơ của ông, các nhà phê bình đã đưa ra rất nhiều ý kiến hay và độc đáo. Trong “Thi nhân Việt Nam”, tác giả Hoài Thanh- Hoài Chân đã viết: “Bởi Xuân Diệu đã gửi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất nước, bao nhiêu nỗi niềm riêng của thanh niên bây giờ- Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới- nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê.
Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã năm năm mà những tiếng khen chê vẫn chưa ngớt. Người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời”.108] Qua ý kiến trên, tác giả Hoài Thanh đã đánh giá về vấn đề tài năng và sự đổi mới trong thơ Xuân Diệu qua hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Chính từ những vấn đề này đã dẫn đến “Người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời”.108] Trong công trình “Thơ Xuân Diệu- những lời bình”, của tác giả Mã Giang Lân với bài viết “Xuân Diệu”, nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét về nội dung trong những tác phẩm thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám như sau: “Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh thần cố hữu của nòi giống.
Vả chăng tinh thần một nòi giống có cần gì phải bất di bất dich. Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt hôm qua? Nêu ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ, rồi bảo: người Việt Nam phải như thế, là một điều tối vô lí. Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở nước non này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quý t, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình.
Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết”.25] Tên tuổi nhà thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám gắn liền với hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Vì vậy, cũng có rất nhiều ý kiến của các nhà phê bình nhận xét về hai tập thơ này như sau: Trong “Khảo luận văn chương”, tác giả Hà Minh Đức cho rằng: “Với Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu đã thực hiện sự đưa thơ mới lên ngôi trên thi đàn với khuôn mặt trẻ trung, tươi thắm và hấp dẫn chưa từng có. Thơ thơ và Gửi hương cho gió hai thi phẩm mang dấu ấn của một tài năng sáng tạo thơ nhưng cũng lại chứa đựng nhiều phẩm chất riêng. Thơ thơ là niềm vui ánh sáng, nụ cười của tuổi trẻ yêu đời, khát khao hạnh phúc.
Và Gửi hương cho gió với giọng điệu trầm sâu hơn và đã thấm hương vị đời xót xa, cay đắng trong những năm tháng đất nước có nhiều chuyển động để thay đổi. Bút pháp nghệ thuật đều mới mẻ, sáng tạo hấp dẫn. Nhưng điều quan trọng là Xuân Diệu đã đem đến trong thơ sức sống mới, cách cảm nghĩ mới của một tâm hồn chan chứa lòng yêu đời”.345-346] Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”, tác giả Phong Lê khẳng định rằng: “Xuân Diệu có nét lớn xuyên suốt cả thời kì sáng tạo; đó là tiếng nói sôi nổi tha thiết một cách bộc trực, trẻ trung, một năng lực cảm thụ tinh tế, dồi dào. Nếu Huy Cận đôn hậu và sâu sắc, chú ý khai thác chọn lọc và tổng hợp những vấn đề dân tộc, lịch sử, nhân loại với những suy nghĩ về thế kỉ, vũ trụ, tạo nên một mạch triết lý trong thơ, thì Xuân Diệu bộc lộ phong cách sáng tạo khác.
Anh quan sát tỉ mỉ những đổi thay trong cuộc sống xung quanh, anh muốn chiếm lĩnh thực tại rộng lớn, thơ anh giàu chất liệu hiện thực”. “Một nét đặc sắc nữa trong phong cách thơ Xuân Diệu là giàu hương vị cuộc đời gây tác động mạnh bằng cảm giác”.19] Trong “Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu”, Lữ Huy Nguyên tuyển chọn. Ông đã trích bài viết về nhà thơ Xuân Diệu của tác giả Phạm Tiến Duật. Trong bài viết này Phạm Tiến Duật đã khẳng định: “Trong ngôn ngữ của anh, khi cởi mở, khi cay nghiệt, lúc tỉnh táo, lúc mê say, luôn luôn đập một trái tim trung thực, luôn luôn hồi hộp một nỗi niềm khám phá.
Tất cả sự lớn lao của Xuân Diệu bắt đầu từ cái lẽ giản dị sâu sắc ấy”.135] Qua nhận xét của các nhà phê bình trên, người viết nhận thấy các ý kiến tập trung vào sự sáng tạo từ mới và nét đặc sắc trong việc dùng từ của nhà thơ Xuân Diệu trong thơ. - Về góc độ ngôn ngữ: Trong giáo trình “Giáo trình Phong cách học Tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Văn Nở đã cho rằng: “So sánh (comparison, analogy), còn được gọi là tỉ dụ, biện pháp tu từ dùng sự đối chiếu hai chiều hay nhiều đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”.132] Trong công trình “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc nhận xét: “So sánh (còn gọi: so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”.154] Trong quyển “Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt”, tác giả Cù Đình Tú đã khẳng định: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng”.