Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Xuân Diệu - từ quan niệm nghệ thuật đến sáng tạo thơ" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Thị Thu Hương dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Văn Lân, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017.

Thông tin cơ bản Chi tiết
Tác giả luận án Vũ Thị Thu Hương
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số chuyên ngành 62 22 34 01
Người hướng dẫn khoa học GS. Lê Văn Lân
Chủ tịch Hội đồng đánh giá PGS. Phạm Quang Long
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm hoàn thành 2017

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuân Diệu là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam, hoạt động liên tục và có khối lượng sáng tác phong phú qua cả hai thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996. Bên cạnh hoạt động sáng tác thơ, văn xuôi và dịch thuật, Xuân Diệu còn tham gia nghiên cứu, lý luận phê bình với hệ thống quan điểm nghệ thuật được đúc kết từ thực tiễn.

Trước đây, đã có hàng trăm công trình, bài viết tiếp cận di sản của Xuân Diệu nhưng phần lớn tập trung vào phong cách, các chặng đường sáng tác đơn lẻ (chủ yếu là giai đoạn Thơ mới 1932 - 1945), mảng thơ tình hoặc một số khía cạnh thi pháp riêng biệt. Trong khi đó, việc khảo sát một cách có hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu và sự chi phối mang tính quy luật của hệ thống quan niệm này đối với toàn bộ thực tiễn sáng tạo thơ của ông trên cả hai chặng đường trước và sau năm 1945 vẫn chưa được giải quyết đầy đủ. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Khảo sát hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu và mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật với sáng tạo thơ của ông, qua đó góp phần khẳng định vị trí và đóng góp của Xuân Diệu trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại.
  2. Đánh giá hành trình sáng tác thơ Xuân Diệu như một quá trình vận động phát triển gắn liền với lịch sử văn học dân tộc, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm đối với hoạt động sáng tạo nghệ thuật.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Xác lập và phân tích hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu về thơ, về nhà thơ và về hoạt động sáng tạo thơ.
  2. Khảo sát và luận giải sự chuyển hóa từ quan niệm nghệ thuật đến những cấp độ sáng tạo cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu.
  3. Phân tích sự chi phối của quan niệm nghệ thuật đến các hình thức sáng tạo nghệ thuật (ngôn ngữ, tứ thơ, câu thơ, thể thơ, nhịp điệu) trong toàn bộ sự nghiệp thơ của tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu và cơ chế chi phối của quan niệm nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác thơ của ông trên cả hai bình diện nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật.
  • Phạm vi khảo sát văn bản: Toàn bộ 15 tập thơ đã xuất bản của Xuân Diệu trải dài từ năm 1939 đến 1982, gồm: Thơ thơ (1939), Gửi hương cho gió (1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới sao vàng (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982), kết hợp cùng các tập tiểu luận, phê bình văn học do tác giả công bố.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu về Xuân Diệu qua các giai đoạn và nhóm chuyên đề:

Tiến trình nghiên cứu về Xuân Diệu:

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Giai đoạn trước năm 1945:

    • Thế Lữ (1937) trong bài giới thiệu đầu tiên và lời tựa tập Thơ thơ đã nhận định Xuân Diệu là "người của đời, một người ở giữa loài người", xây dựng "lầu thơ trên đất của một tấm lòng trần gian".
    • Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1941/1942) đã tuyển chọn 15 bài thơ của Xuân Diệu (nhiều nhất trong tập sách) và đưa ra định danh "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới".
    • Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) nhấn mạnh nguồn cảm hứng và các thử nghiệm ngôn từ mới; Trần Thanh Mại (Thơ thơ và Xuân Diệu) phân tích nhạc điệu và độ chín ngôn ngữ; Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) xếp Xuân Diệu vào ba tác giả Thơ mới tiêu biểu (cùng Hàn Mặc Tử, Thế Lữ); Thái Phỉ (báo Tin Văn) nêu ý kiến phê phán gay gắt đối với phong cách diễn đạt chịu ảnh hưởng phương Tây.
  2. Giai đoạn 1945 - 1975:

    • Tại miền Bắc, Hoài Thanh (1964), Hồng Chương, Hồ Ngọc Hương (1959 trên tạp chí Văn nghệ) từng nhìn nhận khắt khe mảng thơ lãng mạn thời kỳ trước Cách mạng; Xuân Diệu trực tiếp trao đổi và bảo vệ giá trị nhân văn của bài thơ Lời kỹ nữ. Phan Cự Đệ (Phong trào Thơ mới), Trường Chinh, Tố Hữu, Nguyễn Hoành Khung (Lịch sử văn học Việt Nam), Hà Minh Đức (Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975), Mã Giang Lân (Nhà thơ Việt Nam hiện đại) đã phân tích tiến trình vận động tư tưởng của nhà thơ trong chế độ mới.
    • Tại miền Nam trước 1975, các công trình của Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử - Giản ước tân biên), Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng (Thi nhân tiền chiến) nghiên cứu diện mạo thơ Xuân Diệu trong mối liên hệ với các trường phái Lãng mạn - Tượng trưng phương Tây.
  3. Tiếp nhận quốc tế:

    • Nam Chi nhận định về sức sống của Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Mireille Gansel (Mitrây Găngxen) gọi Xuân Diệu là "người hát dạo của nhân dân trong thời kỳ hiện đại"; nữ thi sĩ Bulgaria Blaga Dimitrova và dịch giả Marian Tcasep khẳng định cảm quan gắn bó mãnh liệt với sự sống trong thơ ông.
  4. Giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay:

    • Hoàng Trung Thông (Lời giới thiệu Tuyển tập thơ Xuân Diệu), Lê Đình Kỵ (Thơ mới những bước thăng trầm), Hà Minh Đức (Khảo luận văn chương, Xuân Diệu - "Vây giữa tình yêu", Xuân Diệu nhà thơ tiên phong), Nguyễn Đăng Mạnh (Xuân Diệu - nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, Tư tưởng và phong cách một nhà thơ lớn), Đỗ Lai Thúy (Xuân Diệu - nỗi ám ảnh thời gian), Chu Văn Sơn (Ba đỉnh cao Thơ mới), Vương Trí Nhàn, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thị Hồng Nam, Hoàng Nhân, Phạm Xuân Nguyên đều đi sâu vào từng khía cạnh lý luận, mỹ học và ngôn ngữ.
    • Các luận án tiến sĩ chuyên đề: Lưu Khánh Thơ (1994, Thơ tình Xuân Diệu), Lý Hoài Thu (1995, Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945), Lê Quang Hưng (1996, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước cách mạng tháng Tám 1945), Nguyễn Thị Thanh Hà (2002, Xuân Diệu - nhà nghiên cứu phê bình thơ), Phan Ngọc Thu (2002, Đóng góp của nhà thơ Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Phần lớn các công trình nghiên cứu nêu trên tiếp cận thơ Xuân Diệu theo từng giai đoạn lịch sử riêng biệt hoặc chia tách giữa hoạt động sáng tác thơ và hoạt động tiểu luận phê bình. Luận án này đặt trọng tâm vào việc kết nối hai bình diện: hệ thống hóa các quan niệm lý luận của tác giả (về bản chất thơ, mối quan hệ thơ - đời, thiên chức nhà thơ, kỹ thuật sáng tạo) và chứng minh sự chuyển hóa, chi phối trực tiếp của các quan niệm đó vào cấu trúc cái tôi trữ tình cũng như các phương thức biểu đạt nghệ thuật trong toàn bộ 15 tập thơ từ 1939 đến 1982.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết thi pháp học hiện đại và tâm lý học sáng tạo nghệ thuật:

  • Khái niệm quan niệm nghệ thuật: Xem quan niệm nghệ thuật là hạt nhân tư tưởng, hệ quy chiếu thẩm mỹ định hình phương thức nhận thức, cảm thụ hiện thực và chi phối việc lựa chọn các phương tiện biểu hiện nghệ thuật của người nghệ sĩ.
  • Mối quan hệ biện chứng giữa tư duy lý luận và thực tiễn sáng tác: Tiếp cận các phát biểu, tiểu luận phê bình của tác giả như một hệ thống ý thức tự giác, từ đó đối chiếu với thực tế tác phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn học:

Phương pháp Cách thức áp dụng trong luận án
Phương pháp hệ thống Đặt quan niệm nghệ thuật và sáng tác thơ của Xuân Diệu trong một chỉnh thể thống nhất; khảo sát sự tương tác giữa tư tưởng, phương pháp và phong cách trong tiến trình vận động lịch sử.
Phương pháp phân loại, thống kê Khảo sát, phân nhóm các hiện tượng nghệ thuật cụ thể (hệ thống từ ngữ, kiểu câu thơ, các thể thơ, nhịp điệu) trên toàn bộ văn bản khảo sát.
Phương pháp so sánh, đối chiếu So sánh đồng đại và lịch đại: đối chiếu thơ Xuân Diệu với các tác giả cùng thời kỳ Thơ mới (Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu), với thơ ca truyền thống dân tộc và các trường phái thơ phương Tây (Baudelaire, Mallarmé, Rimbaud, Verlaine).
Phương pháp nghiên cứu liên ngành Kết hợp các tri thức lịch sử, văn hóa, xã hội học và tâm lý học nghệ thuật để giải mã các hiện tượng văn học trong bối cảnh cụ thể của từng giai đoạn.

Nguồn dữ liệu khảo sát

  • Nguồn tư liệu sáng tác: 15 tập thơ chính thức của Xuân Diệu từ 1939 đến 1982.
  • Nguồn tư liệu lý luận: Các công trình tiểu luận, phê bình, ghi chép và các bài nói chuyện về nghề thơ của Xuân Diệu được in trong các tập sách, tạp chí chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này thực hiện việc tổng hợp và phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu tác gia Xuân Diệu theo bốn nội dung lớn:

  1. Đánh giá chung về thơ Xuân Diệu từ năm 1937 đến nay qua các thời kỳ lịch sử văn học.
  2. Các công trình và bài viết bàn về quan niệm nghệ thuật của tác giả.
  3. Các nghiên cứu về sáng tạo nội dung cảm xúc và đổi mới hình thức nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu.
  4. Lịch sử tiếp cận mối quan hệ chi phối từ quan niệm nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác thơ.

Chương 1 chỉ ra rằng các công trình đi trước đã xây dựng nền tảng vững chắc về văn bản và chân dung tác giả, tạo tiền đề để luận án đi sâu giải quyết mối liên hệ hệ thống giữa ý thức lý luận và sáng tạo thực hành.

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu

Chương 2 phân tích cấu trúc hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu trên ba phương diện chính:

Hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu:
  • Quan niệm về thơ:
    • Bản chất của thơ: Xuân Diệu khẳng định thơ là sự kết hợp hữu cơ giữa tình cảm và tư tưởng; thơ phải xuất phát từ rung động mãnh liệt của trái tim nhưng cần có bản lĩnh tư tưởng dẫn dắt. Thơ là sản phẩm sáng tạo mang tính cá thể sâu sắc, đòi hỏi mỗi nhà thơ phải có một "điệu cảm", "giọng điệu riêng biệt" không trộn lẫn. Về quan niệm "thơ khó" và "thơ thuần túy", Xuân Diệu tiếp thu lý thuyết tương hợp (correspondances) của Charles Baudelaire ("thơ khó vô tâm") hơn là lối thơ tối nghĩa cố ý của Stéphane Mallarmé.
    • Thơ và cuộc sống: Thơ phải bắt nguồn từ hiện thực đời sống khách quan. Xuân Diệu đề cao quy luật "thực tế nung nấu trong tâm trí người viết để nhào luyện thành văn". Ông xác lập nguyên tắc thơ phải lấy tính chân thật làm nền tảng cốt lõi ("Chân, chân, chân! Thật, thật, thật!"), phản đối thứ thơ làm duyên làm dáng. Đồng thời, ông đưa ra quan niệm về trạng thái sáng tác "say tỉnh" - say mê cảm xúc nhưng tỉnh táo về mặt lý trí và quy luật thẩm mỹ.
  • Quan niệm về nhà thơ:
    • Nhà thơ phải là "kỹ sư tâm hồn" (tiếp thu khái niệm từ đời sống văn học hiện thực), dùng chính tâm hồn mình làm công cụ thấu hiểu tâm hồn người khác.
    • Làm thơ là một cuộc đấu tranh nghiêm túc, đòi hỏi người cầm bút phải rèn luyện đạo đức, tư tưởng nhân đạo và giữ được sự "già dặn của tư tưởng" đi đôi với sự "trẻ trung thường trực của cảm xúc".
  • Quan niệm về sáng tạo thơ:
    • Khẳng định thứ tự ưu tiên trong lao động nghệ thuật: "thứ nhất là sáng tạo chất sống, thứ nhì là sáng tạo chất sống, thứ ba, thứ tư mới đến sáng tạo ngôn ngữ". Ông khẳng định việc trau chuốt câu chữ đơn thuần mà thiếu chất sống chỉ tạo ra thơ loại hai.

Chương 3: Từ quan niệm đến những cấp độ sáng tạo cái tôi trong thơ Xuân Diệu

Chương 3 khảo sát sự hiện thực hóa hệ thống quan niệm vào các phương diện biểu hiện của hình tượng cái tôi trữ tình qua các giai đoạn sáng tác:

  • Cái tôi lãng mạn:
    • Cái tôi đậm hương sắc thiên nhiên: Thể hiện qua cảm quan đón nhận vẻ đẹp vạn vật bằng mọi giác quan, niềm giao cảm với thời gian, mùa thu và cỏ cây hoa lá trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió.
    • Cái tôi yêu đương say đắm: Khát vọng luyến ái, yêu chân thành, cuồng nhiệt; biểu hiện cái tôi cá nhân khao khát vượt qua nỗi cô đơn trần thế để gắn kết với tha nhân.
  • Cái tôi gắn với thời đại và trách nhiệm công dân:
    • Cái tôi gắn với đời: Chuyển từ nỗi trăn trở bám vào đời thời kỳ Thơ mới sang sự hòa nhập sâu sắc với thực tiễn xã hội mới sau năm 1945.
    • Cái tôi gắn với cách mạng: Xuất hiện xuyên suốt các tập thơ Ngọn quốc kỳ, Dưới sao vàng, Riêng chung, Hai đợt sóng; nhà thơ tự nguyện gắn kết "cùng xương thịt với nhân dân", tham gia chiến đấu và lao động sản xuất.
    • Cái tôi ý thức, trách nhiệm: Thể hiện rõ bổn phận công dân của người nghệ sĩ trước những nhiệm vụ lịch sử của đất nước.
  • Cái tôi chân thật:
    • Sự nhất quán trong việc bộc lộ cảm xúc thật, tránh sự giả tạo, ước lệ; thể hiện cái tôi thẳng thắn, bộc trực cả trong những thành công lẫn những trăn trở của đời sống cá nhân và thời đại.

Chương 4: Từ quan niệm đến những sáng tạo nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu

Chương 4 khảo sát sự chuyển hóa của quan niệm nghệ thuật sang các thành tố hình thức cụ thể:

  • Sáng tạo ngôn ngữ thơ: Phân loại và khảo sát ba hệ thống từ ngữ:
    • Hệ từ ngữ hiện đại: Cách kết hợp từ táo bạo, sử dụng các từ ngữ diễn tả trực tiếp cảm giác, cảm xúc tinh vi theo lối tư duy mới.
    • Hệ từ ngữ truyền thống: Tiếp thu và khai thác vốn từ ngữ cổ điển, ca dao, dân ca ba miền (Ví dặm Xứ Nghệ, Bài chòi Trung Bộ, dân ca Bắc Bộ).
    • Hệ từ ngữ kết tinh truyền thống và hiện đại: Sự hòa hợp nhuần nhuyễn giữa cấu trúc câu hiện đại và hồn cốt ngôn ngữ dân tộc.
  • Sáng tạo tứ thơ:
    • Tứ thơ hình thành từ cuộc sống: Bắt nguồn từ các sự kiện đời sống thực tế, các chuyến đi thực tế sản xuất và chiến đấu (khu vực tuyến lửa Khu Bốn, các vùng công nghiệp, nông thôn).
    • Tứ thơ hình thành từ tư duy nghệ thuật của nhà thơ: Những suy ngẫm triết lý về thời gian, tình yêu, sự sống và cái chết.
  • Sáng tạo câu thơ:
    • Kỹ thuật câu thơ vắt dòng (enjambement): Tạo sự liên tục, dồn dập cho mạch cảm xúc và phá vỡ khuôn khổ tĩnh tại của câu thơ truyền thống.
    • Câu thơ kết bài: Khảo sát các hình thức kết bài bất ngờ, mở rộng trường nghĩa hoặc đọng lại dư ba cảm xúc.
    • Các kiểu câu thơ linh hoạt: Câu khẳng định, câu nghi vấn, câu cảm thán đan xen thể hiện điệu nói tự nhiên.
  • Cải biến thể thơ:
    • Từ hình thức thơ nước ngoài: Đổi mới thể thơ tám chữ với cách ngắt nhịp tự do, thể thơ tự do tiếp thu từ thi pháp phương Tây.
    • Từ hình thức thơ dân tộc: Cải biến thể thơ lục bát và song thất lục bát truyền thống bằng cách đưa vào nhạc điệu, hơi thở và ngữ điệu của ngôn ngữ hiện đại.
  • Sáng tạo nhịp điệu thơ: Nhịp điệu biến đổi linh hoạt theo bước đi của cảm xúc, chuyển dịch từ điệu ngâm sang điệu nói, phản ánh sự sôi nổi, khẩn trương của đời sống.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới trên hai phương diện lý luận và thực tiễn:

Các đóng góp mới của luận án:

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm rõ quan niệm nghệ thuật và thực tiễn sáng tác của Xuân Diệu luôn có sự nhất quán nội tại xuyên suốt hành trình trước và sau năm 1945, chỉ ra những điểm phù hợp với quy luật phát triển của văn học và những điểm chịu sự chi phối mang tính lịch sử.
  2. Thiết lập một khung nghiên cứu hệ thống nhằm tiếp cận một tác gia văn học từ điểm xuất phát là hệ thống quan niệm thẩm mỹ đến toàn bộ quá trình hiện thực hóa trong tác phẩm, đóng góp thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thơ hiện đại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Rút ra các bài học kinh nghiệm về lao động nghệ thuật từ trường hợp Xuân Diệu: thái độ nghiêm túc với nghề, ý thức trau dồi vốn sống thực tế, việc giữ gìn bản sắc cá nhân trong sáng tạo và sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại.
  2. Cung cấp một nguồn tài liệu tham khảo hệ thống, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập chuyên đề về tác gia Xuân Diệu tại các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng.

Đề xuất khoa học

Luận án đề xuất khi nghiên cứu và giảng dạy về các tác gia có tầm vóc lớn trong văn học hiện đại, cần tiếp cận đồng thời cả mảng sáng tác và mảng lý luận, phê bình của chính tác giả để có được cái nhìn toàn diện, tránh sự phân mảnh hoặc đánh giá phiến diện theo từng giai đoạn lịch sử.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát trọng tâm vào mảng thơ ca và hệ thống tiểu luận phê bình của Xuân Diệu; mảng sáng tác văn xuôi nghệ thuật (truyện ngắn, bút ký) chỉ được khảo sát ở mức độ tư liệu bổ trợ, chưa được phân tích sâu như một hệ thống độc lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc đối sánh hệ thống quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu với các tác giả cùng thế hệ như Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên để làm rõ hơn diện mạo của quá trình chuyển đổi thi pháp thơ Việt Nam thế kỷ XX.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học Việt Nam: Tham khảo khung phương pháp luận kết nối giữa quan niệm nghệ thuật và thi pháp thể loại, cũng như kỹ thuật khảo sát văn bản tác gia toàn tập.
  • Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Sử dụng các tư liệu phân tích cụ thể về ngôn ngữ, câu thơ, thể thơ và nhịp điệu thơ Xuân Diệu trong các chương 3 và 4 để phục vụ bài giảng tác gia ở bậc đại học và trung học phổ thông.
  • Người sáng tác văn học trẻ: Tiếp cận các bài học nghề nghiệp về ý thức lao động nghệ thuật, sự tích lũy vốn sống và kỹ thuật xử lý ngôn ngữ được đúc kết từ thực tiễn của Xuân Diệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Quan niệm về mối quan hệ giữa thơ và cuộc sống của Xuân Diệu có điểm gì khác biệt so với các nhà thơ lãng mạn cùng thời?

Trước năm 1945, trong khi nhiều nhà thơ lãng mạn có xu hướng thoát ly thực tế hoặc tìm về quá khứ, Xuân Diệu vẫn khẳng định thơ phải gắn với trần thế và sự sống ("Lầu thơ xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian"). Sau năm 1945, ông phát triển quan niệm này thành nguyên tắc hiện thực triệt để: thơ phải lấy cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân làm nguồn chất liệu cốt lõi và lấy tính chân thật làm nền tảng thẩm mỹ hàng đầu ("Chân, chân, chân! Thật, thật, thật!").

2. Xuân Diệu tiếp thu quan niệm "thơ khó" từ các nhà thơ phương Tây như thế nào?

Xuân Diệu phân biệt hai loại thơ khó: "thơ khó cố ý" mang tính tối tăm, bí hiểm của Stéphane Mallarmé và "thơ khó vô tâm" của Charles Baudelaire (thơ dồn nén tinh chất của sự sống, đòi hỏi người đọc phải đọc kỹ mới hiểu). Thực tiễn sáng tác cho thấy Xuân Diệu chủ yếu tiếp thu thuyết tương hợp (hương thơm, màu sắc, âm thanh) của Baudelaire, giữ cấu trúc thơ biểu cảm, trong sáng chứ không theo đuổi lối thơ bí hiểm của Mallarmé hay Paul Valéry.

3. Khái niệm nhà thơ là "kỹ sư tâm hồn" được Xuân Diệu định nghĩa ra sao?

Xuân Diệu tiếp thu khái niệm "kỹ sư tâm hồn" để khẳng định thiên chức của nhà văn là phải đi sâu vào thế giới nội tâm con người, dùng chính tâm hồn mình làm công cụ thấu hiểu tâm hồn người khác, phân biệt văn học với sự phản ánh thông tin đơn thuần của báo chí. Nhà thơ cần có sự chín chắn, già dặn của tư tưởng kết hợp với sự tươi mới, trẻ trung thường trực của cảm xúc.

4. Thứ tự ưu tiên trong sáng tạo thơ theo quan niệm của Xuân Diệu là gì?

Xuân Diệu khẳng định: thứ nhất là sáng tạo chất sống, thứ nhì là sáng tạo chất sống, sau đó mới đến sáng tạo ngôn ngữ. Ông cho rằng thơ quá trau chuốt về vỏ ngôn từ nhưng thiếu hụt chất sống từ thực tế đời sống thì chỉ đạt mức độ thơ loại hai.

5. Luận án khảo sát những sáng tạo hình thức nào trong thơ Xuân Diệu tại Chương 4?

Chương 4 khảo sát năm phương diện sáng tạo hình thức gồm: sáng tạo hệ thống ngôn ngữ (hệ từ ngữ hiện đại, truyền thống, kết tinh truyền thống - hiện đại); sáng tạo tứ thơ (từ cuộc sống và từ tư duy triết luận); sáng tạo câu thơ (câu vắt dòng, câu kết bài, các kiểu câu linh hoạt); cải biến thể thơ (thể thơ tám chữ, thơ tự do, thơ lục bát, song thất lục bát); và sáng tạo nhịp điệu thơ theo mạch cảm xúc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thu Hương đã giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ hữu cơ giữa quan niệm nghệ thuật và thực tiễn sáng tạo thơ của tác gia Xuân Diệu qua 15 tập thơ và các tập tiểu luận phê bình. Bằng việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn học, công trình đã làm sáng tỏ sự chuyển hóa nhất quán từ tư duy lý luận sang cấu trúc cái tôi trữ tình và các hình thức biểu đạt nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc đánh giá toàn diện di sản văn học của Xuân Diệu mà còn cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị về lao động nghệ thuật và phương pháp tiếp cận tác gia trong văn học Việt Nam hiện đại.