đặt vấn đề ảnh hưởng sâu rộng của nó và cho rằng tập Từ ấy của Tố Hữu cũng là sự “thoát thai” từ phong trào thơ ca này. Ý kiến của Xuân Diệu đã gây phản ứng quyết liệt đối với một số nhà phê bình, thành một dịp để họ phê phán trào lưu thơ lãng mạn triệt để hơn, tập trung vào chính sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Xuân Diệu. Ông đã thể hiện bản lĩnh nghệ sĩ của mình: “Thơ mới là một trong các hiện tượng dân tộc. Nó đã góp vào “văn mạch dân tộc”.
Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói dân tộc”. Thơ mới là một tiếng hát đau khổ, không chịu vui với cái xã hội ngang trái, vùi dập đương thời. Thực ra đứng ở vị trí tư tưởng của ta hiện nay mà buộc nặng cho thơ văn trong hệ thống không cách mạng là rất dễ. Nói sao cho thấu tình đạt lý thì khó hơn.
Khi Hồ Ngọc Hương, trên tạp chí Văn nghệ số 31, tháng 12/1959 phê phán Lời kỹ nữ: “Thái độ Xuân Diệu trong bài thơ này chẳng những không cầm tay dắt người con gái bị sa ngã đứng lên mà còn ru ngủ cô ta trong khoái cảm trụy lạc và dúi cô ta ngã xuống trôi tuồn tuột”. Xuân Diệu biện minh: “Lời kỹ nữ tiếp nhận một truyền thống có từ lâu trong văn thơ Trung Quốc, Việt Nam: những người thanh quý, sắc tài, biết suy nghĩ, bị xã hội vùi dập, đáng cảm thương. Chủ đề Lời kỹ nữ là nỗi đau khổ, cô liêu lạnh lẽo suốt xương da của một người chỉ đứng ở cương vị là một cá thể. Qua đây, Xuân Diệu đã thể hiện một tinh thần dũng cảm, một thái độ khoa học đáng trân trọng.
10 z Cuối những năm 60 đến những 70 của thế kỷ XX, cái nhìn về Thơ mới trở nên cởi mở, đúng mức hơn. Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ đã phân tích khá toàn diện trào lưu thơ ca lãng mạn, từ quá trình hình thành, phát triển, đến quan điểm mỹ học; từ con đường bế tắc của chủ nghĩa cá nhân tư sản đến những yếu tố tích cực, tiến bộ, và một số vấn đề về nghệ thuật. Tác giả đã thể hiện cái nhìn khá thấu đáo khi đánh giá phong trào Thơ mới, đã xem xét bộ phận văn học này trong khuôn khổ phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa, trong mối quan hệ nhiều phía (với các trường phái thơ phương Tây, với thơ Đường, với truyền thống thơ ca dân tộc. Tuy nhiên, vì là chuyên luận tổng hợp nên ông chưa thể đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật của từng nhà thơ.
Xuân Diệu, cũng như các nhà thơ tiêu biểu khác của phong trào Thơ mới chỉ được điểm qua, về cơ bản vẫn chưa vượt khỏi tinh thần của Thế Lữ, Hoài Thanh trước đây. Trường Chinh, một nhà lãnh đạo, một nhà văn hóa, cũng chỉ ra tình cảm đáng trân trọng của các nhà thơ lãng mạn trong đó có Xuân Diệu (lòng yêu nước thầm kín, tình cảm gắn bó quê hương, tình yêu thiên nhiên, …). Nhà thơ Tố Hữu, cũng tâm tình góp phần khẳng định phần đồng cảm của mình đối với Thơ mới: “Tôi cũng thích nhạc điệu và hơi thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận … Trong tâm hồn các anh lúc đó, tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn, đau buồn của những người cùng thế hệ đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản” [75, tr. Nguyễn Hoành Khung trong sách Lịch sử văn học Việt Nam (Tập V, phần I, Thời kỳ 1930 - 1945) có cái nhìn tương đối thấu đáo khi đánh giá những mặt hạn chế, tiêu cực và cả những mặt tiến bộ, đáng cảm thông của phong trào Thơ mới, có sự cảm nhận khá tinh tế khi chỉ ra nét độc đáo riêng của các nhà thơ lãng mạn tiêu biểu.
Về Xuân Diệu, bên cạnh sự khẳng định những đặc sắc trong nội dung cảm xúc, ông cũng nêu lên một số nhận xét về hình thức nghệ thuật, ngôn từ, giọng điệu thơ. Trong công trình Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, Hà Minh Đức coi Xuân Diệu “là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của phong trào Thơ mới”. Còn Mã Giang Lân trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại cho rằng Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển rực rỡ của phong trào Thơ mới, khẳng định thơ Xuân Diệu bộc lộ một cách nồng nhiệt những ham muốn của cái tôi, niềm say sưa cuộc sống, tình yêu. 11 z Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu về thơ giai đoạn 1932 - 1945, trong đó có phần nghiên cứu về Xuân Diệu xuất bản tại Sài Gòn trước ngày 30/4/1975.
Có những công trình nghiên cứu công phu, khách quan, có ý nghĩa khoa học và lịch sử nhất định như: Bảng lược đồ văn học Việt Nam - Ba thế hệ của nền văn học mới (Thanh Lãng), Việt Nam văn học sử - Giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ), Thi nhân tiền chiến (Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng). Trên cơ sở nghiên cứu sự vận động của đồ thị văn chương Việt Nam, Thanh Lãng khái quát: “Xuân Diệu là người sống bằng cái mới”, “có những say sưa hiếm thấy”, và cũng như Thế lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu là nơi tụ họp của ba dòng ảnh hưởng : Lãng mạn - Thi sơn - Tượng trưng. Phạm Thế Ngũ đã khảo sát theo hành trình sáng tác của Xuân Diệu, từ những bài thơ đầu tiên, cho đến những thành công của Xuân Diệu sau này ở các mảng thơ tình yêu, thơ thiên nhiên và cả mảng thơ triết và đặc biệt chú ý đến những đóng góp của Xuân Diệu về hình thức, ngôn ngữ thơ. Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng đã nghiên cứu tương đối toàn diện về Xuân Diệu và khẳng định: “Tư tưởng lạc quan về cuộc sống đã chiếm hầu hết thi phẩm của Xuân Diệu.
Đâu đâu cũng thấy một nguồn sống rào rạt, lời yêu đương ít khi vắng bóng”, “Xuân Diệu hoàn toàn mới cả hình thức lẫn tư tưởng”. Bên cạnh đó cũng có những ý kiến muốn phủ định thơ Xuân Diệu như nhóm Sáng tạo gồm Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, những người cố tình “Ném trả nghệ thuật tiền chiến về với quá khứ của nó” và coi “Thơ mới chỉ là một thứ thơ với nhạc điệu ngớ ngẩn, tư tưởng tầm thường”. Xuân Diệu không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nhà hoạt động văn hóa, một thi sĩ nổi tiếng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều người Việt tại nước ngoài luôn dành cho nhà thơ tình cảm đặc biệt với niềm tự hào, ngưỡng mộ một tài năng của dân tộc.
Nam Chi đánh giá: “Tập Thơ thơ xuất bản một ngày Noel 1938 là thịnh thời của Thơ mới. Gửi hương cho gió xuất bản năm 1945 là cao điểm, đồng thời là dứt điểm”, về ý lẫn lời, Xuân Diệu là người tạo sinh lực cho Thơ mới”. Nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trên thế giới cũng dành cho Xuân Diệu tình cảm sâu sắc. Mitrây Găngxen tôn vinh Xuân Diệu là “Người hát dạo của nhân dân trong thời kỳ hiện đại” [145, tr.447-450] và đánh giá cao “Xuân Diệu với những nhà thơ cùng thế hệ đã đem lại cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam trong thời gian trước cuộc Cách mạng năm 1945 một sự đột phá, một âm điệu mới”.
Nữ thi sĩ Bungari nổi tiếng Blaga Dimitrova nhận xét: “Thơ anh phôi thai, nảy mầm từ sữa, mật của 12 z đất” và cảm nhận tinh tế: “Nhà thơ khát khao thiên cảm về cuộc sống và mỗi giây trôi đi cũng làm cho cuộc sống bị tổn thương” [145, tr. Marian Tcasep cũng ngợi ca Xuân Diệu như “một tài năng tươi sáng và phong phú” [145, tr. Đó thực sự là những cảm mến, ấn tượng tốt đẹp của bạn bè, đồng nghiệp quốc tế về Xuân Diệu và thơ của ông. Trong các công trình nghiên cứu về Xuân Diệu thời gian này, bên cạnh việc phân tích những đóng góp lớn lao của Xuân Diệu trên nhiều lĩnh vực từ sau Cách mạng tháng Tám, các tác giả cũng không quên khẳng định vị trí nổi bật của ông trong văn học lãng mạn 1932 - 1945.
Trong không khí dân chủ và cởi mở từ sau năm 1986, nhiều hiện tượng “cấn cá” trong đời sống văn hóa, văn nghệ của dân tộc trước đây, trong đó có văn chương lãng mạn, phong trào Thơ mới được nhìn nhận đánh giá lại một cách thỏa đáng, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà phê bình. Nhiều tập thơ lãng mạn được tái bản với số lượng lớn, sự nghiệp sáng tác của không ít nhà thơ lãng mạn trở thành đề tài cho các cuộc hội thảo khoa học, hàng loạt các công trình nghiên cứu về Thơ mới ra đời. Một lần nữa, vị trí của Xuân Diệu lại được khẳng định. Hoàng Trung Thông trong “Lời giới thiệu” Tuyển tập thơ Xuân Diệu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà thơ với đất nước, nhân dân, thời đại; đã chỉ ra những nét riêng biệt của bút pháp thơ Xuân Diệu giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám; về con đường đi của Xuân Diệu từ nhà thơ lãng mạn đến nhà thơ hiện thực và nhấn mạnh những cố gắng của nhà thơ để mỗi ngày một hòa đồng cùng quần chúng, để có thể nói “tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi”.
Với tinh thần thực sự đổi mới, thực sự dân chủ, nhiều bài viết, công trình có giá trị đã tập trung khai thác chặng đường thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám. Trong Thơ mới những bước thăng trầm, Lê Đình Kỵ đánh giá “Xuân Diệu là nhà thơ số một của cái tôi” [80, tr.175], và khẳng định tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu trong hưởng thụ cuộc sống, tình yêu. Ông cho rằng, “tiêu biểu cho thơ tiền lãng mạn là Tản Đà, tiêu biểu cho thơ lãng mạn toàn thịnh sau 1930 là Xuân Diệu”. Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên), tập hợp những hồi ức, bài viết có giá trị về thơ ca lãng mạn 1932 - 1945.
Thơ mới được nhìn nhận trong nhiều quan hệ, từ nhiều góc độ, bằng các thành tựu, các 13 z phương pháp mới của lý luận văn học, của khoa học nghiên cứu văn học. Các phạm trù của thi pháp học hiện đại được vận dụng rộng rãi để khám phá thế giới nghệ thuật, phong cách sáng tạo của nhà thơ.