Đề án thạc sĩ về dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt

Nghiên cứu dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt qua phong tục, nếp sống và ứng xử cộng đồng.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Tác giả

Phạm Thị Cúc

Thể loại

Đề án thạc sĩ

2024

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan dấu ấn văn hóa Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt

Truyện cổ tích sinh hoạt giữ vị trí then chốt trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Loại truyện này phản ánh chân thực đời sống thường nhật của nông dân châu thổ sông Hồng. Tác phẩm không tập trung vào yếu tố thần kỳ kỳ ảo. Thay vào đó, cốt truyện hướng thẳng vào quan hệ gia đình, làng xóm và kinh tế tiểu nông. Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ in đậm qua nếp nhà ba gian, cây đa, bến nước và sân đình. Đây là không gian sinh tồn tiêu biểu của người nông dân lúa nước. Hệ thống nhân vật bao gồm thầy đồ, học trò, phú ông, tá điền và người vợ đảm đang. Mỗi nhân vật đại diện cho một thành phần xã hội phong kiến cổ truyền. Ngôn ngữ truyện mang hơi thở đời thường, giàu tính khẩu ngữ và châm biếm hóm hỉnh. Qua các câu chuyện kể, bức tranh sinh hoạt vật chất và tinh thần hiện lên sinh động. Các phong tục, tập quán, lề thói canh tác được lưu truyền qua nhiều thế hệ người Việt. Tác phẩm dân gian trở thành nguồn sử liệu giá trị để nhận diện bản sắc dân tộc.

1.1. Bối cảnh không gian và đời sống nông nghiệp lúa nước

Đồng bằng Bắc Bộ sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc cùng đất phù sa màu mỡ. Điều kiện tự nhiên thuận lợi hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời. Cư dân sống định cư tại các làng xóm ven đê, được che chắn bởi lũy tre xanh dày đặc. Truyện cổ tích sinh hoạt tái hiện chân xác chu kỳ mùa vụ, công việc đồng áng, cày cấy và tát nước. Mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên xuất hiện rất tự nhiên trong từng lời kể. Con trâu, mảnh ruộng, giếng nước trở thành những biểu tượng thân thương gắn bó mật thiết với cuộc đời người nông dân. Đời sống nông nghiệp quy định nhịp điệu sinh hoạt và tạo dựng nếp sống cộng đồng bền chặt qua hàng ngàn năm lịch sử.

1.2. Khái niệm truyện cổ tích sinh hoạt và đặc trưng thể loại

Truyện cổ tích sinh hoạt là bộ phận đặc sắc của truyện cổ dân gian. Nhóm tác phẩm này tập trung khai thác đề tài thế sự, đời sống xã hội thực tại. Yếu tố thần kỳ, phép màu biến hóa bị giảm thiểu tối đa hoặc lược bỏ hoàn toàn. Thay vào đó, xung đột kịch tính bắt nguồn từ mâu thuẫn giai cấp, đạo đức và lợi ích đời thường. Các mối quan hệ vợ chồng, cha con, anh em hay xóm giềng giữ vai trò trung tâm. Nhân vật giải quyết tranh chấp bằng trí thông minh, mưu mẹo thực tế hoặc lòng kiên trì. Tiếng cười dân gian bật lên từ các tình huống châm biếm thói hư tật xấu. Tác phẩm mang giá trị nhận thức sâu sắc, phản chiếu chân xác bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam thu nhỏ.

II. Phân tích dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện

Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ thể hiện rõ nét qua cả hai bình diện vật chất và tinh thần. Về mặt vật chất, truyện miêu tả tỉ mỉ không gian cư trú với nhà tranh vách đất, ao cá và giàn bầu. Ẩm thực dân dã gắn với hạt gạo nếp, bát canh rau muống, quả cà pháo và chén trà xanh. Những phong tục quen thuộc như têm trầu cánh phượng, thắp hương bàn thờ tổ tiên được khắc họa sinh động. Về mặt tinh thần, văn hóa ứng xử phản ánh trật tự tôn ti khắt khe của Nho giáo kết hợp với lệ làng cổ truyền. Cư dân Bắc Bộ coi trọng hiếu nghĩa, kính trên nhường dưới nhưng luôn duy trì tinh thần tự chủ, độc lập. Tuy nhiên, đời sống làng quê cũng bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt. Định kiến giai cấp, hủ tục ma chay, cưới xin rườm rà tạo nên gánh nặng đè lên người nông dân nghèo. Lòng tham của tầng lớp địa chủ thường dẫn đến xung đột đất đai và tiền bạc. Dù vậy, tinh thần tương trợ xóm giềng và tính cộng đồng vững chắc vẫn là sợi dây níu giữ sự ổn định của xã hội nông nghiệp truyền thống.

2.1. Đời sống vật chất kiến trúc và tập quán ẩm thực

Kiến trúc nhà ở của cư dân châu thổ sông Hồng mang tính thích nghi cao. Kiểu nhà tranh năm gian hoặc ba gian hai chái xuất hiện phổ biến trong truyện kể. Ngôi nhà gắn liền mảnh vườn nhỏ, chuồng nuôi gia súc và bờ rào tre. Ẩm thực trong truyện phản ánh triết lý cân bằng âm dương. Bữa cơm thường ngày lấy lúa gạo làm gốc, ăn kèm rau muống luộc, dưa cà và cá kho tương. Khi cúng tế Thần Phật, người dân chuẩn bị xôi nếp trắng, hoa quả tươi cùng nén hương trầm. Thức ăn cúng lễ tuân theo quy tắc sạch sẽ, kiêng kỵ vị tỏi hay thịt tạp uế. Nếp ăn uống giản dị làm nổi bật tính tiết kiệm và sự khéo léo của người lao động.

2.2. Văn hóa ứng xử tính tự trị làng xã và tư duy dung hợp

Quan hệ gia đình và họ tộc giữ vai trò trụ cột trong làng xã cổ truyền. Chữ hiếu và đạo nghĩa vợ chồng được tôn vinh qua những câu chuyện cảm động. Tổ chức làng xã vận hành theo hai nguyên tắc: tính cộng đồng và tính tự trị. Tính cộng đồng gắn kết dân làng qua hương ước, hội hè đình đám và sự tương trợ lúc khó khăn. Tính tự trị bảo vệ làng trước can thiệp hành chính phong kiến, gắn với câu tục ngữ phép vua thua lệ làng. Về tư duy, cư dân đồng bằng Bắc Bộ thể hiện xu hướng dung hợp tôn giáo rất rõ nét. Nho giáo, Phật giáo cùng tín ngưỡng bản địa hòa quyện tự nhiên trong nếp nghĩ hằng ngày. Người dân chuộng cách ứng xử hòa hoãn, mềm dẻo để duy trì tình làng nghĩa xóm.

III. Phương pháp tiếp cận văn hóa đồng bằng Bắc Bộ trong cổ tích

Nghiên cứu dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt đòi hỏi sự kết hợp phương pháp luận chặt chẽ. Hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học dân gian, văn hóa học và nhân học văn hóa giữ vai trò nền tảng. Phương pháp khảo cứu văn bản tiến hành bóc tách các tầng lớp biểu đạt ngôn ngữ, chi tiết sinh hoạt và cốt truyện. Nguồn ngữ liệu chính dựa trên bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của học giả Nguyễn Đổng Chi cùng Tổng tập văn học dân gian người Việt. Phương pháp phân tích - tổng hợp giúp phân loại các biểu hiện văn hóa thành hệ thống rõ ràng: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần. Phương pháp so sánh lịch sử - loại hình cho phép đối chiếu các dị bản giữa các vùng miền. Từ đó, người nghiên cứu nhận diện chính xác nét khu biệt của xứ Bắc so với miền Trung hay miền Nam. Việc đặt truyện kể vào bối cảnh lịch sử cụ thể ngăn chặn cách nhìn phiến diện hoặc hiện đại hóa suy nghĩ của tiền nhân. Đây là quy trình khoa học thiết yếu để giải mã chiều sâu tâm thức dân tộc.

3.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học và văn hóa học

Nghiên cứu liên ngành phá vỡ ranh giới cứng nhắc giữa các phân ngành học thuật truyền thống. Văn học dân gian cung cấp chất liệu nghệ thuật từ ngôn từ, cốt truyện và môtip. Văn hóa học bổ sung hệ thống lý thuyết về cấu trúc làng xã, tập quán và thiết chế phong kiến. Dưới góc nhìn nhân học, mỗi mâu thuẫn sinh hoạt hé lộ tâm thức và quan niệm nhân sinh của cư dân lúa nước. Sự kết hợp này hỗ trợ nhà nghiên cứu giải thích căn nguyên của từng hành động nhân vật. Những hành vi như ăn miếng trầu, thắp nén nhang hay dùng từ Hán Nho đều phản ánh trật tự xã hội đương thời. Phương pháp liên ngành giúp tác phẩm dân gian không còn dừng lại ở hư cấu thuần túy mà trở thành bức tranh đời sống chân thực.

3.2. Phương pháp khảo cứu văn bản và phân tích dị bản

Khảo sát văn bản là khâu cốt lõi trong nghiên cứu folklore. Việc tập hợp hơn một trăm truyện cổ tích sinh hoạt từ các tài liệu uy tín tạo dựng nguồn dẫn chứng vững chắc. Quá trình phân tích tập trung bóc tách lớp từ ngữ Hán Nho, phong tục và địa danh. So sánh dị bản giúp làm sáng tỏ diễn trình vận động của truyện kể qua thời gian. Một mô-típ truyện khi lan tỏa từ Bắc Bộ vào các vùng đất mới thường biến đổi trang phục hoặc thức ăn cho phù hợp thực địa. Phân tích đối chiếu dị bản loại trừ sự suy diễn chủ quan, khẳng định tính chính xác của các luận điểm khoa học về bản sắc văn hóa đồng bằng sông Hồng.

IV. Giá trị ứng dụng và bảo tồn văn hóa Bắc Bộ từ truyện cổ tích

Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt kết tinh những giá trị tinh thần trường tồn của dân tộc. Các câu chuyện dân gian không chỉ lưu giữ ký ức lịch sử mà còn cung cấp nền tảng tri thức giá trị cho xã hội hiện đại. Việc nghiên cứu thấu đáo đề tài này mở ra nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Trong giáo dục, truyện cổ tích sinh hoạt là học liệu trực quan giúp học sinh, sinh viên bồi đắp tình yêu cội nguồn và hiểu sâu đạo lý truyền thống. Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, kho tàng truyện kể cung cấp chất liệu dồi dào cho văn học, sân khấu, điện ảnh và hoạt hình. Các nhà làm phim có thể khai thác bối cảnh làng quê cổ, trang phục truyền thống và nếp sống xưa để tạo nên những tác phẩm giàu bản sắc. Bên cạnh đó, việc tái hiện không gian văn hóa cổ tích đóng góp tích cực vào phát triển du lịch di sản nông thôn. Sự kết hợp giữa bảo tồn di sản và ứng dụng sáng tạo sẽ giúp các giá trị nhân văn của cha ông tiếp tục tỏa sáng bền vững.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy văn học và giáo dục nhân cách

Đưa truyện cổ tích sinh hoạt vào nhà trường mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực. Tác phẩm cung cấp kiến thức lịch sử, phong tục và đạo đức tự nhiên, sinh động. Qua những bài học về lòng trung thực, tình nghĩa vợ chồng và sự cần cù, thế hệ trẻ hình thành nhân cách vững vàng. Học sinh không chỉ tiếp cận văn học mà còn hiểu sâu sắc nếp sống của tiền nhân. Giáo viên có thể tổ chức hoạt động sân khấu hóa, thảo luận tình huống hoặc vẽ tranh dựa trên cốt truyện. Phương thức này khơi gợi tư duy phản biện và khả năng cảm thụ nghệ thuật của người học. Tác phẩm dân gian trở thành cầu nối bền vững gắn kết thế hệ trẻ với cội nguồn văn hóa.

4.2. Phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch văn hóa

Khai thác dấu ấn văn hóa từ truyện kể mở ra hướng đi bền vững cho du lịch di sản. Các địa phương châu thổ sông Hồng có thể xây dựng tour trải nghiệm nông thôn đặc sắc. Du khách được hòa vào không gian làng cổ với giếng nước, sân đình, trải nghiệm cày cấy hay học têm trầu cánh phượng. Những món ăn truyền thống như bánh chưng, cá kho tương, xôi nếp trở thành đặc sản ẩm thực hấp dẫn. Hoạt động diễn xướng hoạt cảnh dân gian tại di tích giúp tăng cường trải nghiệm thực tế. Mô hình này vừa tạo nguồn thu kinh tế ổn định cho cư dân bản địa, vừa góp phần gìn giữ và quảng bá di sản văn hóa xứ Bắc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/10/2026
Dấu ấn văn hóa đồng bằng bắc bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc triển khai thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Dấu ấn đời sống sinh hoạt của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Chƣơng 3: Dấu ấn văn hóa ứng xử của cƣ dân vùng đồng bằng Bắc Bộ 7 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm văn hóa và các thành tố văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Hiện không có khái niệm chỉ các giải thích văn hoá là gì. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến giải thích nhƣ sau: - Theo UNESSCO Văn hóa là “ tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội.

Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng…” (Tuyên bố về những chính sách văn hóa – Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 đến 6/8/1982 tai Mexico) - Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. - Theo tác giả Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo trong quá trình tích lũy và hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình” [38, tr20] - Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam- Bộ Giáo dục và đào tạo xuất bản năm 1998: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử.” Nhƣ vậy, có thể thấy, văn hoá đƣợc coi là toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc, đất nƣớc. Văn hóa luôn đƣợc 8 bảo lƣu và tiếp biến suốt trƣờng kỳ phát triển của lịch sử.

Dân tộc nào có dấu ấn văn hóa của dân tộc đó, vùng miền nào có dấu ấn văn hóa của vùng miền đó. Các thành tố văn hóa Nói đến các thành tố văn hóa là nói đến các phƣơng diện thể hiện đặc trƣng văn hóa của một vùng, một dân tộc. Bao gồm những thành tố thuộc về văn hóa vật chất nhƣ kiến trúc, nhà ở, đình chùa; trang phục, ẩm thực… và văn hóa tinh thần nhƣ phong tục tập quán, lễ hội, lối sống ứng xử, tôn giáo, tín ngƣỡng, nghệ thuật, tập quán lao động… 1. Các thành tố thuộc về văn hóa vật chất - Về kiến trúc, mỗi dân tộc trên thế giới có những đặc điểm kiến trúc nhà cửa phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, thể chế chính trị…của dân tộc ấy.

Ở một số nƣớc trên thế giới, nghệ thuật kiến trúc phát triển đến đỉnh cao, trở thành điểm quy tụ, thành đặc trƣng của văn hóa dân tộc nhƣ kiến trúc nhà của Nga, Pháp, Ba Lan, I-ta-ly, Nhật…Ở Việt Nam, nhà ở của ngƣời Việt xƣa thƣờng làm bằng gỗ, đất, tranh, nứa và lợp mái bằng lá cây, rạ. Nhà có điều kiện thƣờng đƣợc dựng tƣờng bằng gỗ còn lại là nhà đắp đất hoặc dựng tranh tre và trát đất xung quanh. Đến giữa thế kỷ XX, đã xuất hiện nhƣng ngôi nhà xây bằng vật liệu xi măng, vôi, gạch và đƣợc lợp bằng ngói. Nhà trệt, thƣờng có 3 gian 2 chái hoặc 5 gian 2 chái.

Trong đó, gian giữa thƣờng đặt ban thờ, bàn thờ; bàn tiếp khách; 2 bên là giƣờng ngủ, đƣợc ngăn cách với phòng khách bằng màn vải hoa, bên dƣới nền thì sinh hoạt ăn uống. Nền nhà bằng đất thuần túy. Bên trái hoặc bên phải nhà là bếp đun và chuồng nuôi gà, bò, lợn kế tiếp với bếp. Trƣớc nhà, có sân, vƣờn, ao.

Bao bọc khuôn viên diện tích nhà, vƣờn là những bờ rào, bờ dậu thay cho tƣờng xây. Bờ dậu có thể là những câu trồng đƣợc cắt tỉa xinh xắn, gọn gàng, bao bọc ngôi nhà để đánh dấu chủ quyền ngôi nhà. So với miền Nam, nhà ở của ngƣời dân miền Bắc thƣờng kiên cố hơn do lối sống của nhân dân hai miền khác nhau. Ngƣời miền Bắc thƣờng “Ăn chắc mặc bền” họ hƣớng đến cái ổn định, chắc chắn, họ quan niệm đời ngƣời có 3 việc lớn phải thực hiện tốt “Tậu trâu, cƣới vợ, làm nhà” nên việc có cái nhà chắc chắn cũng là để “An 9 cƣ lập nghiệp” đƣợc họ coi trọng.

Thứ hai, do đặc trƣng khí hậu, thời tiết; miền Bắc xƣa thƣờng xuất hiện nhiều bão gió nên cần có ngôi nhà chắc chắn để trú ngụ. Còn ngƣời miền Nam lại thiên về lối sống phóng khoáng, hƣởng thụ; không có nhu cầu tích lũy cao; nhà ở không cần kiên cố. Mặt khác, thời xƣa, miền Nam thƣờng có khí hậu ôn hòa, ít bão gió. Vì thế, ngƣời miền Nam không quan trọng việc dựng nhà kiên cố.

Tuy vậy, ngày nay, quan niệm ấy đã thay đổi ít nhiều. Kiến trúc nhà ở của ngƣời Việt ngày nay cũng thay đổi; nhà tranh, vách nứa chỉ còn xuất hiện thấp thoáng ở một số miền núi xa xôi, hẻo lánh; còn lại là những ngôi xi măng cốt thép đƣợc xây dựng kiên cố; những nhà cao tầng, những nhà biệt thự…hiện đại với đa dạng các loại hình kiến trúc trang trí khác nhau. Nhƣng dấu ấn về kiến trúc xƣa vẫn còn lƣu lại trong một số ngôi nhà dựng theo lối kiến trúc cổ, trong sử sách, trong các loại hình nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, văn học, hội họa… Không chỉ ở kiến trúc nhà cửa; kiến trúc đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am cũng là biểu hiện đậm nét của văn hóa vật thể ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, dƣới ảnh hƣởng của Phật giáo, ở Việt Nam nói chung và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng xuất hiện những ngôi chùa có lịch sử rất lâu đời.

Nhũng ngôi chùa ở đồng Bằng Bắc Bộ đƣợc xây dụng chủ yếu bằng gỗ. Trải qua hàng ngàn năm, đặc điểm kiến trúc của các ngôi chùa rất ít thay đổi, dƣờng nhƣ giữ nguyên; khi tu bổ, tôn tạo; chỉ thay đổi chất liệu mới chứ không thay đổi hình thức. Chùa thƣờng nằm ở vị trí cao, thoáng đãng. Đa số các ngôi chùa nằm trên đỉnh núi, đồi.

Nhiều ngôi chùa ở thế lƣng tựa núi, mặt hƣớng sông. Chùa thờ Phật nhƣng cũng có những ngôi chùa vừa thờ Phật vừa thờ thánh theo mô hình Tiền Phật - Hậu Thánh, Phật ở phía trƣớc, thánh ở phía sau. Ngày nay, kiến trúc đình, chùa, am, miếu…ít thay đổi; về cơ bản vẫn giữ nét kiến trúc cổ kính xƣa. Trang phục cũng là yếu tố văn hóa vật chất thể hiện nét đặc trƣng văn hóa của các nƣớc trên thế giới.

Nhu cầu mặc của con ngƣời cũng xuất phát từ đặc trƣng văn hóa, điều kiện địa hình, khí hậu, bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh gia đình…Bên cạnh những trang phục mặc hàng ngày, mỗi nƣớc trên thế giới đều có những bộ phục quốc, nhìn vào đó có thể nhận biết dân tộc nhƣ bộ Ki –mô- nô 10 của Nhật, áo sƣờn xám của ngƣời Trung Quốc, Váy Dirndl của phụ nữ Đức và Áo, Hanbok của Hàn Quốc, váy Phaxin của Thái Lan, bộ Sari của Ấn Độ, bộ Sampot của Cam-pu-chia…Đó là những dấu ấn văn hóa dân tộc. Ở Việt Nam, phục quốc là áo dài. Qua thời gian, chiếc áo dài Việt đã có những cách tân phong phú, đa dạng, phù hợp với xu thế thời đại. Song áo dài luôn xuất hiện trong những nghi lễ và những sự kiện quan trọng của con ngƣời và của đất nƣớc.

Ngoài áo dài, trong đời sống hàng ngày, trang phục của ngƣời dân Việt xƣa cũng có những nét đặc trƣng riêng theo vùng miền. Ở miền Nam, ngƣời dân mặc áo bà ba. Ở miền Bắc, ngƣời dân thƣờng mặc quần áo nâu. Ngƣời Việt luôn chuộng sự kín đáo.

Nhƣ vậy, cách mặc của con ngƣời cũng là bộ mặt văn hóa dân tộc. - Ẩm thực xuất phát từ nhu cầu sinh tồn, lao động; ẩm thực là nhu cầu thiết yếu trong đời sống của con ngƣời nên cũng đƣợc nâng lên thành một nét văn hóa vật chất - văn hóa ẩm thực. Chế độ và cung cách ẩm thực ở mỗi nƣớc có sự khác nhau nhất định do điều kiện tự nhiên, khí hậu, do lịch sử, điều kiện kinh tế, tập quán lao động, sản xuất, sinh hoạt…Qua cách ăn uống có thể nhận ra văn hóa của một cá nhân, gia đình, một vùng, miền, một dân tộc. Con ngƣời ở mỗi nƣớc trên thế giới đều có một thứ thức ăn chính là chủ đạo và có những loại thức ăn, đồ uống đi kèm: có những nƣớc chủ yếu ăn thức ăn làm từ lúa mì, có những nƣớc ăn cơm nấu từ lúa gạo, có những dân tộc, vùng, miền chủ yếu ăn thức ăn làm từ ngô…thức uống đi kèm là rƣợu, bia, nƣớc ngọt, sữa…tùy vào văn hóa ẩm thực của từng nƣớc.

Ngoài ra, ở một số dân tộc trên thế giới có những món ăn có thể gọi là thực quốc nhƣ món Hamburger của Mĩ, kim-chi của Hàn Quốc, bánh nhân thịt của Úc, sushi của Nhật Bản, Dim sum của Trung Quốc, phở Việt Nam, mì spaghetti của Ý…Ở Việt Nam, văn hóa ẩm thức ngày nay đã có thay đổi nhất định so với thời xƣa. Những ngành nghề thủ công nhƣ điêu khắc gỗ, gốm sứ, dệt vải…các nghề thủ công khác cũng là những biểu hiện văn hóa vật chất. Ở Việt Nam, những thành tố văn hóa trên có lịch sử xa xƣa. Một số cổ vật, hiện vật vẫn còn lƣu lại đến ngày nay.

11 Những di sản văn hóa, di tích lịch sử tồn tại bền vững qua những thăng trầm lịch sử chứa đựng bề dày văn hóa nhƣ ở Việt Nam có quần thể di tích cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Thành nhà Hồ, Quần thể di tích Cổ Loa, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Hoàng Thành Thăng Long, chùa Keo Thái Bình… 1. Các thành tố thuộc về văn hóa tinh thần Cùng với các di sản văn hóa hữu thể, các di sản văn hóa tinh thần của đồng bằng Bắc Bộ cũng khá đa dạng và phong phú. Nói riêng về văn học, kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi nhƣ một loại mỏ với nhiều khoáng sản quý hiếm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Phạm Thị Cúc (2024), Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt, Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Phạm, T. C. (2024). Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt [Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/dau-an-van-hoa-vung-dong-bang-bac-bo-trong-truyen-co-tich-sinh-hoat-cua-nguoi-viet/9646553446
IEEE
T. C. Phạm, "Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt," Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/dau-an-van-hoa-vung-dong-bang-bac-bo-trong-truyen-co-tich-sinh-hoat-cua-nguoi-viet/9646553446

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác