Luận văn đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn qua tỉnh Lai Châu

Nghiên cứu đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn qua tỉnh Lai Châu, xác định nguồn thải và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên nước hiệu

Tác giả

Ngô Văn Minh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan môi trường nước mặt trên sông Đà tại Lai Châu

Sông Đà giữ vai trò huyết mạch đối với an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc. Đoạn sông chảy qua tỉnh Lai Châu có địa hình đồi núi dốc, chia cắt mạnh. Hệ thống sông tiếp nhận lượng nước lớn từ các phụ lưu chính như suối Nậm Bum, suối Vàng San và suối Huổi Pết. Nguồn nước mặt tại đây phục vụ mục đích phát điện, tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của người dân địa phương. Quá trình công nghiệp hóa và xây dựng thủy điện đã làm thay đổi đáng kể chế độ thủy văn của lưu vực. Lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa rõ rệt. Mùa mưa thường kéo theo lượng phù sa lớn và nguy cơ sạt lở bờ sông. Mùa khô dòng chảy giảm mạnh, làm suy giảm khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng nước. Việc kiểm soát chất lượng môi trường nước mặt vì vậy trở thành nhiệm vụ cấp bách của tỉnh Lai Châu. Các cơ quan quản lý cần nắm bắt chính xác hiện trạng nguồn nước mặt qua từng giai đoạn quan trắc cụ thể.

1.1. Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Đà qua Lai Châu

Sông Đà bắt nguồn từ vùng núi cao và chảy qua địa bàn tỉnh Lai Châu với chiều dài lớn. Lưu vực sở hữu mạng lưới sông suối dày đặc và độ dốc lòng dẫn cao. Địa hình đồi núi dốc đứng tạo ra dòng chảy xiết vào mùa mưa lũ. Vùng thượng lưu tập trung nhiều cánh rừng phòng hộ đầu nguồn quan trọng. Tuy nhiên, tình trạng xói mòn đất và rửa trôi chất hữu cơ trong mùa mưa bão diễn ra thường xuyên. Lượng phù sa bồi lắng tác động trực tiếp đến độ đục của nước mặt. Thảm thực vật suy thoái ở một số sườn dốc làm tăng nguy cơ bồi lấp lòng hồ thủy điện. Chế độ thủy văn tại đây phụ thuộc chặt chẽ vào lượng mưa phân bố theo mùa trong năm.

1.2. Vai trò kinh tế xã hội của nguồn nước mặt sông Đà

Môi trường nước mặt sông Đà đóng vai trò then chốt trong phát triển năng lượng quốc gia. Nhà máy thủy điện Lai Châu vận hành tạo ra sản lượng điện năng khổng lồ cho lưới điện quốc gia. Đồng thời, nguồn nước mặt cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng thung lũng dọc hai bên bờ. Các mô hình nuôi cá lồng bè của Hợp tác xã Thủy sản Long Vũ và cư dân ven sông mang lại nguồn thu nhập ổn định. Nước mặt còn là nguồn cấp nước sinh hoạt cho các thị trấn như Mường Tè và Nậm Nhùn. Hệ thống giao thông đường thủy trên hồ chứa hỗ trợ đắc lực việc vận chuyển lâm sản và hàng hóa thiết yếu.

II. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước mặt sông Đà Lai Châu

Chất lượng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn qua Lai Châu chịu sức ép từ nhiều nguồn thải. Thống kê cho thấy có 9 nguồn xả thải chính vượt mốc 5 mét khối mỗi ngày đêm xả trực tiếp ra sông chính và các nhánh phụ lưu. Lớn nhất là nguồn nước thải sản xuất từ Nhà máy Thủy điện Lai Châu với lưu lượng lên tới 790,7 mét khối mỗi ngày đêm. Nguồn thải công nghiệp này chứa nguy cơ lẫn dầu mỡ từ hệ thống tuabin và máy phát điện. Bên cạnh đó, nước thải y tế từ Trung tâm y tế huyện Mường Tè xả 13,8 mét khối mỗi ngày đêm ra suối Nậm Bum. Nước thải sinh hoạt và dịch vụ từ các cơ sở ăn uống, khu dân cư tập trung tại thị trấn Nậm Nhùn cũng đổ dồn về nguồn nước mặt. Hoạt động chăn nuôi gia súc quy mô gia trại như cơ sở ông Nguyễn Anh Tuấn phát sinh gần 30 mét khối nước thải mỗi ngày. Dù phần lớn các đơn vị đã lắp đặt hệ thống lắng lọc và hầm biogas, rủi ro thẩm thấu và tràn bờ vào mùa mưa lũ vẫn hiện hữu. Sự tích tụ chất hữu cơ làm gia tăng chỉ số COD và amoni cục bộ.

2.1. Phân tích các nguồn xả thải công nghiệp và y tế

Hoạt động thủy điện và y tế phát sinh lưu lượng nước thải đáng chú ý nhất trên địa bàn. Nhà máy Thủy điện Lai Châu phát sinh hơn 790 mét khối nước thải mỗi ngày đêm từ khu sản xuất. Lượng nước xả này phải qua bể tách dầu mỡ nghiêm ngặt trước khi ra môi trường. Trong khi đó, các cơ sở khám chữa bệnh như Trung tâm y tế huyện Mường Tè và Nậm Nhùn xả thải chứa chất hữu cơ và vi sinh. Cơ sở y tế tại Mường Tè vận hành trạm xử lý hóa sinh với lưu lượng gần 14 mét khối mỗi ngày trước khi thải ra suối Nậm Bum. Các trạm y tế cơ sở phát sinh nước thải nhỏ nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ nếu khâu khử trùng thiếu liên tục.

2.2. Áp lực ô nhiễm từ chăn nuôi và sinh hoạt dân cư

Nguồn thải từ hoạt động chăn nuôi và dịch vụ ăn uống tạo áp lực cục bộ lên mạng lưới suối nhánh của sông Đà. Điển hình như cơ sở chăn nuôi gia súc của ông Nguyễn Anh Tuấn xả gần 30 mét khối nước thải mỗi ngày ra suối Vàng San. Nước rửa chuồng trại chứa nhiều hợp chất đạm và vi khuẩn đường ruột. Một số cơ sở thương mại và nhà hàng như Lâm Viên tại Nậm Nhùn phát sinh nước thải chứa dầu mỡ và rác hữu cơ trực tiếp ra suối Huổi Pết. Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý triệt để làm gia tăng hàm lượng Coliform ở các đoạn sông ven đô thị. Vào mùa kiệt, dòng chảy chậm khiến chất ô nhiễm tích tụ tại các vũng lắng tự nhiên.

III. Giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt sông Đà Lai Châu

Bảo vệ chất lượng môi trường nước mặt đòi hỏi các biện pháp kỹ thuật và cơ chế quản lý tổng hợp đồng bộ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu cần tăng cường mạng lưới quan trắc tự động tại các điểm xả thải lớn. Việc giám sát định kỳ thông số pH, DO, COD, TSS và dầu mỡ khoáng giúp phát hiện sớm vi phạm xả thải. Về mặt kỹ thuật, các cơ sở sản xuất công nghiệp và thủy điện phải bảo dưỡng định kỳ hệ thống bể lắng và bể tách dầu mỡ. Các trang trại chăn nuôi bắt buộc áp dụng công nghệ hầm ủ biogas kết hợp hồ sinh học hiếu khí nhằm loại bỏ mầm bệnh trước khi tái sử dụng tưới tiêu. Hệ thống y tế cần đầu tư nâng cấp công nghệ khử trùng bằng tia cực tím hoặc ozon để triệt tiêu vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh giải pháp công trình, chính quyền cần quy hoạch vùng đệm sinh thái ven sông. Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn giữ vai trò quan trọng trong việc hạn chế đất đá bồi lắng lòng hồ.

3.1. Phương pháp công nghệ xử lý nước thải điểm xả

Ứng dụng công nghệ xử lý tại nguồn là điều kiện tiên quyết để bảo vệ sông Đà. Nhà máy thủy điện Lai Châu cần duy trì hệ thống tách dầu ba ngăn kết hợp bộ lọc hấp phụ than hoạt tính. Giải pháp này đảm bảo hàm lượng dầu khoáng trong nước xả thải luôn dưới ngưỡng quy chuẩn quốc gia. Đối với nước thải y tế, trạm xử lý sinh học hiếu khí bùn hoạt tính kết hợp màng vi lọc MBR mang lại hiệu suất làm sạch cao. Hệ thống này giúp loại trừ triệt để hóa chất xét nghiệm và vi khuẩn nguy hại. Các hộ chăn nuôi tập trung cần cải tiến hầm biogas vòm composite kết hợp bãi lọc ngầm trồng cây thủy sinh để xử lý triệt để nước thải chuồng trại.

3.2. Quản lý tổng hợp lưu vực và quan trắc định kỳ

Quản lý lưu vực sông đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cơ quan môi trường. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu cần thiết lập các trạm quan trắc tự động tại các hợp lưu trọng điểm. Hệ thống cảm biến liên tục truyền số liệu về nồng độ oxy hòa tan và chất rắn lơ lửng. Việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước phải đi kèm chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các cơ sở vi phạm quy chuẩn. Ngoài ra, việc thành lập ban điều phối lưu vực giúp kiểm soát dòng xả liên tỉnh hiệu quả hơn. Người dân sinh sống ven sông cần được tuyên truyền về việc thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật và rác thải sinh hoạt đúng quy định.

IV. Kết luận về thực trạng môi trường nước mặt sông Đà

Nghiên cứu đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn qua Lai Châu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên. Nhìn chung, chất lượng nước mặt vẫn duy trì mức độ tương đối tốt tại các đoạn thượng nguồn ít cư dân. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các điểm xả thải công nghiệp thủy điện, y tế và chăn nuôi đặt ra thách thức lâu dài. Việc duy trì chất lượng nguồn nước đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các giải pháp công nghệ và quy chuẩn pháp lý nghiêm ngặt. Dữ liệu quan trắc là công cụ then chốt phục vụ quy hoạch không gian phát triển kinh tế lưu vực sông. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ cơ quan chuyên môn xây dựng kịch bản ứng phó sự cố tràn dầu hoặc ô nhiễm đột xuất. Tỉnh Lai Châu cần ưu tiên nguồn lực để hiện đại hóa hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đô thị. Bảo vệ nguồn nước sông Đà bảo đảm phát triển bền vững cho cả vùng Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.

4.1. Khả năng ứng dụng dữ liệu quan trắc vào quy hoạch

Dữ liệu đánh giá môi trường nước mặt đóng vai trò cốt lõi trong quy hoạch phát triển kinh tế vùng lưu vực. Bản đồ tải lượng ô nhiễm giúp chính quyền phân vùng xả thải hợp lý. Các khu vực nhạy cảm gần trạm cấp nước sinh hoạt cần thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt. Số liệu thủy hóa là căn cứ phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án công nghiệp mới. Ngoài ra, ngành thủy sản dựa vào chỉ số chất lượng nước để bố trí vùng nuôi lồng bè an toàn trên hồ thủy điện. Việc số hóa cơ sở dữ liệu quan trắc hỗ trợ tích cực cho mô hình quản trị tài nguyên thông minh tại Lai Châu.

4.2. Kiến nghị chính sách kiểm soát môi trường nước mặt

Chính quyền địa phương cần hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành trong công tác thanh tra môi trường. Các cơ sở xả thải trên 5 mét khối mỗi ngày bắt buộc lập hồ sơ theo dõi chất lượng nước định kỳ. Tỉnh Lai Châu cần phân bổ kinh phí thỏa đáng cho công tác bảo dưỡng thiết bị quan trắc môi trường. Bên cạnh đó, việc thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tạo động lực kinh tế cho người dân bảo vệ thảm phủ thực vật đầu nguồn. Doanh nghiệp thủy điện và sản xuất phải cam kết công khai số liệu xả thải với cộng đồng dân cư địa phương. Cơ chế giám sát dựa vào cộng đồng là giải pháp hữu hiệu bảo đảm nguồn nước sông Đà luôn trong sạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/10/2026
Đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông đà đoạn chảy qua tỉnh lai châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của việc đánh giá thực trạng môi trƣờng nƣớc mặt 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Một số khái niệm về tài nguyên nước: Theo Luật Tài nguyên nƣớc (TNN) năm 2012: "Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc dƣới đất, nƣớc mƣa và nƣớc biển thuộc lãnh thổ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [11].

Trong đó, có một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến tài nguyên nƣớc nhƣ sau - Nước mặt: là nƣớc tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo. - Ô nhiễm nguồn nước: là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nƣớc không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật. - Suy thoái nguồn nước: là sự suy giảm về số lƣợng, chất lƣợng nguồn nƣớc so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nƣớc đã đƣợc quan trắc trong các thời kỳ trƣớc đó. - Cạn kiệt nguồn nước: là sự suy giảm nghiêm trọng về số lƣợng của nguồn nƣớc, làm cho nguồn nƣớc không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.

- Quan trắc môi trường: là quá trình theo dõi có hệ thống về các thành phần môi trƣờng, các yếu tố tác động lên môi trƣờng nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lƣợng môi trƣờng và các tác động xấu đối với môi trƣờng. 4 - Bảo đảm chất lượng (QA: Quality Asurance) trong quan trắc môi trƣờng là một hệ thống tích hợp các hoạt động quản lý và kỹ thuật trong một tổ chức nhằm đảm bảo cho hoạt động quan trắc môi trƣờng đạt đƣợc các tiêu chuẩn chất lƣợng đã quy định [12]. - Kiểm soát chất lượng (QC: Quality Control) trong quan trắc môi trƣờng là việc thực hiện các biện pháp để đánh giá, theo dõi và kịp thời điều chỉnh để đạt đƣợc độ chính xác và độ tập trung của các phép đo theo yêu cầu của các tiêu chuẩn chất lƣợng nhằm đảm bảo cho hoạt động quan trắc môi trƣờng đạt các tiêu chuẩn chất lƣợng này. Khái niệm về chỉ số chất lượng nước: Chỉ số chất lượng nước (Watrer Quality Index – WQI) là một chỉ số đƣợc tính toán từ các thông số quan trắc chất lƣợng nƣớc, dùng để mô tả định lƣợng về chất lƣợng nƣớc và khả năng sử dụng của nguồn nƣớc đó, đƣợc biểu diễn qua một thang điểm [12].

Các nguyên tắc xây dựng WQI bao gồm: - Bảo đảm tính phù hợp; - Bảo đảm tính chính xác; - Bảo đảm tính nhất quán; - Bảo đảm tính liên tục; - Bảo đảm tính sẵn có; - Bảo đảm tính có thể so sánh. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước mặt Suy thoái chất lƣợng nƣớc là hậu quả tất yếu của các tác động tổng hợp khác nhau của quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc cho phát triển và hoạt động sản xuất của con ngƣời. Chất lƣợng nƣớc mặt trên các lƣu vực sông ở Việt Nam thƣờng chịu ảnh hƣởng bởi các yếu tố sau: 5 1. Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước Trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế của nƣớc ta khá cao, tốc độ đô thị hóa ngày một nhanh, sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá mạnh mẽ tạo nên nhu cầu sử dụng nƣớc lớn trong khi nguồn tài nguyên nƣớc không thay đổi dẫn đến suy giảm nghiêm trọng cả về chất và lƣợng đối với tài nguyên nƣớc.

Thực tế cho thấy lƣợng nƣớc dƣới đất đƣợc khai thác rất lớn, chỉ nói riêng đồng bằng Bắc Bộ, ngoài các công trình khai thác nƣớc tập trung với quy mô lớn ở các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. còn có hàng trăm lỗ khoan công nghiệp, mỗi lỗ khoan từ 100 đến 200m3/ngày, ngoài ra còn hàng vạn lỗ khoan nhỏ kiểu UNICEF do chƣơng trình nƣớc sạch đƣợc thực hiện tại vùng nông thôn của các địa phƣơng. Tỷ lệ khai thác nƣớc dƣới đất ở Đông Nam Bộ tƣơng đối cao, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh đã vƣợt cao hơn khả năng tự tái nạp rất nhiều và mực nƣớc ngầm bị tụt giảm nhanh chóng trong vòng 10 năm từ độ sâu 4m xuống đến 20m. Cũng tƣơng tự ở Đồng bằng sông Cửu Long, mực nƣớc ngầm giảm trên diện rộng và gây ô nhiễm nƣớc dƣới đất.

Ngoài các công trình khai thác nƣớc dƣới đất còn có hàng nghìn lỗ khoan xuyên vào tầng trữ nƣớc với các mục đích khác nhau nhƣ: Thăm dò địa chất, khảo sát phục vụ xây dựng dân dụng, giao thông, thủy lợi…Việc khai thác quá mức nguồn nƣớc đã và đang làm suy giảm nghiêm trọng chất lƣợng nƣớc [7]. Hoạt động công nghiệp và khu vực đô thị: Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn hệ thống các hồ, ao, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận và vận chuyển nƣớc thải của các khu công nghiệp, khu dân cƣ. Các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú dƣỡng. Nhiều hồ bị phú dƣỡng hoá đột biến và tái nhiễm bần hữu cơ.

Hầu hết nƣớc thải đô thị đều chƣa đƣợc xử lý trƣớc khi xả thải ra môi trƣờng. Theo thống kê sơ bộ của BTNMT cả nƣớc có khoảng 70 khu công nghiệp thì chỉ khoảng 4,26% lƣợng nƣớc thải công nghiệp đƣợc xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trƣờng, có khoảng hơn 4000 cơ sở gây ô nhiễm, trong đó có 439 6 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, cần phải di dời, đóng cửa hoặc phải chấp nhận áp dụng các công nghệ sạch và tiến hành xử lý nƣớc thải. Nƣớc thải công nghiệp, nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải ngấm xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nƣớc dƣới đất. Đây là nguy cơ chính gây ra ô nhiễm kim loại nặng, nitơ và asen…trong nƣớc ngầm [2].

Nƣớc thải bệnh viện là nguồn gây ô nhiễm rất lớn. Ở nƣớc ta có khoảng hơn 1.000 bệnh viện (tính đến cấp huyện), mỗi ngày thải ra hàng trăm nghìn m3 nƣớc thải chƣa qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn môi trƣờng. Đây là nguồn thải chứa nhiều thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trƣờng, cũng là nguồn gây bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng nếu không có biện pháp xử lý hiệu quả trƣớc khi xả thải ra môi trƣờng [3]. Ngoài ra nƣớc rò rỉ từ các bãi rác cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm nƣớc mặt và nƣớc ngầm nghiêm trọng vì đặc trƣng của loại nƣớc thải này có hàm lƣợng chất gây ô nhiễm cao, độ màu lớn.

Hiện nay, cả nƣớc chỉ có một phần nhỏ bãi chôn lấp rác có hệ thống xử lý nƣớc rác hoạt động thƣờng xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trƣờng. Theo đánh giá chung của Cục quản lý Tài nguyên nƣớc, ở nƣớc ta nói riêng cũng nhƣ trên thế giới nói chung, nƣớc ngầm đƣợc xem là tƣơng đối sạch so với nƣớc mặt. Nhƣng với đà “tăng trƣởng” ô nhiễm này nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong tƣơng lai không xa con ngƣời sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm nƣớc ngầm trên phạm vi toàn cầu. Hoạt động nông nghiệp và khu vực nông thôn: Theo báo cáo diễn biến môi trƣờng vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc giai đoạn 2010 – 2020 của Tổng cục môi trƣờng trong sản xuất nông nghiệp sử dụng các loại phân hoá học cũng nhƣ việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ không đúng quy cách cũng góp phần làm nhiễm bẩn, suy thoái chất lƣợng đất, nƣớc.

Hàng năm lƣợng hoá chất bảo vệ thực vật đƣợc sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5-3,5kg/ha/vụ, dƣ lƣợng hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng 7 trong hoạt động sản xuất nông nghiệp gây ra hiện tƣợng phú dƣỡng hoặc nhiễm độc nƣớc [5]. Ngoài ra hoạt động của 1.450 làng nghề trên cả nƣớc tạo ra một lƣợng chất thải (nƣớc thải và chất thải rắn) xả vào môi trƣờng một cách bừa bãi và không đƣợc xử lý nên gây tình trạng ô nhiễm trầm trọng nguồn nƣớc tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng nghề làm giấy, giết mổ gia súc, dệt nhuộm, tái chế chất thải…[3]. Các yếu tố khác: Ngoài những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc nhƣ trên còn phải kể đến những nguyên nhân tự nhiên nhƣ hiện tƣợng bất thƣờng của tự nhiên: bão, lũ, động đất, sóng thần… Bên cạnh đó còn những nguyên nhân khác nhƣ sự cố tràn dầu, các chất thải từ hoạt động vui chơi, giải trí, du lịch, dịch vụ; từ chất độc hoá học trong chiến tranh để lại cũng đã gây suy thoái chất lƣợng nƣớc mặt trên các lƣu vực sông. Cơ sở pháp lý và phương pháp đánh giá thực trạng môi trường nước mặt ở Việt Nam 1.

Cơ sở pháp lý đánh giá thực trạng môi trường nước mặt ở Việt Nam Để đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt ở Việt Nam, có một số cơ sở pháp lý quan trọng sau: - Luật Bảo vệ môi trƣờng số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. - Luật Tài nguyên nƣớc số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. - Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tổng cục môi trƣờng về việc ban hành Hƣớng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lƣợng nƣớc mặt Việt Nam (VN_WQI). - Các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam (QCVN) bắt buộc áp dụng.

Một số phương pháp đánh giá thực trạng môi trường nước mặt ở Việt Nam - Phương pháp quan trắc sinh học: năm 2002, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7220-1:2002 về chất lƣợng nƣớc – đánh giá chất lƣợng nƣớc theo chỉ số sinh học - Phần 1 - Phƣơng pháp lấy mẫu giun tròn và động vật không xƣơng sống ở đáy cỡ trung bình tại các vùng nƣớc nông bằng dụng cụ lấy mẫu định lƣợng và Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7220- 2:2002 về chất lƣợng nƣớc - đánh giá chất lƣợng nƣớc theo chỉ số sinh học - Phần 2 - Phƣơng pháp diễn giải các dữ liệu sinh học thu đƣợc từ các cuộc khảo sát giun tròn và động vật không xƣơng sống ở đáy cỡ trung bình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Ngô Văn Minh (2021), Đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn chảy qua tỉnh Lai Châu, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Ngô, V. M. (2021). Đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn chảy qua tỉnh Lai Châu [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/danh-gia-thuc-trang-moi-truong-nuoc-mat-song-da-lai-chau/9646536887
IEEE
V. M. Ngô, "Đánh giá thực trạng môi trường nước mặt trên sông Đà đoạn chảy qua tỉnh Lai Châu," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2021. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/danh-gia-thuc-trang-moi-truong-nuoc-mat-song-da-lai-chau/9646536887

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác