CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm Hiện nay có quan điểm phổ biến cho rằng: TNXH DN dùng để chỉ các hoạt động mang tính từ thiện, nhân đạo đơn thuần. Quan niệm này chưa đầy đủ và thiếu chính xác, vì những lí do sau: thứ nhất, nó chỉ đề cập đến một loại hoạt động hướng ngoại của doanh nghiệp.
Nhưng trên thực tế, khi thực hiện TNXH của mình, doanh nghiệp không chỉ hướng ra bên ngoài mà còn hướng đến lợi ích cho chính bản thân họ thông qua các hoạt hướng đến nâng cao quyền lợi của người lao động, nâng cao năng suất lao động; thứ hai, khi thực hiện các hoạt động nhân đạo, từ thiện doanh nghiệp thường dùng công cụ truyền thông để quảng cáo cho hình ảnh và thương hiệu của họ, các hoạt động này nằm trong kế hoạch marketing của chính doanh nghiệp. TNXH đòi hỏi khả năng nhìn thấy trước và nhận về mình những hậu quả của hành vi. Theo Đỗ Hoài Nam: “TNXH là sự ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện thông qua nhận thức và hành động cụ thể trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên. Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân” (Đỗ Hoài Nam, 2011).
Cách hiểu trên đã đề cập đến sự nhận thức về bổn phận của chủ thể đối với xã hội trong mối liên hệ với các chủ thể khác theo lợi ích, nhưng chưa thấy nhận thức và hành động thực thi TNXH là một quá trình. Quá trình ấy có những chiều hướng phát triển khác nhau, có khi đối lập nhau. TNXH của DN là một vấn đề được nghiên cứu và phát triển ở các nước phát triển trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, về mặt học thuật, khái niệm này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu, trao đổi, tranh luận để đi đến thống nhất về nội hàm cụ thể trên cơ sở xem xét TNXH như là một hiện tượng xã hội.
Từ đó mới có thể khái quát được phạm vi nội dung TNXH mà doanh nghiệp không thể không thực hiện. Bowen là người đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH của DN trong công bố Social Responsibility of the businessman (TNXH của giới kinh doanh): Luan van 14 “Nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi những chính sách, thực hiện những quyết định, hoặc có chuỗi những hành động được mong đợi phù hợp với mục tiêu và các giá trị của xã hội của chúng ta” (Howard R. Do đó, Bowen được coi là “người khai sinh” khái niệm TNXH của DN. Mặt khác, quan niệm này cũng phù hợp với những đặc trưng xã hội, văn hóa và thiết chế của Mỹ.
Theo đó, cá nhân là trung tâm của tất cả mọi thứ, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân. Một cách tổng quát, có thể tóm tắt quan niệm ở Mỹ về TNXH của DN qua công thức “lợi nhuận trước, bác ái sau”. Khái niệm TNXH của DN mà Bowen xây dựng, thực chất nhấn mạnh đến trách nhiệm sửa chữa những sai lầm của doanh nghiệp hơn là trách nhiệm dự báo và có ý thức phòng tránh những thiệt hại có thể xảy ra do tác động và ảnh hưởng của doanh nghiệp tới xã hội. Trong hai công trình của mình: A three-Dimensional Conceptual Model of Corporate Performmance (Mô hình cấu trúc khái niệm ba khía cạnh của hoạt động doanh nghiệp) (1979) và Corporate social Responsibility: Evoluation of a definitional Construct (TNXH của DN: Đánh giá qua cấu trúc định nghĩa) (1991) tác giả Archie B.
Caroll, Giáo sư Đại học Georgia hiểu TNXH của DN bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định. Ông đã đưa ra mô hình kim tự tháp TNXH bao gồm 4 lớp: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tự nguyện.1: Mô hình kim tự tháp (Nguồn: Archie B. Caroll, 1991) Luan van 15 Trách nhiệm kinh tế (economic Responsibilities) là sản xuất cho xã hội các sản phẩm và dịch vụ có giá trị xã hội cao và nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hoàn trả các tổ chức tín dụng và các cổ đông. Trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận.
Trách nhiệm pháp lý (legal Responsibilities) là trách nhiệm tuân thủ các đạo luật của Nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm đạo đức (ethical Responsibilities) là tuân thủ những niềm tin và chuẩn mực hành vi được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Đó là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn bản luật.
Trách nhiệm tự nguyện (discretionary Responsibilities) hay trách nhiệm nhân văn (philanthropic Responsibilities) là các nghĩa vụ đơn thuần tự nguyện được doanh nghiệp thực hiện như quyên góp ủng hộ người kém may mắn trong xã hội, đóng góp cho dự án cộng đồng… Caroll sắp xếp trách nhiệm này theo thứ tự ưu tiên. Một doanh nghiệp trước hết phải tạo ra lợi nhuận để hoàn thành trách nhiệm kinh tế của mình đối với cổ đông. Để tiếp tục tồn tại, doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật, do đó phải hoàn thành các trách nhiệm pháp lý. Khi thỏa mãn hai trách nhiệm cơ bản, doanh nghiệp phải tìm cách hoàn thành trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tự nguyện.
Trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tự nguyện của doanh nghiệp đều không chịu sự ràng buộc pháp lý, song điểm khác biệt giữa hai loại trách nhiệm này là mức độ đáp ứng các chuẩn mực xã hội mong đợi. Caroll là người đầu tiên chia TNXH của DN thành các lớp khác nhau làm cho khái niệm TNXH của DN vượt ra khỏi phạm vi kinh tế vươn tới phạm vi đạo đức. Tuy nhiên, trong khái niệm của mình, ông không đề cập quá trình nhận thức của doanh nghiệp về TNXH của DN và mục tiêu TNXH của DN hướng tới lợi ích xã hội như thế nào. Bên cạnh đó, ông cũng chưa đề cập trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của con người.
Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cho rằng, TNXH của DN là sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững, không chỉ là trách nhiệm Luan van 16 của doanh nghiệp trong việc đảm bảo thu nhập cho các cổ đông, lương cho người lao động, sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng mà còn là trách nhiệm đối với các giá trị của xã hội và của môi trường (OECD, 2009) So với các khái niệm trước đó, quan niệm này về TNXH của DN đã có nội hàm phong phú hơn: Bảo đảm lợi ích kinh tế cho cổ đông, người lao động và trách nhiệm đối với giá trị của xã hội, của môi trường. Tuy vậy, khái niệm này chưa được xem xét trong mối quan hệ của doanh nghiệp như là một thiết chế kinh tế, như là một chủ thể xã hội có bổn phận và nghĩa vụ tương ứng các vị thế đó của chính mình. Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội, quan niệm rằng: “Ý thức về TNXH trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để kiếm tìm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội,v.v… Bởi vậy, chỉ những ai biết tôn trọng khách hàng, biết tôn trọng đạo lý và biết giữ lấy chữ tín làm đầu mới có hy vọng thành đạt trên cả thương trường trong nước lẫn quốc tế. Ý thức về TNXH sẽ giúp người sản xuất, kinh doanh tự điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực đạo đức để hướng tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp.
Cái lợi chính đáng sẽ càng sinh sôi, nảy nở và được củng cố thêm trên cơ sở cái thiện nhân nghĩa và cái đẹp. Trong ý thức và trong sự thực hành thực tiễn trách nhiệm này sẽ không có được sự thống nhất giữa những gì khuyên ta nên làm và những gì ta có bổn phận phải làm” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2009). Các nghiên cứu về TNXH của DN làm cho quan niệm về nó được mở rộng phù hợp với điều kiện thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn có nhiều tranh luận liên quan đến quan niệm này.
TNXH của DN được hiểu như thế nào cho đúng vẫn đang là một câu hỏi chưa có lời giải đáp thống nhất. Trên cơ sở phân tích, kế thừa những quan điểm về TNXH của DN của các tác giả, xuất phát từ phân tích khái niệm trách nhiệm và TNXH, tác giả cho rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị xã hội của một chủ thể doanh nghiệp theo bổn phận là một thành viên xã hội. Luan van 17 Với khái niệm TNXH của DN như trên, tác giả muốn khẳng định: TNXH của DN là một hiện tượng xã hội, luôn gắn với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (TNXH của DN là thuộc tính vận động, phương thức tồn tại của doanh nghiệp): phạm trù này xuất hiện trong đời sống thực tiễn và trở thành cái tất yếu khách quan đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nó xuất phát từ sự phát triển của chính doanh nghiệp và xã hội vì thế nó vừa là động lực, vừa là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp theo xu hướng góp phần cải tạo thực tiễn xã hội.
TNXH được lồng ghép vào chiến lược của doanh nghiệp và trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Tính tất yếu khách quan ấy có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho bản thân chủ thể doanh nghiệp, cho chủ thể quản lý xã hội (Nhà nước) và các chủ thể khác trong xã hội có thái độ và hành động đúng để thúc đẩy TNXH của DN vì sự phát triển của xã hội nói chung. Quá trình ấy là quá trình tự nhiên, tất yếu của hiện thực xã hội.