Luận án: Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Trần Nhật Thu

Luận án nghiên cứu cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2010 qua hệ thống nhân vật, không gian nghệ thuật và biểu tượng đặc trưng.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

175
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam 1986 2010

Cảm thức hiện sinh là hiện tượng con người nhận thức sâu sắc về sự tồn tại, tự hỏi ý nghĩa cuộc đời trong bối cảnh xã hội. Từ năm 1986 đến 2010, truyện ngắn Việt Nam phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ của xã hội sau Đổi Mới. Các tác giả khai thác những bất an, lo âu và khát vọng của nhân vật để mô tả hiện sinh trong thời kỳ đổi mới. Những câu chuyện ngắn thường đặt nhân vật trong những tình huống biên giới giữa hiện thực và tiềm thức, tạo ra một không gian nội tâm phong phú. Thông qua ngôn ngữ ngắn gọn, họ mô tả cảm giác bất an, nỗi cô đơn và sự tìm kiếm danh tính. Nhờ vậy, cảm thức hiện sinh trở thành một chủ đề trung tâm, cho thấy sự phản ánh sâu sắc của văn học đối với những biến đổi xã hội và tâm lý của con người trong giai đoạn này.

1.1. Khái niệm cảm thức hiện sinh

Cảm thức hiện sinh đề cập đến nhận thức của con người về sự tồn tại và vô nghĩa tiềm ẩn. Nó xuất hiện qua những câu hỏi về mục đích, cái chết và tự do. Trong văn học, nó được thể hiện qua những nhân vật trải qua khủng hoảng tâm lý, tìm kiếm giá trị sống trong bối cảnh bất định.

1.2. Bối cảnh lịch sử 1986 2010

Giai đoạn này bắt đầu sau Cải cách Đổi Mới, nền kinh tế mở cửa, xã hội thay đổi nhanh. Sự chuyển tiếp từ kinh tế kế hoạch sang thị trường tạo ra áp lực mới cho cá nhân. Người dân gặp nhiều bất ổn, gây ra cảm giác hoang mang và tìm kiếm ý nghĩa cá nhân trong thời kỳ đổi mới.

II. Phân tích vấn đề của cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn 1986 2010

Mặc dù có tiềm năng sâu sắc, việc nghiên cứu cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều tác phẩm chỉ mô tả những trạng thái hiện sinh rời rạc, chưa khái quát được xu hướng chung. Các nhà phê bình đôi khi nhầm lẫn giữa hiện sinh và chủ nghĩa hiện thực, làm mất đi tính đặc thù. Thêm vào đó, thiếu tiêu chuẩn đánh giá thống nhất khiến việc so sánh các tác phẩm trở nên phức tạp. Đối tượng nghiên cứu rộng, gồm hàng trăm tác giả, đa dạng thể loại, gây khó khăn trong việc tổng hợp và phân loại các khía cạnh hiện sinh. Những rào cản này làm cho việc đưa ra một bức tranh toàn diện về cảm thức hiện sinh trong giai đoạn vẫn còn chưa hoàn thiện.

2.1. Nhầm lẫn giữa hiện sinh và hiện thực

Nhiều nhà phân tích gán hiện sinh cho những mô tả thực tế xã hội, khi thực tế vẫn mang tính chủ quan và bi quan. Sự giao thoa này làm giảm độ chính xác của các phân tích và khiến những yếu tố triết học của hiện sinh bị loãng.

2.2. Thiếu tiêu chuẩn đánh giá

Hiện chưa có khung luận cụ thể để đo lường mức độ hiện sinh trong một truyện ngắn. Điều này dẫn đến việc các nhà nghiên cứu đưa ra các tiêu chí khác nhau, gây rối loạn trong việc tổng hợp dữ liệu và so sánh các tác phẩm.

III. Giải pháp và phương pháp nghiên cứu cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn 1986 2010

Để khắc phục những hạn chế, cần xây dựng khung phân tích đa tầng, kết hợp phương pháp nội dung và phân tích ngôn ngữ. Đầu tiên, xác định các biểu tượng, motif và hình ảnh liên quan đến hiện sinh như bóng tối, không gian trống, thời gian rã rời. Thứ hai, áp dụng công cụ phân tích định lượng để đo lường tần suất xuất hiện của các yếu tố này. Thứ ba, so sánh các nhóm tác giả theo thời kỳ, địa lý và phong cách để nhận diện xu hướng. Cuối cùng, kết hợp phỏng vấn các nhà văn và nhà phê bình để bổ sung góc nhìn thực tiễn. Phương pháp này giúp tạo ra một hệ thống đánh giá chuẩn, cung cấp dữ liệu khách quan cho nghiên cứu sâu hơn về cảm thức hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại.

3.1. Khung phân tích đa tầng

Khung này bao gồm ba lớp: lớp biểu tượng (motif), lớp ngôn ngữ (câu cú, hình ảnh) và lớp nội dung (chủ đề, khái niệm). Mỗi lớp được mã hoá và phân tích độc lập, sau đó tổng hợp để đưa ra nhận định toàn diện.

3.2. Phân tích định lượng và phỏng vấn

Sử dụng phần mềm xử lý văn bản để đếm tần suất các từ khóa hiện sinh. Kết hợp phỏng vấn sâu với các tác giả để hiểu nguồn cảm hứng và ý định sáng tạo, giúp làm sáng tỏ các khía cạnh không thể đo lường bằng số liệu.

IV. Kết luận và ứng dụng cảm thức hiện sinh trong văn học Việt Nam 1986 2010

Cảm thức hiện sinh đã trở thành một lăng kính quan trọng để hiểu sâu về tâm lý con người trong giai đoạn đổi mới. Nghiên cứu toàn diện cho thấy xu hướng tăng cường các khía cạnh tâm lý, sự phê phán xã hội và khát vọng tự do. Các kết quả này không chỉ mở rộng kiến thức lịch sử văn học mà còn hỗ trợ giáo dục, giúp sinh viên và giảng viên tiếp cận các chủ đề triết học qua ngôn ngữ nghệ thuật. Ngoài ra, công cụ phân tích được đề xuất có thể áp dụng cho các thể loại khác, như tiểu thuyết và thơ ca, tạo nền tảng cho nghiên cứu liên ngành giữa văn học và tâm lý học.

4.1. Tầm quan trọng trong giáo dục

Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cho các khóa học về văn học hiện đại và triết học hiện sinh. Giáo viên có thể sử dụng các ví dụ thực tế để minh họa cho sinh viên cách hiểu cảm xúc và tư tưởng của nhân vật.

4.2. Khả năng mở rộng sang các thể loại

Phương pháp phân tích đã được chứng minh hiệu quả, có thể chuyển sang nghiên cứu tiểu thuyết, kịch, và thơ. Điều này mở ra cơ hội cho các dự án liên ngành, kết nối văn học với tâm lý học và xã hội học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/10/2026
Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn việt nam từ 1986 đến 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu triết học hiện sinh và tư tưởng hiện sinh trongvăn học Việt Nam Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam nhìn chung là một quá trình phức tạp, bởi vì bản thân triết thuyết này gây nên những sự phân hóa rất lớn (giữa những người bác bỏ hay tán dương chủ nghĩa hiện sinh hữu thần hay hiện sinh vô thần, giữa những người tán thành hay không tán thành một đại diện nào đó của triết thuyết này, hoặc Kierkegaard hoặc Nietzsche hoặc Sartre, v. Thứ nữa, quá trình tiếp nhận chủ nghĩa hiện sinh ở từng nhà phê bình cũng không hề đơn giản, nhất phiến mà có thể chuyển biến linh hoạt (từ bất đồng sang chấp nhận). Những công trình nghiên cứu về triết học hiện sinh mà chúng tôi đã bao quát được cho đến thời điểm này cũng không nằm ngoài tình 6 trạng chung như đã nhắc đến ở trên.

Đây là lí do để chúng tôi quyết định tạm phân chia những công trình này thành hai nhóm theo hệ chủ đề (thay vì theo tính chất của công trình: phê phán hay ủng hộ): nhóm thứ nhất nghiên cứu về hiện sinh từ diễn trình phát triển của khuynh hướng triết học này (liên quan đến thuật ngữ, khái niệm), nhóm thứ hai tập trung phân tích, bình luận, đánh giá những biểu hiện của tinh thần hiện sinh qua giai đoạn, trào lưu, tác phẩm, tác giả cụ thể (liên quan đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu). Những công trình nghiên cứu liên quan đến thuật ngữ, khái niệm “Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết Sinh tồn, Thuyết Hiện sinh, Triết Hiện sinh, phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lý phát triển với nhịp điệu chóng mặt ở châu Âu từ sau thế chiến II. Khoảng hai mươi năm sau 1945 là thời kỳ hoàng kim của triết thuyết này. Chủ nghĩa hiện sinh cắm rễ và lan tỏa đến mọi ngõ ngách của đời sống, thấm cả vào những lĩnh vực khó biểu hiện nhất như âm nhạc.

Hiện sinh trở thành tôn chỉ cho phong cách sống của những người dám là chính mình và sống cho chính mình” [15, tr. Trên hành trình lan tỏa tầm ảnh hưởng, chủ nghĩa hiện sinh đã vượt qua biên giới châu Âu để hội nhập vào văn hóa, đời sống ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam (cụ thể là ở miền Nam Việt Nam những năm 50, 60) và gần như ngay lập tức đã để lại những dấu ấn đậm nét. Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương cho rằng: “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học miền Nam Việt Nam những năm 1954 -1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh” [60, tr. Ông cũng là một trong những người đầu tiên bàn đến chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam trên bình diện lý thuyết và bước đầu phác thảo một bức tranh cận cảnh về sự du nhập, bén rễ và nảy nở của chủ nghĩa hiện sinh trong lòng xã hội Việt Nam.

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về triết học hiện sinh có thể kể đến 7 là Triết học hiện sinh (Trần Thái Đỉnh), Hiện tượng luận về hiện sinh (Lê Thành Trị), Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (Lê Tôn Nghiêm), Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc (Trần Thiện Đạo), v. Ngoài ra còn có thể kể đến Mấy trào lưu triết học phương Tây của Phạm Minh Lăng, Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại của Nguyễn Hào Hải cùng một số công trình dịch thuật khác như Triết học phương Tây hiện đại (Lưu Phóng Đồng), Tìm hiểu chủ nghĩa hiện sinh của R. Campbell do Nguyễn Văn Tạo dịch, Chủ nghĩa hiện sinh của P. Foulquié và Hiện sinh - một nhân bản thuyết của J.

Sartre do Thụ Nhân dịch, Mổ xẻ nhà văn J. Sartre của Nguyễn Quang Lục, v. Cho đến nay, công trình Triết học hiện sinh của tác giả Trần Thái Đỉnh ra mắt độc giả vào những năm 60 của thế kỷ trước vẫn được xem là một công trình chuẩn mực, đầy đủ và gần như bao quát nhất về triết học hiện sinh. Công trình này cung cấp cho người đọc góc nhìn toàn cảnh về bản chất, sự thành hình và những chặng đường của triết học hiện sinh qua 7 triết gia hiện sinh lớn là S.

Triết học hiện sinh đã được tiếp cận từ nhiều góc nhìn khác nhau, với những điểm nhấn khác nhau ở từng tác giả và trong từng công trình. Bàn về khái niệm hiện sinh, Trần Thiện Đạo trong công trình Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc đã viết: “Chủ nghĩa hiện sinh trình bày sự hiện sinh (l’existence) như một hiện tượng đối lập với bản chất (l’essence) và hết sức mù mờ, thay đổi không ngừng; sự hiện sinh do ngẫu sinh (contingence) mà ra, nghĩa là có đó vậy thôi, có đó một cách vô cớ, không bao hàm một ý nghĩa tiên nghiệm nào và không được biện minh bởi một bản chất có sẵn nào” [19, tr. Trong công trình Mấy trào lưu triết học phương Tây, Phạm Minh Lăng có ý thức đặt chủ nghĩa hiện sinh trong tương quan so sánh với chủ nghĩa duy linh - nhân vị và chủ nghĩa thực dụng để đi đến khẳng định sự ra đời của triết học hiện sinh hiện đại chính là một bước hoàn chỉnh những quan điểm hiện sinh đã có 8 trong lịch sử. Tác giả cho rằng, mặc dù triết lý hiện sinh đến với miền Nam Việt Nam khá muộn nhưng không khí hiện sinh có lúc còn nồng nhiệt hơn nhiều nước phương Tây.

Nếu xét đến thực tế xã hội miền Nam lúc bấy giờ, ý kiến trên của Phạm Minh Lăng là hoàn toàn có cơ sở. Xã hội miền Nam những năm 50, 60 của thế kỉ trước tồn tại nhiều bất ổn, đầy khủng hoảng và mâu thuẫn. Đó chính là nguyên nhân để cho cả một thế hệ trẻ miền Nam lúc bấy giờ mê mải lao vào những triết lí của chủ nghĩa hiện sinh, tự nhận mình là những chủ thể hiện sinh đích thực ngay cả khi nhiều người trong số họ vẫn đang mù mờ chưa hiểu rõ hiện sinh đích thực là gì. Trong Hiện tượng luận về hiện sinh, tác giả Lê Thành Trị nêu một góc nhìn có tính khẳng định về triết hiện sinh: “Không riêng gì ở Việt Nam mà hầu như khắp nơi trên thế giới, hai chữ hiện sinh thường được hiểu như là một lối sống kỳ dị, đam mê, buông trôi, thác loạn, bất chấp dư luận và đạo đức…Nhưng nếu Hiện sinh chỉ có thế thôi thì dư luận quả đã không mấy bất công đối với những tên tuổi đã trực tiếp hay gián tiếp khai sinh ra phong trào hiện sinh, mà chúng tôi cũng đã không mấy được khuyến khích cố gắng để có thể gửi đến quý liệt vị cuốn lược khảo này.

Thực vậy, Hiện sinh trước hết là một triết lý, triết lý của những cá nhân lỗi lạc ở thế kỉ hai mươi đã từng suy tư từ trong cuộc sống bản thân cũng như của đồng loại…” [74, tr. Trong công trình Phê phán văn học hiện sinh, tác giả Đỗ Đức Hiểu từ cái nhìn khắt khe và giới hạn của thời điểm chưa đổi mới văn học đã bàn sâu về cội nguồn của thứ cảm giác cô độc, bất an mà ông xem là mã tâm lý bản chất của triết thuyết này: “Triết học hiện sinh đã phát triển một cách mạnh mẽ trên điêu tàn của một Châu Âu bị tàn phá một cách khủng khiếp trong Đại chiến thứ hai, trong xã hội mà một nền văn minh vừa bị chủ nghĩa phát xít chôn vùi… Cuộc sống, loài người, lí tưởng khoa học… những cái ấy không còn ý nghĩa, trở thành con số không. Người ta ngạc nhiên và hoài nghi tất cả, chung quanh là đổ vỡ, bên trong là cô độc, người ta bi quan và khiếp sợ. Một triết học đầy lo âu và 9 tuyệt vọng được khai thác và phát triển, một thứ văn học của sự hoang vu và tan rã ra đời một cách rầm rộ, đã đáp ứng, khuếch trương và khuyến khích những tâm trạng cô đơn, bị giày vò ấy…” [33, tr.

Nhà nghiên cứu cho rằng: “Quẩn quanh với một thế giới đóng kín, văn học hiện sinh chủ nghĩa chỉ sản sinh ra được hình tượng những con người khắc khoải, dở sống dở chết, những con người bừng bừng thức dậy với những cơn mê sảng dữ dội, những kí ức huyễn hoặc, những ám ảnh khủng khiếp, những hình bóng mơ hồ mà nó gọi là “thế giới thứ hai”, “xao xuyến náo động làm chấn động con người và vũ trụ” [33, tr. Ông chỉ trích khá gay gắt: “Sự thật, triết học hiện sinh và văn học hiện sinh chủ nghĩa coi rẻ và giày đạp con người, ở đấy con người không phải là một chủ thể tích cực, tác động đến thế giới và cấu tạo thế giới mà là một hữu thể tiêu cực “sợ hãi và run rẩy”, cô đơn và bất lực, phiêu lưu và vô vọng, “hữu hạn và phi lý” [33, tr. Thậm chí, ông khẳng định “vấn đề cần kết luận ở đây là phải khẳng định tính chất phản động của bộ phận văn học tự nhận là hiện sinh này. Tác giả Phạm Văn Sĩ trong Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây đánh giá: “Chủ nghĩa hiện sinh làm sống lại những tư tưởng bi quan yếm thế về thân phận con người, nó làm sống lại những tín điều xưa cũ coi cuộc đời là bể khổ, là thung lũng nước mắt, coi mọi cố gắng của con người chỉ là đuổi theo gió, là hoàn toàn hư phù.

Ông nhấn mạnh: “Dấn thân của con người hiện sinh chủ nghĩa là một sự dấn thân nửa vời, dấn thân trong bất lực. Nguyễn Tiến Dũng trong công trình Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam khẳng định chủ nghĩa hiện sinh Sài Gòn đã “đánh mất bộ mặt chống duy lý một cách nhất quán như ở phương Tây, không phủ định đối với xã hội tiêu thụ mà lựa chọn hiện sinh trong “bội thực khoái lạc” [17, tr.132] và chỉ “là một chủ nghĩa hiện sinh bi quan đến cùng cực mà thôi” [17, tr. Hẳn nhiên, triết học hiện sinh là thứ triết học bắt nguồn từ những trạng 10 huống tâm lí của con người cô độc, bơ vơ vì bị bỏ rơi, là triết học của những mảnh - vỡ - cá - nhân không có cơ hội gắn kết, tái tạo và không phải là một thứ triết học hoàn hảo, theo chính các nhà sáng lập ra nó. Vậy nên, nếu đây đó xuất hiện những lời chỉ trích nào đó nhắm vào những hạn chế của nó thì cũng là điều dễ hiểu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ