CHƯƠNG 1. BIỂN TRONG ĐỜI SỐNG TÂM HỒN VÀ TRONG THƠ CA NGƯỜI VIỆT 1. Biển trong đời sống người Việt Nước ta có 3260 km đường bờ biển kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang). Ưu thế đường bờ biển dài, vùng biển rộng đã tác động trực tiếp đến người dân Việt Nam.
“Là một vùng biển giàu có, biển Đông chứa đựng nhiều tài nguyên sinh vật, khoáng sản rất phong phú cả về số lượng và chủng loại. Nhờ có biển Đông, nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu ẩm ướt và vì thế về điều kiện tự nhiên có thể gọi Việt Nam là xứ sở của biển cả” (45,11). Cũng theo Nguyễn Thị Hải Lê, ban đầu người Việt không có nguồn gốc biển, họ là cư dân sống ở vùng trước núi, tràn xuống khai thác đồng bằng lầy trũng, rồi lấn biển và khai thác biển. Nhưng trong quá trình “Nam tiến” chất biển của họ ngày càng tăng lên.
Giải thích điều này, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh cho rằng có hai nguyên nhân cơ bản: thứ nhất đó là do quá trình lấn biển làm nông nghiệp và khai thác biển bắt buộc họ phải đứng trước biển; thứ hai người Việt đã tiếp nhận truyền thống biển từ người Chăm và một bộ phận người Chăm bị Việt hóa từ sau thế kỉ XI. Như vậy, qua một thời kì lịch sử dài, chất biển trong văn hóa người Việt ngày càng được khẳng định và củng cố. Tuy chưa tạo cho mình được một nền văn hóa biển điển hình như một số dân tộc khác trên thế giới nhưng người Việt đã làm chủ được một nền văn hóa mang những nét riêng của cư dân nông nghiệp. “Dấu ấn của biển đã hiện diện trong đời sống của tổ tiên người Việt từ thời kì tiền sử.
Những di tích “đống vỏ sò” hay “cồn sò điệp” trong các nền văn hóa khảo cổ như văn hóa Quỳnh Văn, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Thạch Lạc, văn hóa Hạ Long… là những dấu tích chứng minh rằng biển cả là nơi cung cấp nguồn sống chủ yếu cho các cộng đồng người tiền sử cư trú ở ven biển Việt Nam từ hàng ngàn năm trước” [50,53]. Từ xưa người Việt đã sớm biết chinh phục biển, đảo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của mình. Biển trở thành nơi cung cấp nhiều sản vật quí cho con người. Ngọc trai, đồi mồi, san hô… hay gần gũi nhất là muối đều được khai thác từ rất sớm.
Nhiều hải sản như mực, cá, tôm… với hàm lượng dinh dưỡng cao trở thành nguồn thực phẩm quen thuộc. Trong 14 bữa cơm của người dân Việt không thể không có chén nước mắm - một loại gia vị làm từ cá biển. Nước mắm không chỉ đơn thuần là một gia vị mà nó trở thành một nét văn hóa ẩm thực, văn hóa truyền thống gia đình của người Việt. Thế nhưng biển không hề êm dịu mà có lúc “sóng to gió lớn”, con người cũng đã học hỏi được nhiều điều từ “tính tình của biển”.
“Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” là một ví dụ tiêu biểu. Khai thác các giá trị từ biển cả, con người đã biết “khoan, thư” với cái ồn ào, dữ dội của biển. Khi gặp nạn trên biển (thường là sóng to, gió bão làm lật tàu, thuyền) các ngư dân thường khấn Ông, nhờ Ông độ. Nhiều câu chuyện về việc ngư dân được Ông cứu lan truyền ở nhiều vùng miền.
Việc lập đền thờ cá Ông trở thành một tín ngưỡng đẹp của ngư dân ven biển. Hầu như ở địa phương ven biển nào cũng đều có đền thờ cá Ông. Hằng năm, tùy theo từng nơi, lễ hội Nghinh Ông diễn ra một cách tôn nghiêm, thu hút hàng ngàn người tham dự. Không những thế nước ta còn được thiên nhiên ưu đãi ban cho khá nhiều bãi biển, nhiều vũng, vịnh, đảo đẹp.
Với bãi cát vàng, ngọn sóng trắng xóa vỗ ì oạp, dòng nước xanh biếc… nhiều bãi biển đã trở thành một địa điểm du lịch lý thú, thu hút khách trong nước lẫn khách nước ngoài, góp phần đẩy mạnh kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của ngư dân ven biển nhờ vào ngành công nghiệp không khói này. Biển còn là một vị trí quan trọng về mặt quân sự. Trong lịch sử kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc, không thể không nhắc đến vai trò của biển cả. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để kịp thời chi viện người, vũ khí và lương thực cho chiến trường miền Nam, đường Hồ Chí Minh trên biển đã được hình thành, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Những con tàu không số và cả những thủy thủ vô danh đã đi vào lịch sử. Trước đó hàng chục thế kỷ, nhiều trận đánh quan trọng, đẩy lùi quân xâm lược cũng bằng thủy chiến. Thời bấy giờ, dưới trướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có một chàng trai giỏi bơi lặn, tên là Yết Kiêu, đã dùi thủng chiến thuyền của giặc làm nên chiến thắng lẫy lừng ở cửa bể Vạn Ninh. Nhiều địa danh trên đất nước ta hàm chứa yếu tố biển hoặc liên quan đến biển như: Hải Phòng, Hải Dương, Cát Hải, Tiền Hải, hay vùng cửa biển lớn như Cửa Lớn, Cửa Việt, Cửa Lò, Cửa Tùng… Không những vậy, hình ảnh biển bờ đã đi sâu vào tâm thức người dân Việt, để rồi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, người dân Việt đều lấy các yếu tố biển làm “chuẩn”.
Nói về việc làm vô ích, viễn vông: “Dã tràng xe cát biển Đông, Mò kim đáy bể”; nói về sự đoàn kết: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”; nói về sự nham 15 hiểm, khó dò của lòng người: “Đố ai lặn xuống vực sâu/ Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa”… 1. Biển trong văn học dân gian Văn học dân gian là một kho tàng vô giá, chứa đựng nhiều giá trị tinh thần sâu sắc. Văn học dân gian hình thành trong quá trình lao động, sản xuất của dân tộc. Sau tấm màn hoang đường, kì ảo, chất hiện thực được tái hiện rõ nét.
Những hình ảnh về biển, đảo; hình ảnh ghe thuyền và sinh vật biển đã sớm đi vào sử sách, đặc biệt là trong những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích. “Hình tượng biển và đảo luôn thấp thoáng trong bao nhiêu cổ tích, truyền thuyết, là dấu ấn trong tâm thức mọi người” [91]. Hệ thần thoại là phương pháp cơ bản của việc hiểu thế giới và thần thoại phản ánh cảm giác, sự hiểu biết về thế giới của thời đại sinh ra nó. Thuở ban đầu, biển còn vô cùng lạ lẫm đối với con người.
Nhiều hiện tượng của biển được người dân lý giải lại một cách thần thánh hóa. Tuy nhiên, qua đó chúng ta cũng dễ dàng nhận ra người Việt đã sớm tiếp xúc với biển và lý giải các hiện tượng liên quan đến biển như sóng, thủy triều, bão lớn hay sóng thần. Truyện Thần Biển có đoạn lý giải các hiện tượng biển như sau: “Thần chỉ có mỗi công việc là hô hấp để sống. Mỗi lần hít vào thì nước biển tuôn vào bụng, mỗi lần thở ra thì khối lượng nước đó lại ùa ra hết.
Thần thở khi mạnh, khi nhẹ nhưng rất đều. Cứ mỗi lần như thế thì biển có hiện tượng thủy triều dâng lên rút xuống như ngày nay ta vẫn thường thấy. Thần nằm yên lặng, nhưng cũng có khi mệt mỏi, phải cựa quậy. Mỗi lần thần vùng vẫy là có gió to bão lớn, nước dâng ngập tràn mọi nơi, người trên mặt đất vẫn thường gọi là sóng của thần hay sóng thần” [49,11].
Dân gian còn truyền tụng câu hát, kể về các vị thần gầy dựng nên trời đất như ngày nay, trong đó có thần Biển như sau: Ông đếm cát/ Ông tát bể/ Ông kể sao/ Ông đào sông/ Ông trồng cây/ Ông xây rú/ Ông trụ trời. Điều này phần nào chứng tỏ, ngay từ thuở khai thiên lập địa, biển đã hiện diện trong tâm thức người Việt. Theo tác giả Hồ Quốc Hùng: “Truyền thuyết là ký ức cộng đồng về quá khứ. Chủ yếu nó phản ánh niềm tin, sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử của dân tộc ít nhiều bằng hư cấu, tưởng tượng.
Lịch sử đọng lại trong truyền thuyết như những tia hồi quang phủ lên cảnh vật, phong thổ của đất nước làm đắm say biết bao thế hệ” [31,10]. Như vậy, ngoài yếu tố kì ảo, hoang đường, truyền thuyết cũng có một phần 16 nào đó sự kiện có thật. Những truyền thuyết dưới đây phần nào minh chứng cho việc dân tộc ta đã lấn biển từ khá sớm và biển đã có trong tâm thức của người Việt. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên kể về nguồn gốc của dân tộc ta được sinh ra trong bọc trăm trứng bởi cha Rồng Lạc Long Quân và mẹ Tiên Âu Cơ.
Một hôm lạc Long Quân mới nói với Âu Cơ rằng: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở với nhau được, nay ta đưa năm mươi người con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo nhau biết, đừng quên”. Từ đấy lớp lớp con cháu của cha Rồng mẹ Tiên phá rừng lấn biển dựng nên cơ đồ con Lạc cháu Hồng ngày nay. Chúng ta cũng dễ dàng nhận ra, từ thuở hồng hoang, con người đã lên núi, xuống biển, phá rừng lấn biển để làm ăn sinh sống.
Câu chuyện về bào thai trăm trứng như một lời tuyên ngôn cho dân tộc Việt Nam, dù ở đâu, trên rừng hay dưới biển thì chúng ta cũng đều là người một nhà, cùng có chung nguồn gốc. Tiếp xúc với biển từ rất sớm nên trong tâm thức của họ, biển không chỉ bao la rộng lớn mà còn có nhiều sinh vật biển nguy hiểm và nó luôn ám ảnh trong tâm trí. Truyền thuyết Ngư tinh kể về một con tinh ngư xà dài hơn mười trượng, chân nhiều như chân rết, biến hóa muôn vẻ, linh dị khôn lường, khi đi thì ầm ầm như mưa, lại ăn được thịt người, quấy nhiễu thuyền chài làm ai ai cũng sợ hãi… là một trong số đó. Câu chuyện còn lý giải một số địa danh như Bạch Long Vĩ, Cẩu Đầu Sơn, Mạn Cẩu Thủy… Câu chuyện An Dương Vương được thần Kim Quy đến từ biển ba lần giúp đỡ cũng là một ví dụ cụ thể về hình ảnh biển đã có trong tâm thức người Việt.
Thần Kim Qui xuất hiện lần thứ nhất giúp nhà vua xây thành, lần thứ hai giúp nhà vua giữ thành và lần thứ ba rẽ sóng đưa nhà vua xuống biển khi giặc theo sát sau lưng.