Chương 1: Giới thuyết về biểu tượng và phong trào thơ trẻ thời kì chống Mĩ Chương 2: Những biểu tượng cơ bản về chiến tranh trong thơ trẻ thời kì chống Mĩ Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng về chiến tranh trong thơ trẻ thời kì chống Mĩ 10 NỘI DUNG Chƣơng 1 GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ PHONG TRÀO THƠ TRẺ THỜI KÌ CHỐNG MĨ 1. Biểu tƣợng về chiến tranh trong văn học 1. Khái quát chung về biểu tượng 1. Quan niệm về biểu tượng từ các góc độ khác nhau Biểu tượng là một khái niệm phổ biến trong cuộc sống cũng như trong nghiên cứu văn hóa, văn học.
Có rất nhiều cách định nghĩa về biểu tượng. Trong đời sống khoa học, đặc biệt là các bộ môn khoa học nghiên cứu như kí hiệu học, nhân học,. định nghĩa biểu tượng được dùng khá phổ biến. Theo chiết tự Hán Việt: biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó, tượng có nghĩa là "hình tượng".
"Biểu tượng" là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng. Bởi vậy, biểu tượng là phương tiện chuyển tải tư tưởng, thông điệp vượt ra ngoài khuôn khổ của dấu hiệu, hình ảnh, âm thanh. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, biểu tượng được hiểu là: “khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [9, tr. Trong nghĩa rộng, biểu tượng là: “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” [9, tr.
Trong nghĩa hẹp, biểu tượng là: “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa với con người và cuộc đời” [9, tr. Như vậy, ở phần trên, qua một số định nghĩa về biểu tượng, chúng ta có thể hình dung sơ bộ về khái niệm trong toàn bộ sự đa dạng và phức tạp của nó. Mỗi ngành khoa học ít nhiều đều sử dụng tới thuật ngữ biểu tượng và dĩ nhiên trong từng 11 ngành, nhất là lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đều đưa ra cho mình những kiến giải riêng về biểu tượng. Trong lịch sử phát triển của mỗi ngành, ở các trường phái, khuynh hướng, trào lưu với những gốc rễ tư tưởng triết học khác nhau, quan niệm về biểu tượng dĩ nhiên không thuần nhất.
* Từ góc độ Triết học Theo Từ điển triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giác quan” [66, tr. Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong đầu óc con người. Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình. Vì thế, mỗi người sẽ có thế giới biểu tượng của riêng mình.
Thế giới biểu tượng ấy có phong phú hay không còn tùy thuộc vào môi trường sống, năng lực hoạt động của cá nhân trong việc chiếm lĩnh, thâm nhập vào thế giới xung quanh. Và như vậy trong chúng ta ẩn chứa một kho biểu tượng vô tận. Đúng như Guy Schoeler viết: “sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [6, tr. * Từ góc độ tâm lí Theo Từ điển tiếng Việt: “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lí do một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức” [43, tr.
Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lí, biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có những sự vật, sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan của con người và nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt ở thể loại thơ ca. * Từ góc độ văn hóa Mỗi một nền văn hóa được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng. Các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa 12 thế giới cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…”.
Với cách hiểu như vậy, biểu tượng chính là một trong những cơ sở để xác định đặc trưng của một nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa với nhau. Bên cạnh đặc điểm trên, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa còn mang tính ổn định tương đối bởi mỗi nền văn hóa khác nhau thì hệ thống biểu tượng cũng khác nhau. Mặt khác, như ta đã biết, cấp độ đầu tiên của biểu tượng là “mẫu gốc”. Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau mà chúng ta có thể tìm thấy trong các thần thoại, truyền thuyết, lễ nghi, phong tục tập quán.
Vì vậy, biểu tượng dưới góc nhìn văn hóa luôn mang đậm hơi thở của dân tộc, của thời đại. * Từ góc độ ngôn ngữ Theo các nhà ngôn ngữ học thì “Biểu tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng chung” [Theo S.Pocxo - Dẫn theo Trần Ngọc Thêm - “Cơ sở văn hóa Việt Nam”]. Trong khi đó, nhà ngôn ngữ học lừng danh F.Saussure khẳng định: “Biểu tượng không hoàn toàn võ đoán, nó không phải cái trống rỗng”, đồng thời ông cũng thừa nhận biểu tượng thuộc vào năng lực cá nhân nhưng luôn luôn chứa đựng một nội dung nhất định được khái quát và chưng cất từ thực tiễn. Như vậy, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ.
Quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo nên tính đa nghĩa cho biểu tượng. * Từ góc độ văn học Từ góc độ văn học, theo Từ điển thuật ngữ văn học thì trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện "đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật". Theo nghĩa hẹp, "biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một 13 triết lí sâu xa về con người và cuộc đời" [9, tr. Văn học, nhìn nhận biểu tượng ở hai mặt.
Thứ nhất, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan. Thứ hai, biểu tượng không chỉ mang nghĩa đen, nghĩa biểu vật, nghĩa miêu tả… mà nói đến biểu tượng là nói đến hiện tượng chuyển nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm. Các nhà nghiên cứu lí luận văn học cho rằng: Biểu tượng là “phương tiện tạo hình và biểu đạt” có tính “đa nghĩa” trong tác phẩm văn học. Trong lĩnh vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện biểu đạt có hiệu quả.
Trên đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về biểu tượng từ các góc độ và tất yếu không tránh khỏi sự sơ lược và phiến diện so với thực tế đầy đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy đây là một “nền” không thể thiếu để chúng ta đi vào tiếp cận khái niệm từ góc độ mĩ học, lí luận văn học. Thông qua quá trình phân tích, ta thấy được dù được xem xét ở nhiều phương diện nhưng hầu hết các tác giả đều tập trung đến vai trò, giá trị khái quát và tượng trưng của biểu tượng. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng nhấn mạnh tính đa nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm văn học.
Biểu tượng theo quan điểm của luận văn Như đã trình bày ở trên, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm "biểu tượng". Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu của Nguyễn Thị Ngân Hoa: "Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm biểu tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của sự tồn tại này (cái được biểu trưng)" [16, tr. Bởi chúng tôi thấy khái niệm về biểu tượng nói riêng, những lí thuyết về biểu tượng nói chung trong chuyên đề này rất phù hợp với việc tìm hiểu (giải mã) biểu tượng chiến tranh trong thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Để làm rõ hơn cách hiểu trên, tác giả luận văn lấy biểu tượng súng và trăng trong văn học làm ví dụ tiêu biểu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo (Đồng chí, Chính Hữu) 14 Súng, trăng là đối tượng được nhiều nhà thơ, nhà văn dùng làm đối tượng miêu tả.
Trong thơ, Chính Hữu sử dụng hình ảnh súng, trăng (cái biểu trưng) để kết lại bài thơ Đồng chí, đó là một biểu tượng đẹp về người chiến sĩ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Hai hình ảnh tưởng là đối lập nhau đặt cạnh nhau tạo ra ý nghĩa biểu tượng hòa hợp vô cùng độc đáo. Súng là chiến tranh, gian khổ, hi sinh, là hiện thực. Còn trăng là tượng trưng cho hoà bình, gợi lên sự đẹp đẽ, thơ mộng, dịu dàng và lãng mạn.