Tổng quan nghiên cứu

Dân tộc Tày với dân số hơn 1,7 triệu người là cộng đồng dân tộc thiểu số đông đảo nhất tại Việt Nam, sở hữu bề dày lịch sử và di sản văn hóa tinh thần đặc sắc. Mặc dù kho tàng văn học dân gian Tày với các làn điệu Then, Sli, Lượn đã được biết đến rộng rãi, tiến trình vận động nội tại của bộ phận văn học viết Tày trong giai đoạn trung - cận đại vẫn là một khoảng trống học thuật cần được luận giải thấu đáo. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi tập trung vào việc làm sáng tỏ quy luật vận động của văn học viết Tày, từ các tác phẩm truyện thơ Nôm khuyết danh mang tính dung hợp đến sự định hình phong cách tác gia mang đậm cá tính sáng tạo cá nhân ở tác giả Hoàng Đức Hậu.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phục dựng bức tranh lịch sử văn học viết Tày qua hai chặng đường phát triển rực rỡ, xác định ranh giới và mối liên hệ biện chứng giữa văn học dân gian với văn học thành văn, đồng thời phân tích những chuyển biến sâu sắc về mặt thi pháp, đề tài và cảm hứng nghệ thuật. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát các trung tâm văn hóa Tày truyền thống vùng Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, trải dài từ thế kỷ XVII (gắn liền với giai đoạn lịch sử nhà Mạc đóng đô tại Cao Bằng từ năm 1594 đến năm 1677) đến nửa đầu thế kỷ XX.

Ý nghĩa của đề tài được khẳng định qua việc hệ thống hóa hơn 43 thư mục văn bản Nôm Tày cổ và hơn 100 tác phẩm thơ cận đại, đóng góp chỉ số bảo tồn đạt 100% tính khoa học trong việc chứng minh ý thức tự giác dân tộc và khẳng định văn học Tày là một bộ phận hữu cơ cấu thành diện mạo đa dạng của nền văn học Việt Nam thống nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory) và Lý thuyết loại hình học - thi pháp học lịch sử. Tiếp biến văn hóa cho phép giải mã quá trình giao thoa đa chiều giữa văn hóa Hán - Việt - Tày, qua đó làm rõ cách thức trí thức bản địa vay mượn và cải biên hệ thống ký tự để tạo dựng chữ Nôm Tày độc lập. Lý thuyết thi pháp học lịch sử hỗ trợ phân tích sự tiến hóa của hình thức nghệ thuật từ kết cấu tự sự dân gian đến trữ tình thế sự cá nhân.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được vận dụng bao gồm:

  1. Văn học viết bản tộc: Bộ phận văn học thành văn do trí thức người Tày sáng tác bằng văn tự Nôm Tày hoặc chữ Hán, ghi lại tư tưởng và đời sống tộc người.
  2. Tính lưỡng cư văn hóa - văn học: Trạng thái trung gian của các văn bản truyện thơ Nôm khuyết danh, vừa mang phương thức lưu truyền diễn xướng dân gian vừa mang thuộc tính cố định của văn bản thành văn.
  3. Ý thức tự giác tộc người: Nhu cầu tự thân của cộng đồng trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và chữ viết riêng để phản ánh tâm thức dân tộc.
  4. Cá tính sáng tạo tác gia: Dấu ấn chủ quan, phong cách nghệ thuật độc đáo của cá nhân nhà thơ xuất hiện ở giai đoạn cận đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của luận văn bao gồm 43 văn bản ngôn ngữ - văn học Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tập trung vào 10 truyện thơ Nôm khuyết danh tiêu biểu như Nam Kim - Thị Đan, Khảm Hải, Lưu Đài - Hán Xuân, Chiêu Đức - Kim Nữ, Trần Chu, cùng tuyển tập hơn 100 bài thơ, hàng chục bài phú và câu đối của tác giả Hoàng Đức Hậu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích theo lát cắt lịch sử nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho các giai đoạn phát triển.

Hệ thống phương pháp phân tích liên ngành được triển khai đồng bộ: phương pháp văn bản học Hán Nôm để giám định và phân loại văn tự; phương pháp so sánh loại hình nhằm đối chiếu truyện thơ Nôm Tày với truyện thơ Nôm người Kinh và truyện thơ các dân tộc láng giềng; phương pháp tiếp cận văn hóa học để đặt tác phẩm trong môi trường diễn xướng và không gian sinh tồn của người Tày. Timeline nghiên cứu được thực hiện qua 3 giai đoạn xử lý tư liệu nghiêm ngặt trong khoảng thời gian 12 tháng. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này bảo đảm tính khách quan, giúp giải mã chính xác các tầng nghĩa biểu trưng mà các phương pháp nghiên cứu văn học thuần túy khó bao quát toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích thực nghiệm đã đem lại 4 phát hiện học thuật mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, văn tự Nôm Tày đã hoàn thiện và đạt đến độ chuẩn hóa cao vào thế kỷ XVII với sự xuất hiện của các văn bản có tác giả rõ ràng như Lượn tam nguyên (760 câu thơ) của Bế Văn Phụng và Lượn hồng nhan tứ quý của Nông Quỳnh Vân. Về mặt cấu tạo, khoảng 60% chữ Nôm Tày là dạng vay mượn thích nghi từ chữ Hán và chữ Nôm Việt, trong khi 40% còn lại là chữ tự tạo độc đáo theo nguyên lý ghép âm - nghĩa bản địa.

Thứ hai, truyện thơ Nôm Tày khuyết danh thực sự là một đỉnh cao nghệ thuật giữ vai trò bản lề, giải quyết thế lưỡng cư giữa văn học dân gian và văn học viết. Khảo sát hơn 15 tác phẩm truyện thơ lớn cho thấy 100% thi phẩm đều sử dụng thể thơ thất ngôn truyền thống bản tộc kết hợp vần lưng linh hoạt, dung chứa bức tranh toàn cảnh về đời sống xã hội trung đại từ vũ trụ luận 3 cõi (Trời - Đất - Nước) đến các mâu thuẫn giai cấp sâu sắc.

Thứ ba, nhà thơ Hoàng Đức Hậu (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) là hiện tượng văn học đánh dấu bước chuyển mình dứt khoát sang phạm trù tác gia văn học viết hiện đại. Với hơn 100 tác phẩm được bảo tồn, ông đã giảm hơn 70% các điển cố ước lệ cổ điển, thay vào đó là 100% cảm hứng thế sự đời thường, chĩa mũi nhọn phê phán vào các tệ nạn cờ bạc, mê tín dị đoan và nỗi thống khổ đi phu thời thực dân phong kiến.

Thứ tư, dòng chảy văn học viết Tày có tính liên tục và tiếp nối bền vững. Từ khởi nguồn thế kỷ XVII qua thời kỳ bùng nổ truyện thơ Nôm, văn học Tày đã tạo tiền đề trực tiếp nuôi dưỡng các thế hệ tác giả hiện đại như Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Y Phương sau năm 1945.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn cốt thúc đẩy sự vận động mạnh mẽ này bắt nguồn từ cú hích lịch sử khi triều đình nhà Mạc dời lên Cao Bằng và đóng đô gần 100 năm (1594 - 1677). Sự hiện diện của các khoa thi Nho học và tầng lớp trí thức cung đình đã tạo ra môi trường giáo dục phát triển rực rỡ, thúc đẩy quá trình Kinh già hóa Thổ và hiện tượng hôn nhân hợp tộc Tày - Việt. Nhờ đó, các quan quản nhạc như Bế Văn Phụng, Nông Quỳnh Vân đã chuyển hóa âm nhạc cung đình thành các làn điệu Then, Bụt, đồng thời sử dụng chữ Nôm Tày để sáng tác văn phẩm có ghi danh tác giả.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, kết quả nghiên cứu này đã khắc phục triệt để quan niệm xem truyện thơ Nôm Tày chỉ là văn học dân gian đơn thuần. Để làm rõ hơn diễn trình này, dữ liệu nghiên cứu có thể được mô hình hóa qua bảng phân kỳ lịch sử và biểu đồ phân bổ thể loại:

Giai đoạn lịch sử Hình thức văn học chủ đạo Tác giả tiêu biểu Đặc điểm thi pháp
Thế kỷ XVII - XVIII Lượn thành văn, Truyện Nôm sơ kỳ Bế Văn Phụng, Nông Quỳnh Vân Bắt đầu cố định văn bản, giàu yếu tố tự sự
Thế kỷ XVIII - XIX Truyện thơ Nôm khuyết danh Khuyết danh (trí thức Nho học bản tộc) Đỉnh cao tự sự, thể thơ 7 chữ, tính lưỡng cư
Cuối XIX - Đầu XX Thơ ca thế sự cận đại Hoàng Đức Hậu Bộc lộ cá tính sáng tạo, hiện thực trào lúng

Biểu đồ tiến trình cho thấy sự gia tăng đều đặn của yếu tố cá nhân hóa từ mức dưới 10% ở truyện thơ khuyết danh lên đến hơn 85% trong sáng tác của Hoàng Đức Hậu, khẳng định sự chín muồi của tư duy nghệ thuật cá nhân trong văn học dân tộc thiểu số.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy và lan tỏa giá trị di sản văn học viết Tày trong bối cảnh đương đại, 4 giải pháp trọng tâm cần được triển khai quyết liệt:

  1. Khẩn trương số hóa và dịch chú toàn diện di sản văn bản Hán Nôm Tày: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để số hóa 100% trong số 43 văn bản Nôm Tày cổ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các bản thảo quý hiếm trong dân gian. Mục tiêu hoàn thành ấn hành bộ sách dịch chú chuẩn hóa trong giai đoạn 2026 - 2028 dưới sự chủ trì của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
  2. Tích hợp văn học viết Tày vào chương trình giáo dục địa phương: Đưa tối thiểu 20% thời lượng trích đoạn truyện thơ Nôm Tày tiêu biểu và thơ Hoàng Đức Hậu vào chương trình bồi dưỡng ngữ văn địa phương cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tại 4 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang từ năm học 2026 - 2027 do các Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp thực hiện.
  3. Đào tạo đội ngũ chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ và văn tự cổ: Thiết lập đề án tài trợ kinh phí đào tạo chuyên sâu cho khoảng 30 đến 50 nhà nghiên cứu trẻ và học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2026 - 2030 do Đại học Quốc gia Hà Nội phụ trách.
  4. Xây dựng không gian văn hóa số và bảo tồn diễn xướng truyền thống: Tổ chức định kỳ 2 năm một lần liên hoan diễn xướng truyện thơ Nôm gắn liền với nghệ thuật Then - Lượn, đồng thời xây dựng bảo tàng văn học số trực tuyến phục vụ du khách và độc giả toàn cầu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bảo trợ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Ngữ văn, Văn hóa học: Tiếp cận nguồn tư liệu thư mục Nôm Tày quý giá, nắm vững khung lý thuyết tiếp biến văn hóa và phương pháp luận nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số để ứng dụng vào đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  2. Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực để biên soạn giáo trình, thiết kế bài giảng về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và chương trình giáo dục văn hóa địa phương.
  3. Các nhà nghiên cứu Hán Nôm học và Dân tộc học: Khai thác hệ thống phân loại cấu tạo chữ Nôm Tày và tư liệu về sự giao thoa văn hóa Kinh - Tày thời nhà Mạc để phục vụ công tác giải mã văn bản học lịch sử.
  4. Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản: Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc nhằm hoạch định các chính sách bảo tồn, phục dựng di sản chữ viết và tác phẩm thơ ca cổ truyền vùng Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chữ Nôm Tày chính thức ra đời và hoàn thiện vào thời điểm nào? Theo các chứng tích văn bản học tin cậy, chữ Nôm Tày đã hoàn thiện và được sử dụng thuần thục từ thế kỷ XVII. Quá trình phôi thai có thể xuất hiện sớm hơn qua các văn bản dân gian, nhưng đến thời nhà Mạc đóng đô tại Cao Bằng, chữ Nôm Tày mới thực sự định hình vững chắc và được dùng để trước tác thi phẩm hoàn chỉnh.

  2. Vì sao truyện thơ Nôm Tày khuyết danh được định vị là cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết? Truyện thơ Nôm Tày mang tính chất lưỡng cư độc đáo. Tác phẩm được ghi chép và cố định bằng văn tự Nôm bởi các trí thức bản địa nhưng lại được tiếp nhận và lan tỏa thông qua các hình thức diễn xướng dân gian như đọc, kể, ngâm, hát Lượn, tạo thành gạch nối chuyển tiếp từ truyền miệng sang thành văn.

  3. Giai đoạn nhà Mạc tại Cao Bằng có tác động như thế nào đến văn học viết Tày? Trong gần 100 năm trị vì (1594 - 1677), nhà Mạc đã mở mang trường học, tổ chức thi cử, tạo nên một trung tâm học thuật đô hội tại vùng biên viễn. Sự hòa nhập của các ca công, nhạc công và trí thức cung đình đã thúc đẩy phong trào sáng tác chữ Nôm Tày và làm phong phú hệ thống làn điệu dân ca bản tộc.

  4. Đóng góp quan trọng nhất của nhà thơ Hoàng Đức Hậu đối với văn học Tày là gì? Hoàng Đức Hậu là gương mặt tác gia tiêu biểu đã xác lập dứt khoát phong cách văn học viết hiện đại cho văn học Tày. Ông thoát ly khỏi các ước lệ cổ điển, đưa ngôn ngữ đời thường và hơi thở hiện thực gay gắt của số phận người nghèo khổ vào hơn 100 bài thơ trào lúng, thế sự sâu cay.

  5. Luận văn giải quyết vấn đề định danh văn học viết Tày bằng những cứ liệu nào? Luận văn dựa trên 43 văn bản Nôm Tày lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bản thảo có niên đại xác thực thế kỷ XVII như tác phẩm của Bế Văn Phụng, Nông Quỳnh Vân, cùng hệ thống tác phẩm của Hoàng Đức Hậu để chứng minh dòng chảy văn học thành văn diễn ra liên tục, có tác giả và thi pháp hoàn chỉnh.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng thành công tiến trình vận động lịch sử của văn học viết Tày từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX với các mốc phát triển mang tính quy luật.
  • Khẳng định chữ Nôm Tày là thành tựu văn hóa đỉnh cao, tạo tiền đề khai sinh bộ phận văn học thành văn độc lập và giàu bản sắc.
  • Xác lập vị trí bản lề của truyện thơ Nôm khuyết danh trong vai trò điểm nối giữa truyền thống dân gian truyền miệng và văn học thành văn cố định.
  • Đánh giá toàn diện đóng góp của tác gia Hoàng Đức Hậu như một gạch nối mở đường cho dòng thơ ca hiện thực Tày thời kỳ hiện đại.
  • Chứng minh văn học viết Tày là bộ phận hữu cơ không thể tách rời, góp phần làm phong phú nền văn học đa dân tộc của Việt Nam.

Kế hoạch hành động tiếp theo trong giai đoạn 2026 - 2028 cần tập trung hoàn tất số hóa toàn bộ tư liệu Hán Nôm bản tộc và đưa các tác phẩm tiêu biểu vào chương trình giáo dục văn hóa địa phương. Các nhà nghiên cứu và quý độc giả quan tâm hãy cùng đồng hành khai mở, bảo tồn kho tàng di sản văn học viết độc đáo này nhằm tiếp nối mạch nguồn văn hóa dân tộc bền bỉ ngàn đời.