Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ mang tên So sánh hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc được tác giả Bang Jeong Yun hoàn thành tại Hà Nội vào tháng 12 năm 2019. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học (chuyên hướng Văn học so sánh), tiếp cận theo phương pháp định tính và nghiên cứu liên ngành văn học – lịch sử – văn hóa.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc cùng trải qua những biến động lịch sử lớn khi trở thành thuộc địa của ngoại bang: Việt Nam chịu ách đô hộ của thực dân Pháp, còn Hàn Quốc chịu sự cai trị của phát xít Nhật (1910–1945). Mặc dù chế độ thuộc địa gây ra nhiều áp bức và tổn thất, quá trình tiếp xúc với văn minh phương Tây (trực tiếp tại Việt Nam thông qua Pháp và gián tiếp tại Hàn Quốc thông qua Nhật Bản sau cuộc Duy tân Minh Trị) đã thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa xã hội, hình thành các đô thị mới, trường học kiểu mới và hệ thống báo chí. Bối cảnh này đã làm thay đổi căn bản nhận thức xã hội về phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện cho người phụ nữ bước vào đời sống công cộng với khát vọng tự do, bình đẳng và quyền sống cá nhân.
Tại Việt Nam, sự xuất hiện của hình tượng người phụ nữ mới ghi dấu ấn đậm nét trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn. Cùng thời kỳ đó tại Hàn Quốc, bất chấp sự đàn áp tàn bạo của chính quyền thực dân Nhật—tiêu biểu là thảm kịch khoảng 200.000 phụ nữ bị cưỡng bức lao động và làm nô lệ tình dục ("úy an phụ", 慰安婦)—người phụ nữ Hàn Quốc dần thức tỉnh ý thức cá nhân, trở thành hình tượng trung tâm trong tác phẩm của các nhà văn như Choi Jung Hee, Sim Hun, Kang Kyung Ae, Baek Shin Ae và Yeom Sang Sub.
Về mặt thực tiễn, tác giả Bang Jeong Yun là nghiên cứu sinh người Hàn Quốc có 6 năm làm việc tại Đại sứ quán Hàn Quốc ở Việt Nam, trực tiếp phụ trách mảng hộ tịch và quốc tịch cho các gia đình đa văn hóa, bao gồm thủ tục đăng ký kết hôn và ly hôn của các cô dâu Việt Nam tại Hàn Quốc. Tác giả nhận thấy sự thiếu hụt hiểu biết sâu sắc về văn hóa và con người giữa hai quốc gia đã làm nảy sinh nhiều xung đột tiêu cực trong đời sống hôn nhân đa văn hóa.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước thời điểm công trình thực hiện, giới nghiên cứu ở cả Việt Nam và Hàn Quốc chỉ tập trung khảo sát riêng lẻ văn học của từng nước hoặc so sánh ở các mảng văn học dân gian, truyện thơ Nôm thời trung đại, tiểu thuyết hiện thực hay tiểu thuyết chiến tranh. Chưa có một công trình nào đặt các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và các tác phẩm văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc vào thế đối sánh trực tiếp, toàn diện về hình tượng người phụ nữ mới nhằm tìm ra quy luật tiếp biến văn học khu vực dưới tác động của phương Tây.
Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản phân định thành hai nội dung chính:
- Thấy được quy luật của sự tiếp biến cách tân văn học mỗi dân tộc trước những ảnh hưởng từ phương Tây. Trong đó, phương Tây ở Việt Nam được đồng nhất với văn hóa Pháp, còn ở Hàn Quốc hiện diện gián tiếp qua trung gian Nhật Bản. Việc rút ra quy luật chung trong tiến trình vận động của hai nền văn học là mục tiêu lý thuyết cơ bản.
- Làm rõ và nhận diện đầy đủ hơn các đặc điểm văn học và văn hóa của hai quốc gia thông qua tính phổ quát của hình tượng người phụ nữ thời kỳ này.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Khảo sát những tác phẩm tiêu biểu về người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc.
- Nhiệm vụ 2: Tiến hành so sánh nhằm xác định những điểm tương đồng và khác biệt về hình tượng người phụ nữ giữa hai nền văn học.
- Nhiệm vụ 3: Phân tích các đặc điểm văn hóa – xã hội để lý giải cội nguồn của những điểm tương đồng và khác biệt đó.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng các nhân vật phụ nữ mới trong các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc. Luận án xác định nội hàm khái niệm "người phụ nữ mới" bao gồm hai nét nghĩa cốt lõi: chống lại lễ giáo Nho giáo truyền thống; có ý thức về cái tôi và quyền sống của bản thân. Khái niệm này được khu biệt rõ với nhóm phụ nữ "cũ" mang nặng tư tưởng phong kiến, đồng thời loại trừ nhóm nhân vật mang màu sắc hiện sinh (như Hiền trong Trống mái, Tuyết trong Đời mưa gió, Hảo trong Thừa tự) cũng như khái niệm modon kol (chỉ những phụ nữ chạy theo lối sống phù phiếm, hưởng thụ) để phân biệt với sin yosong (phụ nữ mới chân chính).
- Phạm vi không gian: Việt Nam và Hàn Quốc.
- Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỷ XX, trọng tâm là giai đoạn 1910–1945 đối với Hàn Quốc và giai đoạn thập niên 1930 đối với Việt Nam.
- Văn bản khảo sát cụ thể:
- Tự Lực văn đoàn: 3 tiểu thuyết gồm Đoạn tuyệt (1934), Nửa chừng xuân (1934) và Lạnh lùng (1935).
- Văn học Hàn Quốc: 5 tác phẩm gồm Mẹ và con gái (1931), Đêm giao thừa (1931), Lễ tổ tiên trên núi (1938), Chức nữ (1938) và Hoàng hôn đỏ rực (1939).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Tác giả Bang Jeong Yun đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thành 3 nhóm tư liệu lớn:
- Các công trình ứng dụng văn học so sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc: Văn bản điểm lại hơn 20 công trình tiêu biểu từ năm 2001 đến 2019, bao gồm:
- So sánh văn học trung đại và truyện dân gian: Kang Hana (2001) về chủ nghĩa hiện thực đầu thế kỷ XX; Bae Yang Soo (2001) so sánh Truyện Kiều và Truyện Xuân Hương; Jeong Yu Jin (2002) về người phụ nữ trong truyện truyền kỳ Hàn – Trung – Việt; Jeon Hye Kyung (2002, 2005) so sánh truyện cổ tích; Bùi Phan Anh Thu (2006) khảo sát thơ Kim So Wol và Nguyễn Bính; Lee Hyun Jung (2013) so sánh quan niệm hiếu thảo trong Truyện Thẩm Thanh và Thoại Khanh Châu Tuấn; Lee Hyun Jung (2015) so sánh truyện Hoàng tử Mỵ Châu - Trọng Thủy và Hoàng tử Hodong - Công chúa Nakrang; Trần Thị Bích Phương (2013) về giáo dục Truyện Xuân Hương và Truyện Kiều; Bùi Thị Hà Anh (2017) so sánh truyện cổ tích tiên nữ; Ha Eun Ha (2018) so sánh truyện Trầu cau và Anh em trở thành dây leo; Lee Ki Won (2019) nghiên cứu truyện cổ tích HeungBu Nolbu qua ba nước Hàn Quốc, Việt Nam và Uzbekistan.
- So sánh tiểu thuyết hiện thực và tiểu thuyết phong tục: Lương Nguyễn Thanh Trang (2006, 2007) so sánh truyện ngắn của Nam Cao và Hyun Jin Geon; Đặng Văn Giang (2009) so sánh truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Hyun Jin Geon; Trần Thị Lan Anh (2010) về đề tài nông dân thời thuộc địa; Lê Thị Vũ Lam (2014) về tiểu thuyết hiện thực thời thuộc địa; Han Kang (2019) so sánh tiểu thuyết thế sự qua Chun Byun Poong Kyung của Park Tae Won và Quê người của Tô Hoài.
- So sánh tiểu thuyết chiến tranh và giáo khoa: Ji Hyun Hee (2007), Nguyễn Thị Bích Huệ (2007) so sánh tác phẩm của Hwang Suk Young và Nguyễn Minh Châu; Yoo Eun Sang (2013) về bi kịch chiến tranh; Lê Văn Liêm (2011) so sánh sách giáo khoa trung học cơ sở; Yang Min Jeong (2012) về giáo dục năng lực giao lưu văn hóa cho gia đình đa văn hóa.
- Nghiên cứu nhân vật nữ: Sun Keum Hee (2016) so sánh hình tượng phụ nữ trong Vô tình của Lee Kwang Su và Đoạn tuyệt của Nhất Linh.
- Lịch sử nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong Tự Lực văn đoàn:
- Về nội dung tư tưởng: Phan Cự Đệ khẳng định Tự Lực văn đoàn giải phóng bản ngã và đấu tranh cho tự do hôn nhân; Trương Tửu (1935) ngợi ca Đoạn tuyệt ủng hộ cá nhân nhưng phê phán Lạnh lùng là phóng đãng; Trương Chính trong Dưới mắt tôi (1939) đánh giá cao tinh thần công bố sự bất hợp thời của nền luân lý cũ trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và Nửa chừng xuân; Trần Đăng Suyền và Lê Quang Hưng phân tích kiểu nhân vật "gái mới" và tính luận đề cải cách xã hội của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo; Trịnh Hồ Khoa xem Đoạn tuyệt là bản tuyên ngôn của thanh niên và Lạnh lùng lên án tiết hạnh trái mùa; Nguyễn Hoành Khung phân tích sự ngoan cường của nhân vật Loan và nét đẹp kết hợp truyền thống với tinh thần tiến bộ của nhân vật Mai; Bùi Xuân Bào nhận định Loan đại diện cho khuynh hướng lãng mạn phản kháng; Hoàng Dung và Hà Minh Đức đánh giá Mai là hình tượng hòa quyện đạo đức nhân dân và phẩm chất phụ nữ mới.
- Về nghệ thuật biểu hiện: Trịnh Hồ Khoa nhấn mạnh nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp thể chất kết hợp với nội tâm và thiên nhiên; Trần Đăng Suyền và Lê Quang Hưng ghi nhận việc xóa bỏ lối viết ước lệ và áp dụng kỹ thuật hội họa hiện đại; Lê Thị Dục Tú trong Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn phân tích vẻ đẹp thể chất trần thế; Nguyễn Thị Tuyết chỉ ra thẩm mỹ phương Tây hướng vào tính dục và trang phục hiện đại; Trương Chính, Vũ Ngọc Phan và Nguyễn Hoành Khung đánh giá cao khả năng phân tích tâm lý nội tâm; Phạm Thế Ngũ ghi nhận dấu vết tâm lý học của Marcel Proust và Sigmund Freud trong ngòi bút của Nhất Linh ở Lạnh lùng.
- Lịch sử nghiên cứu hình tượng phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc:
- Tác phẩm Mẹ và con gái (Kang Kyung Ae): Kim Mi Hyun và Lee Hun Jung phân tích hành trình giải phóng áp bức của người phụ nữ trong các mối quan hệ xã hội; Sách giáo khoa Văn học lớp 11 Hàn Quốc (2016) và Jung Young Hwa đề cao sự thức tỉnh giá trị bản thân của hai thế hệ phụ nữ chống lại hôn nhân cưỡng ép; giáo trình Văn học hiện đại của Đại học Busan (2014) chỉ rõ mô hình ba người phụ nữ: mẹ Yepun (truyền thống), mẹ chồng San Hoju (tự chủ kinh tế) và Yoki (hướng tới lý tưởng mới).
- Tác phẩm Lễ tổ tiên trên núi (Choi Jung Hee): Jung Young Ja và Kwon Young Min phân tích tình cảnh phụ nữ nghèo khó, bị nam giới coi như công cụ thỏa mãn tính dục và chịu tổn thương tâm lý bắt nguồn từ chính trải nghiệm gia đình của tác giả.
- Tác phẩm Đêm giao thừa (Yeom Sang Sub): Kim Woo Chang phân tích bi kịch thỏa hiệp giữa luân lý mới và cũ; Kim Yun Sik và Seo Jong Taek nhìn nhận hành vi tình cảm của nhân vật Jung In là sự phản kháng và cái chết của cô phản ánh yêu cầu cải cách xã hội; Kim Jong Kyun xem đây là nạn nhân bị tha hóa trong xã hội suy đồi.
- Tác phẩm Chức nữ (Sim Hun): Song Ji Hyun chỉ ra mô típ cặp đôi cải cách hiện thực tương đồng với Chim lửa, Cây đời mãi xanh; Yoon Byung Lo ghi nhận Sim Hun lấy hình mẫu từ chính người vợ của mình để thể hiện sự chuyển biến từ phụ nữ truyền thống sang phụ nữ mới; Oh Ji Hyung nhấn mạnh tinh thần khai sáng và hiện thực chủ nghĩa tương tự tác phẩm Lá xanh.
- Tác phẩm Hoàng hôn đỏ rực (Baek Shin Ae): được ghi nhận với đề tài tình yêu vượt tuổi tác.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình đi trước, dù nghiên cứu sâu sắc từng nền văn học, đã bỏ qua cái nhìn tổng thể mang tính khu vực. Giới nghiên cứu trước đó chưa làm rõ được việc cùng phản ánh tư tưởng nữ quyền nhưng văn học Việt Nam và Hàn Quốc lại đặt trọng tâm khác nhau vào các mối quan hệ xung đột: xung đột thế hệ trong gia đình (Việt Nam) hay xung đột giới và xung đột giai cấp – xã hội (Hàn Quốc). Luận án của Bang Jeong Yun là công trình đầu tiên trực tiếp đối sánh hai hiện tượng văn học này để lấp đầy khoảng trống đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Lý thuyết Văn học so sánh: Luận án tiếp thu các nguyên lý lý thuyết từ các học giả quốc tế và trong nước:
- Susan Bassnett: khẳng định tính chất liên bộ môn, nghiên cứu văn bản xuyên qua các nền văn hóa, không gian và thời gian.
- Hồ Á Mẫn: xác định quan điểm xuyên quốc gia, coi văn học thế giới là một chỉnh thể; phân định hai nhánh là "nghiên cứu ảnh hưởng" (giữa các nền văn học có giao lưu tiếp xúc) và "nghiên cứu song song" (giữa các nền văn học không có quan hệ trực tiếp nhưng tương đồng về điều kiện lịch sử, văn hóa); thiết lập ba khuynh hướng so sánh: chủ đề học, thể loại học và thi học so sánh.
- Nguyễn Văn Dân: phân chia văn học so sánh thành ba bộ phận (ảnh hưởng, tương đồng lịch sử, khác biệt đặc thù); xác lập hai thao tác cơ bản là "loại đồng" (tìm điểm giống) và "đối dị" (tìm điểm khác), cùng hệ thống 7 phương pháp vận dụng (thực chứng, loại hình, cấu trúc, ký hiệu học, hệ thống, xã hội học, tâm lý học).
- Lưu Văn Bổng: phân loại các bình diện so sánh theo chủ đề, mô típ, huyền thoại, thể loại, hình thức, phong cách và trào lưu.
- Khung phân tích song song: Do văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX không có sự giao lưu hay tiếp xúc văn bản trực tiếp, luận án vận dụng mô hình "nghiên cứu song song", đặt hai nền văn học cạnh nhau dựa trên tiền đề tương đồng về hoàn cảnh lịch sử thuộc địa và tiến trình hiện đại hóa để làm nổi bật các quy luật chung cũng như nét đặc thù dân tộc.
- Khái niệm công cụ: "Người phụ nữ mới" được định vị như một hệ chuẩn thẩm mỹ và tư tưởng mới hình thành dưới tác động của văn hóa phương Tây, phản kháng chế độ gia trưởng và khẳng định quyền sống cá nhân.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án là công trình nghiên cứu định tính, kết hợp linh hoạt các phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: mổ xẻ từng tác phẩm, nhân vật để khái quát thành các đặc trưng nhóm và trào lưu.
- Phương pháp so sánh: vận dụng thao tác loại đồng và đối dị để đối chiếu các yếu tố chủ đề, nhân vật, cốt truyện và kỹ thuật trần thuật.
- Phương pháp khảo sát, thống kê: thu thập các số liệu lịch sử cụ thể về xã hội, giáo dục, báo chí để làm điểm tựa cho lập luận văn học.
- Phương pháp hệ thống: định vị hình tượng phụ nữ trên cả trục lịch đại (từ truyền thống Nho giáo sang hiện đại) và trục đồng đại (trong quan hệ với các trào lưu cùng thời).
- Phương pháp liên ngành: kết hợp văn học với xã hội học, sử học, văn hóa học và nghiên cứu giới.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án gồm hai phần chính:
- Tư liệu tác phẩm văn học: Các bản in tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng tại Việt Nam và văn bản tác phẩm của Kang Kyung Ae, Yeom Sang Sub, Choi Jung Hee, Sim Hun, Baek Shin Ae tại Hàn Quốc.
- Tư liệu lịch sử, xã hội và văn hóa: Các số liệu thống kê về quá trình đô thị hóa, chính sách giáo dục thuộc địa (nghị định Học chính tổng quy 1917), số liệu trường học, giáo viên, ấn phẩm báo chí đầu thế kỷ XX; các ghi chép lịch sử thời phong kiến (văn bản triều Lê, triều Nguyễn, triều Joseon, tác phẩm của Park Ji Weon) và ghi chép phương Tây của Percival Lowell (1885), Isabella Bird Bishop (1898).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương này tập trung trình bày cơ sở lý luận của phân môn Văn học so sánh và tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước. Tác giả khẳng định việc vận dụng lý thuyết văn học so sánh, đặc biệt là phương pháp nghiên cứu song song, hoàn toàn phù hợp để khảo sát hai nền văn học cùng thuộc vùng văn hóa Á Đông và cùng trải qua hoàn cảnh thuộc địa. Chương 1 phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu về Tự Lực văn đoàn tại Việt Nam và văn học thời Nhật thuộc tại Hàn Quốc trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện. Luận án chỉ ra giới hạn của các công trình trước là thiếu sự so sánh đối chiếu đa diện, từ đó xác lập tính cần thiết của đề tài.
Chương 2: Bối cảnh xã hội – văn hoá cho sự xuất hiện hình tượng người phụ nữ mới trong các sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc
Chương 2 làm rõ cội nguồn lịch sử và văn hóa dẫn tới sự biến đổi địa vị của người phụ nữ qua hai giai đoạn:
- Quan niệm truyền thống về người phụ nữ thời phong kiến:
- Tại Việt Nam: Dưới ảnh hưởng của Tống nho từ thế kỷ XV, đặc biệt là 24 điều giáo huấn triều Lê năm 1470 và chính sách biểu dương "tiết hạnh khả phong" của triều Nguyễn, người phụ nữ bị trói buộc nghiêm ngặt trong tam tòng, tứ đức và chế độ gia trưởng phụ quyền. Các công trình như Đại Nam nhất thống chí hay Đại Nam chính nghĩa liệt nữ truyện đã điển chế hóa đạo đức phụ nữ gắn liền với sự hy sinh cực đoan vì danh tiết.
- Tại Hàn Quốc: Dưới thời đại Joseon (1392–1910), Nho giáo độc tôn áp đặt các chuẩn mực khắc nghiệt. Tác phẩm Liệt nữ Hàm Dương của nhà nho Park Ji Weon phản ánh bi kịch của người phụ nữ góa phải tung đồng xu mỗi đêm để kiềm chế ái dục nhằm giữ thanh danh cho con cái thi cử. Các tác phẩm dân ca Arirang, khúc ca Đoạn trường từ, Tương tư biệt khúc, Khuê oán ca của Hứa Lan Tuyết Hiên cùng các quan sát của Percival Lowell (1885) và Isabella Bird Bishop (1898) đều chỉ ra rằng phụ nữ Hàn Quốc thời phong kiến chịu địa vị vô cùng thấp kém, tỷ lệ phụ nữ biết đọc chữ ước tính chỉ khoảng 2/1000 người.
- Quá trình hiện đại hóa và sự hình thành quan niệm mới: Dưới sự tác động của phương Tây và chính sách khai thác thuộc địa, cơ cấu xã hội của cả hai nước chuyển mình mạnh mẽ:
| Tiêu chí | Bối cảnh xã hội Việt Nam | Bối cảnh xã hội Hàn Quốc |
|---|---|---|
| Kênh tiếp nhận phương Tây | Tiếp nhận trực tiếp qua thực dân Pháp | Tiếp nhận gián tiếp qua Nhật Bản (sau Duy tân Minh Trị) |
| Đô thị hóa và tầng lớp mới | Đô thị mới hình thành (Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn). Tỷ lệ dân đô thị tăng từ 2% (đầu thế kỷ XX) lên 10% (đầu thập niên 1930). Dân số 4 đô thị lớn năm 1928 đạt 545.000 người (tăng 60% sau 7 năm). Tầng lớp tiểu tư sản gồm 24.574 công chức bản xứ (năm 1930) và khoảng 130.000 tiểu thương. | Đô thị hóa gắn với các chính sách cải cách kinh tế, xã hội của chính quyền thuộc địa Nhật Bản. Hình thành tầng lớp trí thức du học sinh từ Nhật trở về và tầng lớp thị dân mới. |
| Chính sách giáo dục | Bãi bỏ thi hương (1915 ở Bắc Kỳ, 1918 ở Trung Kỳ), bãi bỏ thi hội, thi đình (1919). Ban hành Học chính tổng quy (1917). Trường tiểu học tăng từ 837 trường (52.000 học sinh năm 1914) lên 3.178 trường (187.000 học sinh năm 1924) và 6.412 trường (396.000 học sinh năm 1930). Giáo viên tiểu học và trung học năm 1929 đạt 12.000 người. Mở các trường nữ sinh: Nữ học Đồng Khánh (Hà Nội), Nữ học Đồng Khánh (Huế), Nữ học Sài Gòn. | Mở rộng hệ thống giáo dục kiểu mới, đặc biệt sau chính sách văn hóa (cultural rule / cultural policy) từ đầu thập niên 1920. Phụ nữ được tiếp cận giáo dục phổ thông và tri thức phương Tây ở quy mô lớn hơn thời phong kiến. |
| Báo chí và truyền thông | Xuất bản phát triển mạnh: năm 1930 có 20 công ty kinh doanh văn hóa vốn trên 10 triệu francs. Số đầu báo tăng từ 66 (1922) lên 194 (1930); ấn phẩm lưu chiểu tăng từ 193 lên 813. Báo chí phụ nữ bùng nổ: Nữ giới chung (1918), Phụ nữ tân văn (1929), Phụ nữ thời đàm (1930), Phụ nữ tân tiến (1932), Đàn bà mới (1934)... | Báo chí và tạp chí tiếng Hàn được cấp phép xuất bản rộng rãi trong nửa đầu thập niên 1920; các ấn phẩm văn hóa truyền bá mạnh mẽ các trào lưu tư tưởng mới. |
| Tư tưởng giải phóng | Tiếp thu tư tưởng Khai sáng Pháp (Montesquieu, Rousseau) qua tân thư của phong trào Duy tân và ảnh hưởng phong trào nữ quyền quốc tế (Hội đồng Phụ nữ quốc tế thành lập năm 1888 tại Washington). | Trí thức tiếp nhận tư tưởng hiện đại qua con đường văn hóa sau phong trào 1-3 năm 1919. Tuyên ngôn của Yi Kwang Su và Ch'oe Caeso (1930) khẳng định định hướng văn hóa theo phương Tây. |
Chương 3: Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc - Những tương đồng
Chương này đi sâu so sánh các điểm gặp gỡ giữa hai nền văn học:
- Người phụ nữ là nạn nhân của luân lý cũ và chế độ gia trưởng: Nhân vật nữ trong tác phẩm của cả hai nước đều bị tước đoạt quyền tự do yêu đương, bị ép buộc kết hôn theo toan tính gia đình và chịu sự ngược đãi tàn nhẫn từ người chồng cùng gia đình chồng. Điển hình như Loan (Đoạn tuyệt) bị gả bán cho Thân và chịu sự hà khắc của mẹ chồng; Nhung (Lạnh lùng) bị chôn vùi tuổi xuân sau cánh cổng gia đình phong kiến vì tấm biển tiết hạnh; các nhân vật trong Mẹ và con gái, Đêm giao thừa rơi vào đau khổ vì sự áp đặt phụ quyền.
- Vẻ đẹp của người phụ nữ mới: Cả hai nền văn học đều xây dựng hình tượng người phụ nữ kết hợp giữa vẻ đẹp đạo đức truyền thống (lòng hy sinh, sự nhân hậu, chịu thương chịu khó) với tinh thần tiến bộ của thời đại mới (ý thức khẳng định bản ngã, khát khao quyền sống, tình yêu tự do và quyền bình đẳng).
- Điểm tương đồng về nghệ thuật:
- Nghệ thuật miêu tả trực quan ngoại hình: Phá vỡ thi pháp ước lệ cổ điển, chuyển sang miêu tả cụ thể vẻ đẹp thể chất, đường nét thân thể thanh xuân gắn với trang phục hiện đại, phản ánh quan niệm thẩm mỹ trần thế chịu ảnh hưởng phương Tây.
- Nghệ thuật độc thoại nội tâm và phân tích tâm lý: Sử dụng bút pháp tâm lý học hiện đại để ghi nhận những biến đổi tinh vi, những xung đột giằng xé giữa bổn phận đạo đức và khát vọng bản năng tính dục (chịu ảnh hưởng từ phân tâm học của Freud và tiểu thuyết phương Tây).
Chương 4: Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc - Những khác biệt
Chương 4 chỉ ra những nét khu biệt mang tính đặc thù dân tộc:
- Bản chất bi kịch và áp bức: Ở tác phẩm của Tự Lực văn đoàn, bi kịch của người phụ nữ tập trung chủ yếu vào sự va đập với thiết chế đại gia đình phong kiến Nho giáo dưới góc độ văn hóa, đạo đức. Trong khi đó, văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc phản ánh bi kịch của người phụ nữ trong sự đan bện khốc liệt giữa áp bức phong kiến, sự áp bức dân tộc của chủ nghĩa quân phiệt thực dân Nhật và mâu thuẫn giai cấp nghèo đói cùng cực.
- Hệ thống xung đột và tư tưởng nghệ thuật:
- Văn học Tự Lực văn đoàn chú trọng xung đột thế hệ: cuộc đối đầu giữa thế hệ trẻ tiếp thu văn minh phương Tây (Loan, Dũng, Mai, Lộc) với thế hệ già đại diện cho lề thói cũ (bà Phán Lợi, bà Án). Xung đột được giải quyết chủ yếu bằng sự ly khai gia đình hoặc phản kháng thông qua lý lẽ tòa án.
- Văn học Hàn Quốc nhấn mạnh xung đột giới và xung đột giai cấp: người phụ nữ đối đầu trực tiếp với người đàn ông coi họ là công cụ tình dục hoặc đối đầu với sự bóc lột kinh tế. Giải quyết xung đột mang tính gay gắt hơn, đẩy nhân vật tới những hành động phản kháng quyết liệt hoặc rơi vào kết cục bi thảm, cái chết (như nhân vật Jung In trong Đêm giao thừa).
- Khác biệt về phương diện nghệ thuật:
- Nghệ thuật tạo dựng tình huống kịch tính và gây hấn: Tác phẩm Hàn Quốc thường đẩy tình huống tới mức độ bạo lực, xung đột hiện thực gay gắt và trần trụi hơn văn học lãng mạn Tự Lực văn đoàn.
- Điểm nhìn trần thuật: Tự Lực văn đoàn chủ yếu sử dụng ngôi kể thứ ba với thái độ đồng cảm, bênh vực của người trí thức tiểu tư sản; trong khi Yeom Sang Sub ở Đêm giao thừa táo bạo hóa thân trực tiếp vào điểm nhìn nhân vật nữ để tự trần thuật đời sống tính dục và tâm trạng bất an.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình học thuật đầu tiên tiến hành so sánh hệ thống và toàn diện giữa sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc về hình tượng người phụ nữ mới.
- Vận dụng thành công mô hình "nghiên cứu song song" của lý thuyết Văn học so sánh đối với hai nền văn học không có tiếp xúc trực tiếp, khẳng định tính quy luật của sự vận động văn học các nước thuộc địa khu vực Á Đông dưới tác động của làn sóng phương Tây hóa đầu thế kỷ XX.
- Cung cấp dẫn chứng thực nghiệm làm sáng tỏ các lý thuyết về diễn ngôn, nữ quyền luận và thi pháp học nhân vật trong bối cảnh văn học chuyển đổi từ trung đại sang hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Làm sáng tỏ chiều sâu căn tính, tâm lý và tập quán ứng xử của người phụ nữ Việt Nam và Hàn Quốc qua lăng kính văn học, giúp người đọc nhận thức rõ nguồn gốc lịch sử của các hành vi văn hóa đương đại.
- Cung cấp tư liệu khoa học thiết thực cho công tác ngoại giao nhân dân, hoạt động đăng ký hộ tịch, tư vấn hôn nhân và hòa giải pháp lý cho các gia đình đa văn hóa Việt – Hàn tại Đại sứ quán và các cơ quan hữu quan.
Kiến nghị và đề xuất
- Vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc biên soạn giáo trình giảng dạy chuyên đề Văn học so sánh và Văn học châu Á tại các trường đại học ở cả Việt Nam và Hàn Quốc.
- Đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa và ngoại giao hai nước tăng cường xuất bản các tài liệu giáo dục văn hóa ứng xử dựa trên nghiên cứu nhân học và văn học nhằm hỗ trợ công dân hòa nhập tốt hơn vào môi trường sống mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Luận án tự nhận định chưa thể bao quát toàn bộ sự phức tạp của thế giới nhân vật nữ trong cả hai nền văn học. Công trình chủ động giới hạn phạm vi khảo sát ở 3 tác phẩm của Tự Lực văn đoàn (Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Lạnh lùng) và 5 tác phẩm của văn học Hàn Quốc (Mẹ và con gái, Đêm giao thừa, Lễ tổ tiên trên núi, Chức nữ, Hoàng hôn đỏ rực). Luận án chưa thể đưa vào phân tích các dạng thức nhân vật nữ mang màu sắc hiện sinh của Tự Lực văn đoàn giai đoạn sau (Hiền, Tuyết, Hảo) cũng như kiểu nhân vật modon kol chạy theo thị hiếu tiêu dùng tại Hàn Quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng diện khảo sát sang toàn bộ hệ thống tác phẩm của Tự Lực văn đoàn và các cây bút nữ tiêu biểu khác của Hàn Quốc (Park Hwa Seong, Lim Ok In, Ji Ha Ryeon); đồng thời mở rộng phạm vi so sánh sang văn học các nước thuộc địa khác trong khu vực Á Đông như Trung Quốc, Ấn Độ hoặc các quốc gia Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Văn học so sánh, Lý luận văn học, Văn học Việt Nam và Hàn Quốc học.
- Các nhà nghiên cứu xã hội học, nghiên cứu giới (nữ quyền học) và lịch sử văn hóa Á Đông.
- Cán bộ ngoại giao, viên chức lãnh sự, chuyên viên phụ trách chính sách gia đình và phụ nữ đa văn hóa Việt – Hàn.
- Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Khung lý thuyết và các thao tác phân tích so sánh song song ở Chương 1.
- Bảng tổng hợp tư liệu lịch sử, đô thị hóa, giáo dục và hệ thống báo chí phụ nữ đầu thế kỷ XX ở Chương 2.
- Phương pháp phân tích thi pháp ngoại hình và tâm lý nhân vật dưới tác động của thẩm mỹ phương Tây ở Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nội hàm của khái niệm "người phụ nữ mới" như thế nào và khu biệt với những đối tượng nào?
Luận án xác định "người phụ nữ mới" là nhóm nhân vật nữ trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây, mang hai nét nghĩa chính: chống lại lễ giáo Nho giáo truyền thống và có ý thức về cái tôi cá nhân cùng quyền sống. Thuật ngữ này được khu biệt rõ với nhóm phụ nữ "cũ" mang nặng tư tưởng phong kiến; khu biệt với kiểu nhân vật có màu sắc hiện sinh của Tự Lực văn đoàn giai đoạn sau (như Hiền, Tuyết, Hảo); và khu biệt với khái niệm modon kol (phụ nữ phù phiếm, hưởng thụ) trong văn học Hàn Quốc.
2. Sự tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây ở Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX có điểm khác biệt căn bản nào?
Theo phân tích của luận án, ở Việt Nam, ảnh hưởng phương Tây được tiếp nhận một cách trực tiếp từ chính quyền thực dân Pháp thông qua mô hình trường học Pháp – Việt, hệ thống luật pháp và báo chí quốc ngữ. Ngược lại, ở Hàn Quốc, ảnh hưởng phương Tây chủ yếu diễn ra gián tiếp thông qua sự chiếm đóng của Nhật Bản – một quốc gia châu Á đã thực hiện phương Tây hóa thành công từ thời Minh Trị.
3. Động lực thực tế nào thúc đẩy tác giả người Hàn Quốc lựa chọn đề tài nghiên cứu này?
Tác giả Bang Jeong Yun là nghiên cứu sinh làm việc tại Đại sứ quán Hàn Quốc ở Việt Nam trong 6 năm, trực tiếp thụ lý các hồ sơ đăng ký kết hôn, ly hôn và hộ tịch của các gia đình đa văn hóa Việt – Hàn. Tác giả nhận thấy sự thiếu hụt hiểu biết sâu sắc về văn hóa và tâm hồn của phụ nữ hai dân tộc là nguyên nhân dẫn đến các xung đột gia đình, từ đó thôi thúc việc thực hiện một nghiên cứu so sánh văn học để làm cầu nối văn hóa thực chất.
4. Lịch sử nghiên cứu ghi nhận những ý kiến trái chiều nào về yếu tố tính dục trong tác phẩm "Lạnh lùng" và "Đêm giao thừa"?
Với Lạnh lùng, Trương Tửu từng phê phán tác phẩm là phóng đãng và khuyên phụ huynh cấm con gái đọc, trong khi Trương Chính, Nguyễn Hoành Khung và Phạm Thế Ngũ bênh vực thái độ quả cảm của Nhất Linh khi đòi quyền hạnh phúc cho phụ nữ góa và vận dụng bút pháp tâm lý học của Freud, Proust. Với Đêm giao thừa, Kim Jong Kyun xem nhân vật Jung In là phản diện buông thả, tha hóa; ngược lại Kim Yun Sik, Kim Woo Chang và Seo Jong Taek xem hành vi tính dục của Jung In là sự phản kháng và cái chết của cô là lời tố cáo chế độ gia trưởng suy đồi.
Kết luận
Luận án của Bang Jeong Yun là một công trình nghiên cứu thư mục và văn học so sánh có cấu trúc chặt chẽ, dựa trên việc khảo sát thực chứng hệ thống tác phẩm của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc. Thông qua việc phân tích bối cảnh lịch sử thuộc địa và tiến trình hiện đại hóa đầu thế kỷ XX, tác giả đã làm rõ các quy luật tiếp biến văn học phương Tây chung của khu vực Á Đông cũng như nét khác biệt mang tính bản sắc dân tộc trong cách giải quyết xung đột thế hệ và xung đột giới. Nghiên cứu không chỉ có giá trị học thuật đối với phân môn Văn học so sánh mà còn mang lại ý nghĩa thực tiễn thiết thực trong việc tăng cường hiểu biết văn hóa giữa hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc.