Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học "Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI" của nghiên cứu sinh Trần Thị Minh Tâm, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Văn Lân, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 01 21.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thơ ca là thể loại có lịch sử lâu đời và luôn giữ vai trò phản ánh đời sống tâm hồn con người. Bước vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, bối cảnh đất nước mở cửa hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho các trường phái, lý thuyết văn học thế giới du nhập vào Việt Nam. Bắt đầu từ năm bản lề 2000, sự xuất hiện của không gian văn học mạng với hệ thống website và blog đã làm thay đổi căn bản phương thức truyền bá cũng như tiếp cận tác phẩm, mở ra một môi trường giao lưu văn hóa và diễn đàn học thuật rộng rãi. Trong bối cảnh đó, thơ Việt Nam vận động với tính chất đa dạng và phức tạp: một mặt duy trì lối thơ trữ tình giàu nhạc tính theo quán tính thẩm mỹ truyền thống; mặt khác diễn ra các tìm tòi cách tân trên nhiều phương diện từ thể tài, ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng điệu, dẫn đến những cuộc tranh luận học thuật gay gắt.
Thơ đầu thế kỷ XXI là một đối tượng đang vận động và biến chuyển liên tục. Vì vậy, giới nghiên cứu phê bình chưa có nhiều công trình tổng kết toàn diện mà chủ yếu lồng ghép giai đoạn này vào các công trình nghiên cứu về thơ sau năm 1975 hoặc thơ sau thời kỳ Đổi mới 1986. Khoảng trống này đòi hỏi một khảo cứu chuyên sâu nhằm phác họa diện mạo, chỉ ra các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của giai đoạn thơ 15 năm đầu thế kỷ mới (tính từ năm 2000 đến năm 2015).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định hai mục đích nghiên cứu chính:
- Khảo sát và bao quát thực tiễn sáng tác để phác thảo diện mạo cùng các đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, qua đó bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu về thơ đương đại trong tiến trình văn học sử.
- Thiết lập cơ sở so sánh thơ giai đoạn này với các giai đoạn trước, đặc biệt là giai đoạn đổi mới thơ cuối thế kỷ XX, nhằm xác định thơ đầu thế kỷ XXI là vệt kéo dài hay đã tạo lập được những biến chuyển mang tính chất của một nền thơ mới.
Từ mục đích trên, tác giả đề ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát những nét chung của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI thông qua việc khảo sát lực lượng sáng tác, sự vận động của quan niệm nghệ thuật, tình hình đổi mới thơ và những khuynh hướng sáng tạo chính.
- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nội dung cũng như nghệ thuật biểu hiện của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
- Đưa ra những đánh giá khách quan về thành tựu và hạn chế của giai đoạn thơ này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Diện mạo và đặc điểm của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI nhìn từ hai bình diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 15 năm đầu thế kỷ XXI, giới hạn cụ thể từ năm 2000 đến năm 2015.
- Phạm vi ngữ liệu: Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong nước. Về tác phẩm, luận án khảo sát các tuyển tập thơ có chọn lọc như Thơ trên Sông Hương (tuyển chọn 2003-2013), Thơ mười năm đầu thế kỷ XXI, các tập thơ đạt giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, một số giải thưởng tư nhân (Lá Trầu, Bách Việt), cùng các hiện tượng thơ gây chú ý trên văn đàn. Luận án có mở rộng khảo sát một số tác phẩm giai đoạn trước để so sánh đối chiếu.
- Giới hạn loại trừ: Luận án không khảo sát diện rộng thơ hải ngoại (chỉ tham khảo các trào lưu có tác động đến sáng tác trong nước như thơ Tân hình thức) và chỉ giới hạn khảo sát ở mảng thơ dành cho người lớn, không nghiên cứu mảng thơ thiếu nhi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đi trước về thơ đầu thế kỷ XXI thành ba xu hướng chính:
Các hướng nghiên cứu trước
-
Các đánh giá chung về diện mạo và xu hướng phát triển:
- Đánh giá về diện mạo: Kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung ghi nhận nhiều ý kiến lo ngại như Hữu Thỉnh cho rằng "thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó", Nguyễn Trọng Tạo cảnh báo tình trạng vè hóa, cũ hóa, văn xuôi hóa thơ, Nguyễn Hoàng Đức nhận định thơ èo uột và rơi vào thời kỳ giáp hạt tư tưởng. Ngược lại, Đông Hà (dẫn theo Lê Minh Phong) nhận định văn chương Việt mang diện mạo đa màu sắc (văn chương giải trí, giãi bày, dưỡng già, phô diễn, nghề nghiệp). Inrasara nhận xét thơ đương đại liên tục chuyển động và phê bình chưa theo kịp sáng tác.
- Về phân loại khuynh hướng: Nguyễn Thanh Tâm (Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại) chia thành ba khuynh hướng: bảo tồn giá trị truyền thống, cách tân, và cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống; đồng thời gợi ý phân loại theo thể loại, phương pháp sáng tác, đối tượng tiếp nhận và hệ hình (tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại). Inrasara chia thành 5 trào lưu: thơ "cổ truyền", thơ tân hình thức (new formalism poetry), thơ nữ quyền luận, thơ thị giác (visual poetry) với nhánh thơ trình diễn (poetry performance), và thơ hậu hiện đại.
- Về trào lưu hậu hiện đại: Thu hút sự tranh luận trên báo mạng và báo in. Báo điện tử Tổ quốc có bài của Lã Nguyên, Lê Anh Hoài, Inrasara, Phùng Gia Thế; Tạp chí Hồng Lĩnh có bài của Hoàng Ngọc Hiến, Hà Quảng; Bản tin Lý luận phê bình văn học nghệ thuật (số 10/2009) có bài của Hồ Sĩ Vịnh. Luồng quan điểm phản đối gồm Nguyễn Hòa (cho rằng "hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ thể còm") và Đỗ Ngọc Yên (xem thơ cách tân là mớ hỗn độn như "món óc sống"). Luồng quan điểm ủng hộ tiêu biểu là Inrasara (kỳ vọng thơ hậu hiện đại giải lãnh thổ hóa, giải quốc gia hóa, giải địa phương hóa văn học). Luồng quan điểm dung hòa như Nguyễn Thanh Tâm (Bắt mạch thơ hiện nay) ghi nhận những cách tân có giá trị nhưng phê phán các biểu hiện cực đoan, tục tĩu, vô nghĩa lý.
- Về lực lượng thơ trẻ: Lưu Khánh Thơ (Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại) ghi nhận không khí dân chủ, việc khai thác tâm trạng cá nhân; Yến Nhi (Mỹ cảm nghệ thuật mới trong thơ trẻ) khẳng định nỗ lực đưa thơ đến gần đời sống đời thường.
-
Các nhận định về đặc điểm nội dung và nghệ thuật:
- Nguyễn Đăng Điệp (Thơ Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn toàn cảnh) chỉ ra các khuynh hướng đề tài (chiến tranh bi tráng, cái tôi đời thường, vùng mờ tâm linh siêu thực, hiện đại và hậu hiện đại) và sự biến đổi nghệ thuật (thơ tự do, thơ văn xuôi, trường ca, ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thân thể).
- Đặng Thu Thủy (Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỷ 80 đến nay những đổi mới cơ bản) nhấn mạnh sự nhận thức lại giới hạn thơ ca, góc nhìn phi sử thi, cái tôi trần thế và kết cấu mở.
- Lê Thành Nghị (Thơ và công chúng thơ hôm nay) chỉ ra ba hướng: trò chơi ngôn ngữ, chuyển từ điệu ngâm sang điệu nói, và đưa lời nói thường vào thơ.
- Nguyễn Vũ Tiềm (Thơ cách tân và thi pháp nghệ thuật mới) phân loại 4 dòng chảy (hiện thực đa chiều và huyền ảo; phản biện, dự báo và thức tỉnh; chia sẻ nỗi đời và nỗi đau; folklore - humor và ngoại biên) cùng 10 đặc điểm hình thức của thơ cách tân.
- Các tác giả khác như Hà Quảng (mở rộng biên độ cảm xúc, hình tượng tổng thể, cú pháp phóng khoáng), Lê Hồ Quang (cái tôi ý thức về nghề nghiệp sáng tạo, bản năng, vô thức), Đoàn Ánh Dương (thơ trẻ xác lập căn cước cá thể; nhịp điệu thơ là sự hòa giải giữa thơ cổ và thơ lãng mạn), Yến Nhi (thơ hướng nội, vẻ đẹp Cái Tôi nhân bản), Nguyễn Thanh Tâm (luận án về sự thâm nhập của chất văn xuôi), Nguyễn Chí Hoan (tính chất truyện kể), Trần Ngọc Hiếu (vận dụng lý thuyết trò chơi carnival, đồng dao; nghiên cứu sự nổi loạn của ngôn từ), Trần Quang Đạo (cấu trúc câu thơ theo trật tự giấc mơ), Trần Thiện Khanh (nhịp điệu ngữ cảnh và nhịp của chủ thể).
-
Các nghiên cứu về tác giả, tác phẩm tiêu biểu:
- Nguyễn Quang Thiều: Các công trình của Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Quyên, Mai Văn Phấn, Chu Văn Sơn (khuynh hướng sử thi tôn giáo), Hồ Thế Hà (cổ mẫu Làng Chùa, đất đai, nấm mộ), Đào Duy Hiệp (chủ âm bóng tối trong trường ca Châu thổ), Nguyễn Thị Loan (miền tâm linh trong Châu thổ), Nguyễn Thị Minh Tâm (không gian văn hóa nguồn cội).
- Mai Văn Phấn: Nhận định của Văn Giá, Nguyễn Việt Chiến, Đỗ Quyên, Trần Thiện Khanh, Văn Chinh, Nguyễn Hoàng Đức, Hồ Thế Hà (thơ tạo sinh nghĩa), Nhã Thuyên (khí quyển thơ - sinh thái), Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm (chuyên luận dưới góc độ nhân học và văn hóa học). Các bài viết về các tập thơ Hôm sau, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che, thả của Dương Kiều Minh, Nguyễn Thanh Tâm, Vũ Thị Thảo, Lê Vũ, Đào Duy Hiệp, Đỗ Hoàng, Liêu Thái.
- Dương Kiều Minh: Tọa đàm năm 2012 với các tham luận của Bích Thu, Bình Nguyên Trang, Đặng Thân, Khánh Phương, Lê Thị Bích Hồng, Mai Văn Phấn, Ngô Kim Đỉnh, Nguyễn Phan Quế Mai, Nguyễn Việt Chiến, Ngô Xuân Diện, Trần Anh Thái, Văn Chinh, Đoàn Ánh Dương, Vi Thùy Linh, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Sỹ Đại, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Linh Khiếu, Bằng Việt, Chu Văn Sơn, Đỗ Ngọc Yên.
- Trương Đăng Dung: Các đánh giá về tập Những kỷ niệm tưởng tượng của Nguyễn Trọng Đức, Phan Tuấn Anh, Nguyễn Đăng Điệp, Hoàng Đăng Khoa, Giáng Vân, Nguyễn Thanh Tuấn.
- Inrasara: Hoàng Quảng Uyên, Phan Hoàng, Mai Văn Phấn, Trần Xuân An, Vũ Nho phân tích dấu ấn văn hóa Chăm, giải thưởng ASEAN 2005 cho tập Lễ tẩy trần tháng Tư.
- Phan Hoàng: Các nghiên cứu của Trần Hoài Anh, Đặng Huy Giang, Trần Nhã Thụy, Hoàng Thụy Anh, Phạm Ngọc Hiền, Cao Hồng, Nguyễn Chí Hoan, Nguyễn Vũ Tiềm về tập Chất vấn thói quen (2012) và trường ca Bước gió truyền kỳ (2016).
- Các gương mặt thơ trẻ: Vi Thùy Linh (bài viết của Nguyễn Thụy Kha, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Tâm, Ngô Văn Giá, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Trần Thiện Khanh, Trần Mạnh Hảo), Phan Huyền Thư (Nằm nghiêng qua bài của Văn Cầm Hải, Đào Duy Hiệp, Lý Đợi, Nguyễn Thụy Kha, Hà Tâm, Chu Thị Thơm), cùng các bài viết giới thiệu của Inrasara về Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy, Đoàn Minh Châu, Lam Hạnh, Tuệ Nguyên, Lưu Mêlan.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu đi trước phần lớn là các bài tiểu luận, tham luận hội thảo mang tính tản mạn hoặc đi sâu vào từng hiện tượng, tác giả đơn lẻ. Việc ghép chung thơ đầu thế kỷ XXI vào chặng đường thơ sau năm 1975 hoặc sau năm 1986 khiến cho các nét riêng của giai đoạn 2000-2015 chưa được chỉ rõ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng một khảo cứu chuyên sâu, bao quát toàn diện diện mạo và đặc điểm thi ca trong khoảng 15 năm đầu thế kỷ XXI.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận đối tượng từ góc độ tiến trình văn học sử kết hợp với thi pháp học thể loại. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng lý thuyết hệ thống cấu trúc, coi mỗi tác phẩm, mỗi giai đoạn văn học là một tiểu hệ thống cấu trúc thẩm mỹ có những logic sáng tạo riêng, qua đó xem xét mối quan hệ giữa hệ thống đề tài, chủ đề với hệ thống phương thức biểu đạt nghệ thuật. Khung nghiên cứu cũng tích hợp các quan niệm lý thuyết về hệ hình (tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại) và các hướng tiếp cận văn hóa học, nhân học văn hóa từng được giới nghiên cứu đương đại vận dụng khi bàn về thơ ca giai đoạn này.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp xã hội học: Đặt thơ ca đầu thế kỷ XXI vào bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và xu thế hội nhập toàn cầu để lý giải các yếu tố ngoại sinh tác động đến bản chất hiện tượng văn học và các khuynh hướng vận động của trào lưu thơ.
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại: Khảo sát các văn bản thơ cụ thể nhằm nhận diện các biến đổi về cấu trúc thể loại, hệ thống ngôn từ, cấu trúc hình ảnh và cách tổ chức giọng điệu trữ tình.
- Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu chỉnh thể hệ thống đề tài, chủ đề và hệ thống phương tiện biểu hiện nghệ thuật, xác định mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trong cấu trúc thẩm mỹ của thơ ca giai đoạn 2000-2015.
Các thao tác nghiên cứu bổ trợ bao gồm:
- Thao tác thống kê: Khảo sát các tuyển tập thơ và thống kê cơ cấu thế hệ tác giả đạt các giải thưởng văn học từ năm 2000 đến năm 2015 làm căn cứ thực tế.
- Thao tác so sánh: Đối chiếu đồng đại giữa các khuynh hướng thơ trong giai đoạn và so sánh lịch đại giữa thơ đầu thế kỷ XXI với thơ thời kỳ kháng chiến và thời kỳ đầu Đổi mới (sau 1986) để làm rõ tính kế thừa và nét biến đổi.
- Thao tác phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ các trào lưu, hiện tượng, tác phẩm cụ thể, từ đó quy nạp thành các nhận định khái quát về diện mạo và đặc điểm chung.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn bản các tuyển tập thơ: Thơ trên Sông Hương (tuyển chọn 2003-2013), Thơ mười năm đầu thế kỷ XXI.
- Các tập thơ của các tác giả đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, các giải thưởng tư nhân (Lá Trầu, Bách Việt) từ năm 2000 đến năm 2015.
- Các bài nghiên cứu, phê bình, tư liệu văn học đăng tải trên tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Sông Hương, báo Văn nghệ), báo điện tử (Tổ quốc), các trang web và blog văn học (tanhinhthuc.com, lyluanvanhoc.vn).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này dành để tổng hợp và đánh giá toàn diện tình hình nghiên cứu về thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI. Tác giả chỉ ra rằng đối tượng nghiên cứu đang trong quá trình chuyển động nên hầu như chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu quy mô lớn, mà chủ yếu tồn tại dưới dạng bài viết ngắn trên tạp chí chuyên ngành, báo chí và diễn đàn mạng. Tác giả phân tích ba nhóm ý kiến về diện mạo thơ (nhóm bi quan, nhóm ghi nhận sự vận động đa sắc, nhóm phân loại trào lưu), khảo sát các cuộc tranh luận về thơ hậu hiện đại, ghi nhận những đánh giá về lực lượng thơ trẻ, đồng thời tổng thuật các công trình nghiên cứu về đặc điểm nội dung, hình thức và các trường hợp tác giả tiêu biểu. Kết luận chương khẳng định sự cần thiết phải có một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm xác lập diện mạo riêng của thơ giai đoạn này trong tiến trình văn học sử.
Chương 2: Khái quát thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Chương 2 tập trung dựng lại bức tranh chung về lực lượng sáng tác, hoạt động thơ ca, sự vận động của quan niệm nghệ thuật và các khuynh hướng sáng tạo chính.
Vận dụng quan niệm của Chu Văn Sơn về cơ cấu ba lớp thế hệ (lớp trước, lớp giữa, lớp sau), luận án phân chia lực lượng sáng tác thành ba nhóm:
- Thế hệ nhà thơ trưởng thành từ thời kỳ chống Mỹ (thế hệ 3X, 4X, 2X như Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Lê Đạt, Bằng Việt, Trần Nhuận Minh...): duy trì đề tài hồi ức chiến tranh và chiêm nghiệm nhân sinh.
- Thế hệ nhà thơ trưởng thành sau năm 1975 (thế hệ 5X, 6X như Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Inrasara, Trương Đăng Dung, Phan Hoàng...): đóng vai trò lực lượng chủ đạo, đang ở độ chín về tài năng và trải nghiệm.
- Thế hệ nhà thơ trẻ (thế hệ 7X, 8X như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Phong Việt...): mang khát vọng khẳng định cái tôi cá thể, thử nghiệm các hình thức biểu đạt mới nhưng sáng tác phân tán thành nhiều hướng đi riêng rẽ.
Số liệu thống kê 65 tác giả có tác phẩm đạt giải thưởng, tặng thưởng văn học (Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, giải Lá Trầu, Bách Việt) từ năm 2000 đến năm 2015 được luận án tổng hợp như sau:
| Nhóm thế hệ tác giả |
Năm sinh tiêu biểu |
Số lượng tác giả đạt giải |
Tỷ lệ (%) |
| Thế hệ trưởng thành trong kháng chiến |
1940 - 1949 (thế hệ 4X trở về trước) |
25 |
38,5% |
| Thế hệ trưởng thành sau năm 1975 |
1950 - 1969 (thế hệ 5X, 6X) |
31 |
47,7% |
| Thế hệ nhà thơ trẻ |
1970 - 1989 (thế hệ 7X, 8X) |
9 |
13,8% |
| Tổng số |
|
65 |
100% |
Về hoạt động thơ, luận án khảo sát các hình thức sinh hoạt văn học: trại sáng tác, Ngày thơ Việt Nam (tổ chức từ năm 2003 vào rằm tháng Giêng âm lịch), Bàn tròn văn chương, và các giải thưởng tư nhân. Đặc biệt, luận án phân tích tác động của mạng Internet: tạo không gian sáng tạo không qua kiểm duyệt, là diễn đàn học thuật (lyluanvanhoc.vn, tapchisonghuong.vn), làm cầu nối đưa trào lưu thơ Tân hình thức từ hải ngoại du nhập vào trong nước qua trang tanhinhthuc.com, đồng thời là nơi xuất hiện các hiện tượng và nhóm sáng tác gây tranh luận như Mở Miệng, Ngựa Trời, thơ thị giác của Trần Nguyễn Anh.
Về quan niệm nghệ thuật và khuynh hướng sáng tạo, luận án xác định nhu cầu cách tân trở thành vấn đề cấp thiết, dẫn đến sự phân hóa thành ba khuynh hướng chính:
- Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống;
- Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống;
- Khuynh hướng cách tân thơ triệt để.
Chương 3: Những chuyển động của nội dung thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Chương này đi sâu phân tích 4 phương diện nội dung nổi bật:
- Cảm hứng dân tộc lịch sử: Chủ đề biển đảo quê hương trở thành điểm nhấn nổi bật nhất trong cảm hứng lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XXI, phản ánh ý thức trách nhiệm trước chủ quyền lãnh thổ. Bên cạnh đó, lịch sử và truyền thống dân tộc được soi chiếu từ cái nhìn phi sử thi, tăng cường tính chất suy tưởng, tự cảm hóa và triết lý nhân sinh.
- Dòng thơ thế sự chiếm vị trí chủ đạo: Thơ ca phản ánh trực tiếp hiện trạng đời sống xã hội trong thời đại kỹ trị, kinh tế thị trường và toàn cầu hóa với những lo âu về sự tha hóa con người; hướng về các giá trị cội nguồn văn hóa như một giải pháp bảo vệ nhân tính; đồng thời nâng niu niềm tin và hy vọng vào tương lai.
- Tình yêu và khát khao nhục cảm: Thơ tình yêu tiếp tục được khai thác như một chủ đề vĩnh cửu nhưng gắn liền với cảm xúc trần thế, cụ thể; sự xuất hiện công khai của khát khao nhục cảm, việc khẳng định tính dục và bản năng tự nhiên như một quyền năng cá nhân, giải tỏa những ẩn ức thân thể.
- Cái tôi bản thể: Cái tôi trữ tình hướng nội sâu sắc, khám phá những vùng mờ tâm linh, vô thức, tiềm thức và thế giới giấc mơ, tiếp thu các yếu tố của chủ nghĩa siêu thực để thể hiện sự bất an và những trăn trở hiện sinh của con người trước thực tại.
Chương 4: Đa dạng hóa nghệ thuật biểu hiện
Chương 4 khảo sát các tìm tòi, biến đổi trên 4 bình diện thi pháp:
- Mở rộng đường biên thể loại: Nỗ lực cách tân các thể thơ truyền thống (đặc biệt là thể thơ lục bát); sự tự do hóa hình thức thơ với sự gia tăng của thơ tự do, thơ văn xuôi, trường ca cấu trúc mở; sự xuất hiện của các hình thức thể nghiệm như thơ ba câu (học tập Haiku), thơ thị giác, thơ trình diễn.
- Hệ thống ngôn ngữ: Tồn tại song song giữa xu hướng sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hàm súc với xu hướng gia tăng ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, ngôn từ trần tục, bụi bặm; những thử nghiệm phá vỡ cấu trúc ngữ pháp truyền thống; thử nghiệm chất liệu biểu đạt ngoài ngôn ngữ (con số, ký hiệu, khoảng trống thị giác).
- Hệ thống hình ảnh: Sử dụng các hình ảnh đời thường, trần tục, phản ánh hiện thực đa chiều; kết hợp với các hình ảnh lạ hóa, huyễn tưởng mang màu sắc tượng trưng, siêu thực.
- Hướng tới đa giọng điệu: Giọng độc thoại – giãi bày giữ vị trí chủ đạo; bên cạnh sự đan xen của các giọng điệu khác như giễu nhại, hoài nghi, tranh biện, chiêm nghiệm triết lý, tạo nên cấu trúc phức điệu cho thi phẩm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới của luận án
Theo công bố của tác giả, luận án mang lại một số đóng góp cụ thể:
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu khái quát tổng thể giai đoạn thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI (2000-2015), dựng lại một cách hệ thống diện mạo và quá trình vận động của giai đoạn thơ này.
- Nhận diện và làm rõ các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật biểu hiện của thơ đầu thế kỷ XXI, chỉ ra những thành tựu của giai đoạn thơ mà trước đó chưa được đánh giá đầy đủ.
- Cung cấp nguồn tài liệu có tính chất tham khảo cho những người quan tâm, nghiên cứu sâu hơn về các tác giả và các trào lưu thơ đương đại.
Kiến nghị và giải pháp
- Luận án chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới tư duy phê bình văn học, yêu cầu giới phê bình không nên dừng lại ở chuẩn mực mỹ học cũ mà cần theo kịp sự chuyển động của sáng tác đương đại để làm tốt vai trò cầu nối với công chúng.
- Cần có cái nhìn khách quan, công bằng và cởi mở đối với các thể nghiệm nghệ thuật mới, tránh thái độ phủ nhận cực đoan hoặc tán dương một chiều.
- Khẳng định việc đánh giá một nền thơ đang trong quá trình lưu chuyển cần có thêm độ lùi thời gian để có những kết luận thỏa đáng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do thơ đầu thế kỷ XXI là một giai đoạn đang vận động và chưa định hình ổn định, nhiều đặc điểm chưa đạt tới trạng thái tĩnh nên các nhận định trong luận án mang tính chất phác thảo ban đầu, còn tiềm tàng những biến đổi cần thêm thời gian để kiểm chứng.
- Số lượng tác phẩm và đội ngũ sáng tác trong giai đoạn 2000-2015 quá đồ sộ, xuất bản qua nhiều kênh (sách in, báo chí, mạng internet), do đó việc lựa chọn tác giả, tác phẩm tiêu biểu để khảo sát chỉ mang tính chất tương đối, không thể bao quát toàn bộ.
- Luận án chủ động giới hạn phạm vi tư liệu ở mảng sáng tác dành cho người lớn, chưa khảo sát mảng văn học thiếu nhi.
- Chưa khảo sát diện rộng bộ phận thơ người Việt ở hải ngoại mà chỉ dừng lại ở việc tham khảo trào lưu Tân hình thức có ảnh hưởng đến thi đàn trong nước.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát chuyên sâu vào từng trào lưu, khuynh hướng cụ thể (như thơ Tân hình thức, thơ Hậu hiện đại, thơ Trình diễn) với quy mô tư liệu đầy đủ hơn.
- Tiến hành các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa thơ trong nước và thơ hải ngoại trong cùng khung thời gian đầu thế kỷ XXI.
- Khảo cứu mảng thơ thiếu nhi đầu thế kỷ XXI để hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về đời sống thi ca Việt Nam đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng và mục đích học thuật:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Sư phạm Ngữ văn có thể sử dụng luận án như một tài liệu nghiên cứu chuyên đề về tiến trình thơ ca hiện đại.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng khung phân loại và hệ thống dẫn chứng của luận án để biên soạn giáo trình, bài giảng về văn học Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 và đầu thế kỷ XXI.
- Các nhà nghiên cứu văn học sử: Tham khảo bức tranh toàn cảnh về lực lượng sáng tác (đặc biệt là bảng số liệu thống kê cơ cấu thế hệ đạt giải thưởng từ năm 2000 đến năm 2015) và các chuyển dịch thi pháp thể loại để làm việc với các giai đoạn văn học tiếp nối.
Các phần có giá trị tham khảo học thuật cao trong luận án bao gồm: phần tổng quan tài liệu (Chương 1) bao quát hầu hết các cuộc tranh luận về thơ đương đại; chương phân tích lực lượng sáng tác và tác động của môi trường Internet (Chương 2); cùng hệ thống miêu tả thi pháp đa dạng hóa ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia lực lượng sáng tác thơ giai đoạn 2000-2015 thành những nhóm thế hệ nào và nhóm nào chiếm tỷ lệ giải thưởng cao nhất?
Dựa trên quan niệm của Chu Văn Sơn về ba lớp thế hệ văn học, luận án phân chia lực lượng sáng tác thành ba nhóm:
- Thế hệ nhà thơ trưởng thành từ thời kỳ chống Mỹ (thế hệ 4X trở về trước);
- Thế hệ nhà thơ trưởng thành sau năm 1975 (thế hệ 5X, 6X);
- Thế hệ nhà thơ trẻ (thế hệ 7X, 8X).
Qua thống kê 65 tác giả đạt các giải thưởng văn học uy tín từ năm 2000 đến năm 2015, thế hệ 5X, 6X chiếm tỷ lệ cao nhất với 31 tác giả (đạt 47,7%), khẳng định đây là lực lượng sáng tác chủ đạo của thi đàn đầu thế kỷ XXI.
2. Tác động của Internet đối với đời sống thơ ca đầu thế kỷ XXI được luận án ghi nhận trên những phương diện nào?
Luận án chỉ ra ba tác động căn bản của mạng Internet:
- Mở ra không gian sáng tạo và công bố tác phẩm tự do, không bị ràng buộc bởi sự kiểm duyệt truyền thống;
- Đóng vai trò diễn đàn trao đổi học thuật, cập nhật các lý thuyết văn học mới qua các trang web như lyluanvanhoc.vn, tapchisonghuong.vn;
- Làm cầu nối đưa các trào lưu thơ từ nước ngoài và hải ngoại thâm nhập vào trong nước (tiêu biểu là trào lưu Tân hình thức qua trang tanhinhthuc.com), đồng thời là nơi xuất hiện các nhóm thể nghiệm gây tranh luận như Mở Miệng, Ngựa Trời.
3. Ba khuynh hướng sáng tạo tiêu biểu của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI được luận án xác định là gì?
Căn cứ vào sự vận động của quan niệm nghệ thuật, luận án xác định ba khuynh hướng sáng tạo chính:
- Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống;
- Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống;
- Khuynh hướng cách tân thơ triệt để.
4. Vì sao luận án không khảo sát toàn diện thơ hải ngoại và thơ thiếu nhi?
Văn bản luận án nêu rõ lý do giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Thơ hải ngoại là một mảng sáng tác rộng lớn, luận án chỉ giới hạn ở việc khảo sát sáng tác trong nước và tham khảo trào lưu Tân hình thức do có ảnh hưởng trực tiếp đến thi đàn nội địa;
- Thơ thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong diện mạo văn học dân tộc nhưng có đặc thù đối tượng riêng, nên tác giả chủ động giới hạn tư liệu ở mảng sáng tác dành cho người lớn nhằm đảm bảo tính tập trung của đề tài.
5. Chủ đề nào được luận án đánh giá là nổi bật nhất trong cảm hứng lịch sử dân tộc của thơ đầu thế kỷ XXI?
Trong Chương 3, luận án xác định chủ đề biển đảo quê hương là nội dung nổi bật nhất thuộc cảm hứng lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XXI, phản ánh trực tiếp ý thức công dân và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biên cương, biển đảo của các nhà thơ trước những biến động thời cuộc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI" của tác giả Trần Thị Minh Tâm là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát diện mạo thi ca Việt Nam trong khung thời gian 2000-2015. Bằng việc kết hợp phương pháp xã hội học văn học, thi pháp học thể loại và phương pháp hệ thống, công trình đã phân tích cơ cấu thế hệ sáng tác, tác động của môi trường mạng Internet, cùng các biến chuyển căn bản về nội dung và nghệ thuật biểu hiện. Kết quả khảo sát cung cấp một bức tranh tư liệu xác thực, góp phần định vị vị trí và những đóng góp của thơ đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học sử Việt Nam hiện đại.