Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn Văn học siêu hư cấu và cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam thời đầu Đổi mới do nghiên cứu sinh Phạm Ngọc Lan thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Lý luận văn học, mã số 62223201, năm 2015) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Hữu Tá.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo trình bày của tác giả trong phần Dẫn luận, thực trạng nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam đặt ra hai vấn đề cấp thiết:

  1. Sự thiếu cập nhật của hệ thống lý thuyết văn học trong nước: Trên diễn đàn quốc tế, các lý thuyết mới liên tục hình thành và phát triển, nhưng hoạt động lý luận ở Việt Nam chưa có sự cập nhật đầy đủ và có hệ thống.
  2. Sự bất cập trong việc ứng dụng các lý thuyết cũ: Việc thiếu hụt một nền tảng lý luận cập nhật dẫn đến tình trạng các nhà phê bình áp đặt ý kiến chủ quan lên tác giả và tác phẩm. Thực tế này bộc lộ rõ nét qua hiện tượng tiếp nhận các tác phẩm văn xuôi Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới, khi xuất hiện nhiều luồng phê bình mâu thuẫn, trái ngược nhau về ý kiến đánh giá, tiêu chí thẩm định và hệ khái niệm nền tảng.

Để giải quyết khoảng trống này, luận án thực hiện hai công việc song hành: giới thiệu có hệ thống lý thuyết siêu hư cấu (metafiction) từ phương Tây và ứng dụng hệ lý thuyết này để khảo sát, định vị hiện tượng văn xuôi có yếu tố siêu hư cấu trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu Đổi mới.

Mục tiêu và định hướng nghiên cứu

Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Giới thiệu có hệ thống về dạng thức tự sự siêu hư cấu trong kỷ nguyên hậu hiện đại: bản chất thẩm mỹ, thủ pháp nghệ thuật, cơ chế tự sự và mối quan hệ kế thừa với truyền thống tiểu thuyết tự ý thức.
  2. Phân tích các tiền đề văn hóa xã hội đặc thù thời kỳ đầu Đổi mới tác động đến sự hình thành bối cảnh hậu hiện đại sơ khởi ở Việt Nam, chứng minh tính chất nội sinh của cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi giai đoạn này.
  3. Vận dụng lý thuyết siêu hư cấu và siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction) để phân tích các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh và Nguyễn Việt Hà, làm rõ đặc trưng nghệ thuật và đóng góp của các tác giả này đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Về mặt lý thuyết: Khái niệm, bản chất, thủ pháp của siêu hư cấu trong nghệ thuật tự sự; mối quan hệ giữa siêu hư cấu với tinh thần tự ý thức hậu hiện đại; lý thuyết siêu hư cấu biên sử và tương đối luận lịch sử.
    • Về mặt thực tiễn: Bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu Đổi mới và các tác phẩm văn xuôi có yếu tố siêu hư cấu của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về lý thuyết: Khảo sát các tác phẩm tự sự siêu hư cấu tiêu biểu trên thế giới thuộc nhiều thời kỳ (Phục hưng, Cổ điển, Hiện đại, Hậu hiện đại) của Miguel de Cervantes, William Shakespeare, Laurence Sterne, Denis Diderot, Franz Kafka, Jorge Luis Borges, John Barth, William H. Gass, Milorad Pavić, Jostein Gaarder, J. M. Coetzee...
    • Về văn học Việt Nam: Giới hạn trong giai đoạn 15 năm đầu Đổi mới (1986–2000). Các văn bản khảo sát chính bao gồm:
      • Nhóm truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: Tướng về hưu, Cún, Chảy đi sông ơi, Không có vua, Con gái thuỷ thần, Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê, Mưa Nhã Nam, Những ngọn gió Hua Tát, Giọt máu, Mưa, Trương Chi, Không khóc ở California.
      • Nhóm truyện ngắn đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp: Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, Chút thoáng Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt.
      • Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (1991).
      • Tiểu thuyết Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà (1999).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lý thuyết siêu hư cấu, chủ nghĩa hậu hiện đại và sự tiếp nhận các khuynh hướng này tại Việt Nam qua các chặng đường chính:

Nhóm nghiên cứu Tác giả & Công trình tiêu biểu Nội dung chính và đóng góp
Giới thiệu lý thuyết siêu hư cấu Trịnh Thanh Thủy (bài viết Siêu tiểu thuyết của thời hậu hiện đại) Giới thiệu sơ lược thuật ngữ "siêu hư cấu/siêu tiểu thuyết", áp dụng khảo sát Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác đối sánh với Linh Sơn của Cao Hành Kiện.
Giai đoạn khởi đầu về hậu hiện đại tại Việt Nam (1989–1999) - Greg Lockhart (1989, Tạp chí Văn học số 4)
- Antonio Blach (1991)
- Luc Ferry (1995)
- John Verhaar (1997)
- Greg Lockhart lần đầu giới thiệu thuật ngữ "hậu hiện đại" trên báo chí Việt Nam qua bài Tại sao tôi dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp sang tiếng Anh.
- Các bài dịch giới thiệu khái lược trào lưu văn hóa nghệ thuật đương đại phương Tây.
Nghiên cứu và dịch thuật lý thuyết hậu hiện đại đầu thế kỷ XXI - Phương Lựu (2000, 2004, 2007, 2010a, 2010b)
- Nguyễn Văn Dân (2001)
- Diễm Cơ (2004)
- Đào Tuấn Ảnh (2005)
- Lê Huy Bắc (2012)
- Nhóm dịch giả/NXB: Trần Tiễn Cao Đăng (2006), Ngân Xuyên (2007), NXB Hội Nhà văn (2003)
- Thảo luận về khái niệm, nguồn gốc, thi pháp hậu hiện đại.
- Nguyễn Văn Dân cho rằng khái niệm hậu hiện đại chỉ phù hợp cho kiến trúc, hội họa, không nên dùng cho văn học.
- Các chuyên luận dịch: Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại, Hoàn cảnh hậu hiện đại, tuyển tập lý thuyết thế giới.
Ứng dụng hậu hiện đại nghiên cứu văn xuôi Việt Nam - Đông La (2006)
- Hội thảo Viện Văn học (11/2006)
- Hoàng Ngọc Hiến (2008)
- Lã Nguyên (2007)
- Cao Kim Lan (2007)
- Đào Tuấn Ảnh (2007)
- Phùng Gia Thế (2007)
- Hoàng Cẩm Giang – Lý Hoài Thu (2011)
- Lã Nguyên chỉ ra các dấu hiệu hậu hiện đại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài như một hình thức thế giới quan nội sinh.
- Cao Kim Lan phân tích tính bất khả tín và thi pháp hoài nghi lịch sử trong truyện Nguyễn Huy Thiệp.
- Hoàng Cẩm Giang – Lý Hoài Thu phân chia ba làn sóng cách tân tiểu thuyết sau 1986.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các công trình trước đó đã bước đầu đề cập đến một số dấu vết thi pháp hậu hiện đại, phần lớn vẫn dừng lại ở các bài viết ngắn hoặc chỉ khảo sát những biểu hiện hình thức rời rạc. Tác giả luận án định vị công trình của mình ở việc:

  • Khảo sát toàn diện khái niệm siêu hư cấu như một thuộc tính tự ý thức nội tại của thể loại tự sự, không đồng nhất siêu hư cấu thuần túy là một thể loại riêng biệt của thời hậu hiện đại.
  • Xây dựng mô hình văn hóa hậu hiện đại Việt Nam mang tính nội sinh thông qua sự giao thoa của ba tiền đề: hậu thuộc địa, hậu chiến và hậu bao cấp.
  • Vận dụng mô hình lý thuyết siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction) để phân tích hệ thống truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp như sự giải cấu trúc các đại tự sự quan phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lý thuyết và khái niệm sử dụng

  1. Lý thuyết hậu hiện đại và giải cấu trúc:
    • Khái niệm về "sự suy sụp của các đại tự sự" và hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean-François Lyotard.
    • Khái niệm "giải cấu trúc" (deconstruction), "cuộc chơi" (play), "dấu tích" (trace) trong diễn ngôn khoa học nhân văn của Jacques Derrida.
    • Phân tích của Michel Foucault trong Les mots et les choses (1966) về cấu trúc thị giác và sự bất an nhận thức luận trong kiệt tác hội họa Las Meninas của Diego Velázquez, dùng làm biểu tượng cho tính chất tự phản của siêu hư cấu.
  2. Lý thuyết siêu hư cấu và tự sự học:
    • Thuật ngữ "siêu hư cấu" (metafiction) do William H. Gass xác lập (1970) trong Philosophy and the Form of Fiction.
    • Các định nghĩa và khung phân tích của Robert Scholes (Elements of Literature), Patricia Waugh (Metafiction: The Theory and Practice of Self-Conscious Fiction), John Barth, Mark Currie, Linda Hutcheon.
    • Khái niệm "siêu ngôn ngữ" (metalanguage) của Louis Hjelmslev và quan niệm "lạ hóa" (defamiliarization) của Viktor Shklovsky.
    • Khái niệm "giễu nhại" (parody) và "lắp ghép" (pastiche) theo phân tích của Fredric Jameson (Postmodernism and Consumer Society).
  3. Lý thuyết siêu hư cấu biên sử (Historiographic Metafiction):
    • Tương đối luận lịch sử và lý thuyết về tính tự sự của lịch sử của Hayden White.
    • Khung lý thuyết của Linda Hutcheon về sự tương tác giữa hư cấu và tài liệu lịch sử, tính chất bất khả tín của các văn bản quá khứ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng để khái quát các hệ thống triết luận nền tảng của chủ nghĩa hậu hiện đại và tự sự học, đồng thời phân tích cấu trúc văn bản của các tác phẩm được lựa chọn.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: Đối chiếu các thủ pháp nghệ thuật giữa các tác giả thế giới và Việt Nam; so sánh các thể nghiệm nghệ thuật giữa Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh và Nguyễn Việt Hà nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về thi pháp.
  • Phương pháp văn hóa – lịch sử: Xem xét các hiện tượng văn học trong sự vận động của bối cảnh xã hội, xác định tác động của các biến chuyển văn hóa thời kỳ đầu Đổi mới đến cảm quan sáng tác của nhà văn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: SIÊU HƯ CẤU VÀ SỰ PHỤC HƯNG TRUYỀN THỐNG TIỂU THUYẾT TỰ Ý THỨC TRONG THỜI HẬU HIỆN ĐẠI

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về siêu hư cấu thông qua việc phân tích bản chất, lịch sử và các thủ pháp tự sự chính:

  • Bản chất của siêu hư cấu: Tác giả phân tích bức tranh Las Meninas (1656) của Diego Velázquez qua diễn giải của Michel Foucault để minh họa cho nguyên lý tự phản tỉnh. Bức tranh không chỉ mô tả cảnh vẽ mà chất vấn mối quan hệ giữa người vẽ, người mẫu và người xem tranh. Siêu hư cấu được xác định là loại hình tự sự lôi kéo sự chú ý một cách có ý thức vào tính chất tạo tác của chính nó, khảo sát mối quan hệ giữa thực tại và hư cấu.
  • Các thủ pháp chính của siêu hư cấu:
    1. Khảo sát ngôn ngữ tự trị và trò chơi văn bản: Ngôn ngữ không còn là công cụ phản ánh hiện thực một cách trong suốt. Các tác giả bộc lộ tính vật chất của văn bản qua cấu trúc hình học (Frame Tale của John Barth tạo thành dải Mobius vô tận), cấu trúc tra cứu (Từ điển Khazar của Milorad Pavić với 3 nguồn tôn giáo), hoặc chia màu giấy và sắp đặt thị giác (Willie Masters' Lonesome Wife của William H. Gass).
    2. Xáo trộn các cấp độ trần thuật và phá vỡ tính hoàn kết: Sử dụng thủ pháp truyện lồng truyện (mise en abyme), trực tiếp can thiệp vào truyện, đưa ra nhiều kết thúc (Slumdog Millionaire, Thế giới của Sophie của Jostein Gaarder).
    3. Tự phản lý thuyết, liên văn bản, giễu nhại và lắp ghép: Sử dụng giễu nhại (parody) để lật đổ quy chuẩn mòn cũ như trong truyện Tlön, Uqbar, Orbis Tertius của Jorge Luis Borges; sử dụng lắp ghép (pastiche) như một sự mô phỏng trung tính không quy chuẩn theo phân tích của Fredric Jameson (Pierre Menard, tác giả Don Quixote).
  • Siêu hư cấu với truyền thống tiểu thuyết: Luận án bác bỏ nhận định coi siêu hư cấu là thể loại bộc phát riêng biệt của thời hậu hiện đại. Tác giả khẳng định dòng tiểu thuyết tự ý thức mô phỏng chính nó đã tồn tại song song với dòng tiểu thuyết mô phỏng hiện thực từ thời Cervantes, Rabelais, Sterne, Diderot. Kỷ nguyên hậu hiện đại đánh dấu giai đoạn phục hưng và đẩy tính tự ý thức này lên mức độ cao nhất.

Chương 2: VĂN XUÔI SIÊU HƯ CẤU TRONG BỐI CẢNH VĂN HOÁ HẬU HIỆN ĐẠI SƠ KHỞI Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI

Chương 2 định vị hiện tượng văn xuôi siêu hư cấu Việt Nam trong mối liên hệ với các chuyển biến xã hội - tư tưởng giai đoạn 1986–2000:

  • Tính chất nội sinh của cảm quan hậu hiện đại: Tác giả lập luận rằng cảm quan hậu hiện đại ở Việt Nam không phải là sự sao chép kỹ thuật ngoại nhập mà hình thành do sự rạn nứt của các hệ quy chiếu nhận thức cũ trước thực tại mới nhiều biến động.
  • Ba thuộc tính văn hóa cấu thành bối cảnh chuyển tiếp:
    1. Tính chất hậu thuộc địa: Tạo tiền đề cho việc giải trung tâm hóa, đưa các tiếng nói ngoại biên vào diễn ngôn văn học và làm nảy sinh hình thức siêu hư cấu biên sử.
    2. Tính chất hậu chiến: Sự rạn nứt vai trò "người phát hiện và bảo vệ chân lý" duy nhất của nhà văn. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được phân tích như một cấu trúc tự sự phân mảnh, nơi nhân vật nhà văn trăn trở về chính hành vi viết và sự bất lực của việc tái hiện ký ức chiến tranh một cách tuyến tính, thuần nhất.
    3. Tính chất hậu bao cấp: Sự va đập của kinh tế thị trường làm thay đổi quan niệm về thực tại, thúc đẩy nhận thức về bản chất hư cấu của văn chương, thể hiện rõ qua cấu trúc đa điểm nhìn trong Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà và các truyện ngắn đời tư của Nguyễn Huy Thiệp.

Chương 3: SIÊU HƯ CẤU BIÊN SỬ: LỊCH SỬ NHƯ LÀ NHỮNG BỨC PHỐI HOẠ ĐA SẮC DIỆN

Chương 3 vận dụng lý thuyết siêu hư cấu biên sử để giải mã nhóm truyện ngắn đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp:

  • Khung lý thuyết siêu hư cấu biên sử: Dựa trên quan điểm của Hayden White và Linda Hutcheon, luận án chỉ ra rằng lịch sử được tiếp cận không phải như một thực thể khách quan bất biến mà là một diễn ngôn tự sự mang tính cấu trúc. Siêu hư cấu biên sử thực hiện thao tác giải cấu trúc và tái cấu trúc các văn bản lịch sử nhằm phơi bày tính tương đối của việc nhận thức quá khứ.
  • Các chiến lược nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp:
    • Lịch sử qua điểm nhìn ngoại biên và đôi mắt phương Tây: Phân tích truyện ngắn Vàng lửa với các mảnh ghi chép của nhân vật Phái. Tác giả phơi bày tính bất khả tín của các nguồn sử liệu chính thống, biến văn bản thành một cuộc đối thoại đa thanh về các nhân vật lịch sử như Gia Long hay Nguyễn Huệ.
    • Lịch sử qua những đôi mắt nữ tính: Phân tích các truyện Phẩm tiết, Chút thoáng Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ, Kiếm sắc, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt. Việc soi chiếu các biến cố lịch sử và nhân vật quyền lực qua cái nhìn của phụ nữ (Ngô Thị Vinh Hoa, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ) đóng vai trò giải thiêng các đại tự sự quan phương, đưa lịch sử trở về với những chiều kích đời thường, phức tạp và đa sắc diện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án giới thiệu một cách có hệ thống lý thuyết siêu hư cấu (metafiction) và siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction), bổ sung một khung tham chiếu lý thuyết cập nhật cho nghiên cứu văn học tại Việt Nam.
  2. Khẳng định siêu hư cấu không phải là một thể loại biệt lập sinh ra trong thời hậu hiện đại, mà là sự phục hưng của dòng tiểu thuyết tự ý thức vốn tồn tại từ khởi thủy của thể loại tự sự, qua đó làm rõ cơ chế tự phản của văn học trong mối quan hệ với thực tại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng một khung quy chiếu văn hóa đặc thù gồm ba yếu tố (hậu thuộc địa, hậu chiến, hậu bao cấp) để lý giải nguồn gốc nội sinh của cảm quan hậu hiện đại trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới, tránh việc áp đặt máy móc mô hình hậu hiện đại phương Tây.
  2. Đưa ra hướng tiếp cận mới đối với các sáng tác văn xuôi của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh và Nguyễn Việt Hà; lý giải một cách khách quan nguyên nhân dẫn đến những luồng ý kiến phê bình trái chiều xung quanh các hiện tượng văn học này trong giai đoạn chuyển giao của lịch sử văn học dân tộc.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề xuất mở rộng hướng nghiên cứu của đề tài để phát triển thành một chuyên luận lý luận văn học hoàn chỉnh về dòng văn học siêu hư cấu ở Việt Nam.
  • Kiến nghị tiếp tục khảo sát giai đoạn văn học đương đại đầu thế kỷ XXI, nơi các thể nghiệm siêu hư cấu và hậu hiện đại đạt đến độ chín muồi hơn ở các tác giả như Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Lê Anh Hoài, Đặng Thân, Đoàn Minh Phượng, Thuận...

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi thời gian: Do giới hạn của một công trình nghiên cứu cá nhân, luận án chỉ tập trung vào giai đoạn 15 năm đầu Đổi mới (1986–2000), giai đoạn hình thành và thể nghiệm ban đầu của các hình thức siêu hư cấu, chưa có điều kiện khảo sát toàn diện các thành tựu khi trào lưu này phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn sau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng đối tượng khảo sát sang các tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn xuất bản từ năm 2000 đến nay; đi sâu đối chiếu các hình thức siêu hư cấu đương đại của Việt Nam với các nền văn học trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tư liệu và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về lý thuyết tự sự học, lý thuyết hậu hiện đại, giải cấu luận và phương pháp phân tích văn bản tự sự tự phản.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh: Cung cấp khung thao tác luận mẫu mực trong việc vận dụng lý thuyết phương Tây vào khảo sát thực tiễn văn học Việt Nam một cách có điều chỉnh và phê phán.
  • Nhà phê bình văn học: Cung cấp các tiêu chí lý luận khách quan nhằm đánh giá lại các tác phẩm văn xuôi gây tranh cãi thời kỳ Đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "siêu hư cấu" (metafiction) xuất hiện lần đầu khi nào và được luận án định nghĩa ra sao?

Thuật ngữ "siêu hư cấu" lần đầu tiên được nhà văn kiêm nhà phê bình người Mỹ William H. Gass sử dụng vào năm 1970 trong tiểu luận Triết học và hình thức của tiểu thuyết hư cấu (Philosophy and the Form of Fiction). Trong luận án, siêu hư cấu được định nghĩa là những tác phẩm tự sự trình bày một cách có ý thức và nhất quán tính chất hư cấu quy ước của chính nó, biến quá trình sáng tác và bản chất của hư cấu thành đối tượng khảo sát, nhằm lật lại vấn đề về mối quan hệ giữa thực tại và văn bản nghệ thuật.

2. Luận án sử dụng kiệt tác hội họa nào để làm biểu tượng cho tính chất siêu hư cấu?

Luận án sử dụng bức tranh sơn dầu Las Meninas (Quần thần, 1656) của họa sĩ người Tây Ban Nha Diego Velázquez, thông qua sự phân tích của triết gia Michel Foucault trong cuốn Les mots et les choses (1966). Bức tranh thể hiện sự tự ý thức về hành vi vẽ, đảo lộn vai trò giữa người vẽ, người mẫu (vua Philip IV và hoàng hậu Marianna phản chiếu trong gương) và người xem tranh, qua đó đặt nghi vấn về tính biểu đạt thị giác tương tự như cơ chế tự phản của siêu hư cấu trong văn học.

3. Khung văn hóa hậu hiện đại Việt Nam đầu Đổi mới được luận án xác định dựa trên những yếu tố nào?

Luận án xác định bối cảnh văn hóa hậu hiện đại sơ khởi ở Việt Nam là một hiện tượng nội sinh bắt nguồn từ sự giao thoa của ba thuộc tính văn hóa:

  1. Tính chất hậu thuộc địa: Thúc đẩy tiếng nói từ ngoại biên và hình thức siêu hư cấu biên sử.
  2. Tính chất hậu chiến: Sự rạn nứt vai trò đại diện chân lý duy nhất của nhà văn trước ký ức chiến tranh đa chiều.
  3. Tính chất hậu bao cấp: Sự xuất hiện của kinh tế thị trường làm thay đổi nhận thức về thực tại và bộc lộ tính chất tạo tác của văn bản hư cấu.

4. Luận án phân tích truyện ngắn giả lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp qua lăng kính lý thuyết nào?

Luận án khảo sát truyện ngắn giả lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp qua lăng kính lý thuyết siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction) của Linda Hutcheon và lý thuyết tính tự sự của lịch sử của Hayden White. Các truyện ngắn như Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Chút thoáng Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ được xem là những văn bản giải cấu trúc các đại tự sự lịch sử quan phương, đưa ra những bức phối họa đa sắc diện từ góc nhìn cá nhân và điểm nhìn ngoại biên.


Kết luận

Luận án Văn học siêu hư cấu và cảm quan hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam thời đầu Đổi mới của tác giả Phạm Ngọc Lan đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về siêu hư cấu và siêu hư cấu biên sử, đồng thời chứng minh siêu hư cấu là sự phục hưng của truyền thống tiểu thuyết tự ý thức trong kỷ nguyên hậu hiện đại. Bằng việc xây dựng khung phân tích văn hóa ba chiều (hậu thuộc địa, hậu chiến, hậu bao cấp), luận án khẳng định tính chất nội sinh của cảm quan hậu hiện đại trong văn học Việt Nam giai đoạn 1986–2000 qua các sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh và Nguyễn Việt Hà. Công trình cung cấp một hệ thống tiêu chí khoa học xác đáng, góp phần giải quyết những bất cập trong thực tiễn phê bình và mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối cho văn học Việt Nam đương đại.