Mở đầu với Greg Lockhart rồi tạm bị gián cách một thời gian do những điều kiện không thuận lợi của tư liệu cũng như hoàn cảnh nghiên cứu, gần đây cách tiếp cận từ lý thuyết hậu hiện đại được tiếp nối với nhiều bài nghiên cứu cả ở cấp độ toàn cảnh lẫn ở cấp độ tác phẩm. Sau một số tranh luận gay gắt giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về bản chất của khái niệm hậu hiện đại về mặt lý thuyết và tương lai của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, đến năm 2006, giới nghiên cứu trong nước bắt đầu quan tâm đến hậu hiện đại như một hiện tượng văn học thực tiễn chứ không đơn thuần chỉ là một khái niệm lý thuyết ngoại lai. Trong bài Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng ở nước ta đăng trên Vietnamnet ngày 17/8/2006, Đông La nêu lên một số ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với văn học nghệ thuật 11 Việt Nam. Tuy cái nhìn có phần cực đoan và giọng điệu gay gắt, kết án, ít tính khoa học, nhưng điều đáng quan tâm là Đông La có ít nhiều thừa nhận khả năng và triển vọng tồn tại khách quan của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam.
Ông chỉ lên án cái mà ông cho là nhân danh “hậu hiện đại” nhưng thực chất chỉ là “quậy” một cách “thô bỉ”, “bẩn thỉu” và “lưu manh”: “Có điều sự chống đối đó không phải là phẩm chất cao quý để vượt qua chủ nghĩa hiện đại mà chỉ đơn giản là “quậy”, cái thái độ không cần đến nghệ sĩ mà những kẻ bất hảo vô học còn làm tốt hơn. Có quá nhiều sự thô bỉ, bẩn thỉu, nhầy nhụa và hằn học, thậm chí lưu manh, trong văn chương “hậu hiện đại” này. Trong văn chương có hỗn loạn, thô tục, bẩn thỉu, bởi cuộc sống có phần như thế, nhưng coi chúng là “đặc trưng”, là “thi pháp” thì đã phi lý, phi mỹ, phi luân và cuối cùng là phi nhân hóa những đặc tính của văn chương. Bởi đã là con người bình thường ai cũng biết phân biệt tốt với xấu, sạch sẽ với bẩn thỉu, lịch sự với thô tục… người ta chỉ để thùng rác chỗ khuất lấp chứ có ai lại trưng ra trong phòng khách, mà văn chương như phòng khách của tinh thần, không thể quăng bừa rác, uế tạp và thô bỉ lên đó được.
Đã có những nhà phê bình, những trang web mang danh ở xã hội hậu hiện đại văn minh đề cao loại văn chương đó, cố công độc đáo hóa cái lập dị, nghiêm túc hóa cái bông phèng, sâu sắc hóa cái vô nghĩa, cao siêu hóa cái tầm thường, và cuối cùng là nhân bản hóa cái phi nhân tính, bởi đã kỳ công đi phân tích mùi thơm của thối rữa, tô vẽ màu sắc cho rác rưởi; cả hai, cả sự sáng tạo và thẩm định, hoàn toàn có thể nói thực chất chỉ là sự xả rác trí tuệ mà thôi.” Nhưng cũng trong năm 2006, một hội thảo lớn do Viện Văn học tổ chức vào tháng 11/2006, Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá khu vực và quốc tế, đã mang đến cho giới nghiên cứu văn học không ít bài viết bàn về những đặc điểm khách quan của cảm thức hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, như các bài của Lã Nguyên, Đào Tuấn Ảnh, Cao Kim Lan… Chúng tôi sẽ bàn riêng về các bài viết này ở phần tiếp theo. 12 Đến năm 2008, tại hội thảo Lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XX, Hoàng Ngọc Hiến công bố bài viết Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại. Ông đề cập đến sự xâm nhập của văn hoá pop vào văn hoá hạng sang, thậm chí khẳng định tính hậu hiện đại theo nghĩa sự xâm thực của văn hoá đại chúng (pop culture) đã xuất hiện từ Trần Dần. Sau đây là một số bài viết đáng chú ý, có liên quan trực tiếp đến việc ứng dụng lý thuyết chủ nghĩa hậu hiện đại vào nghiên cứu văn xuôi Việt Nam những năm sau Đổi mới: - Một cách nhìn về “tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam” của Hoàng Cẩm Giang – Lý Hoài Thu (tạp chí Nghiên cứu văn học số 6/2011) Bài viết này đưa ra một quan sát thực tiễn về sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam về mặt cấu trúc thể loại, từ hình thức thể loại truyền thống trước 1986 đến ba xu hướng tiểu thuyết sau 1986 (duy trì hình thức thể loại truyền thống, vừa duy trì vừa cách tân, và cách tân mạnh hình thức tiểu thuyết).
Các tác giả cho rằng “từ quan niệm về thể loại, chủ thể thể loại đến khung hình thể loại, tất cả đều có những vận động, cách tân, những bước tiến nhất định hướng tới cái gọi là “hậu hiện đại” nói trên (mặc dù có thể là “vô ý thức”)”. Ngoài ra, bài viết cũng cho rằng quá trình “hậu hiện đại hoá thể loại” chỉ trở nên mạnh mẽ và toàn diện kể từ “làn sóng thứ ba” bao gồm các nhà văn đầu thế kỉ XXI (Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận…). Về cơ bản, chúng tôi tán đồng với nhận định của các tác giả, song chúng tôi muốn dành một phần trong luận án này để đi sâu vào quá trình chuyển tiếp nhọc nhằn trong một bối cảnh văn hoá loang lổ giữa mới và cũ, quá trình chuyển tiếp từ những hình thức thể loại tạm gọi là truyền thống đến những thể nghiệm hình thức hậu hiện đại mạnh mẽ quyết liệt như trên – đó là các nhà văn thuộc “làn sóng thứ hai” thời Đổi mới, theo cách gọi của các tác giả bài viết. - Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại của Cao Kim Lan (tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12/2007) 13 Thông qua phân tích các đặc điểm: Sự phá vỡ trật tự thời gian trong tâm thế chối bỏ “đại tự sự”, Phương thức đa kết phá vỡ kết cấu trung tâm của văn bản tác phẩm, Người kể chuyện không đáng tin vậy và việc giải mã các yếu tố nhục thể, Cao Kim Lan phát hiện trong truyện ngắn giả lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp có sự dịch chuyển sang hệ hình thi pháp hậu hiện đại (hiểu theo nghĩa tính chất hoài nghi và lật lại vấn đề tính khách quan lịch sử): “Không phải chúng ta nghi ngờ sự trung thực của những tư liệu được công bố mà là nghi ngờ cái “sự thực” được tái hiện trong mỗi tư liệu.
Nó không phải là chân lý mà cũng chưa chắc đã là một mặt, một khía cạnh nào đó của sự thực, bởi thực chất nó chỉ là suy nghĩ đầy chủ quan của một con người. […] Cảm giác bất khả tín buộc độc giả phải tiếp cận với văn bản một cách tỉnh táo bằng tri thức tích cực thay vì cảm xúc thụ động. Là một tiểu thuyết lịch sử, nó buộc chúng ta phải nghi ngờ: Lịch sử - đó là lịch sử của sự đa nghi hoang tưởng. Thực ra điều này dẫn chúng ta đến những suy đoán khốn khổ hơn: Nếu tất cả những biến cố lớn trong lịch sử chẳng qua chỉ là những màn phụ thực sự được tổ chức bởi những người điều khiển “gánh xiếc vô hình” vì những mục đích nào đó (đen tối hoặc không đen tối) thì sao? Thực ra câu trả lời luôn tiềm ẩn trong nhận thức của mỗi người và thủ pháp tạo sự “bất tín” của tiểu thuyết gia sẽ cho độc giả cơ hội đến gần hơn với “sự thật”, cái sự thật luôn tương đối từ khi có nhà sử học.
Tất cả những dấu vết của quá khứ: những hiện vật, những biểu tượng, văn tự, và cả những cái xác, những lăng mộ, cung điện, giai thoại, v. sẽ cho chúng ta nhìn quá khứ rõ hơn nhưng không bao giờ chính xác tuyệt đối.” Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường mà Cao Kim Lan đã mở ra bằng cách giới thiệu lại một cách sơ lược mô hình lý thuyết siêu hư cấu biên sử (historiographic metafiction) và soi chiếu lại một trường hợp cụ thể là Nguyễn Huy Thiệp, từ đó đánh giá tính chất bất khả tín của truyện ngắn giả lịch sử Nguyễn Huy Thiệp một cách sát sao và chi tiết hơn. 14 - “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài” của Lã Nguyên (tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12/2007) Lã Nguyên nêu ra phạm trù hậu hiện đại như một định tính thẩm mỹ cho một khuynh hướng văn học ở nước ta từ sau 1975. Sau khi phân tích những tiền đề lịch sử - văn hoá tác động trực tiếp đến tiến trình văn học Việt Nam sau 1975, ông xác định một số dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài.
Chủ yếu ông tập trung vào các hình thức thế giới quan: Câu chuyện về một thế giới vô nghĩa vô hồn; Cuộc chia tay với những vị ngữ bất biến của nguyên tắc dụ ngôn; Nguyên tắc đồng dao hay là thế ưu thắng của văn bản ngôn từ, sự bơ vơ của lời và vật, chữ và nghĩa. Ông phát hiện những “kịch tính” được tạo bởi thủ pháp “giễu nhại”, những hình thức nhại thể loại cổ tích, truyện lịch sử, huyền thoại, gia phả, thư tín, thơ ca trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Đáng lưu ý nhất ở bài viết này là Lã Nguyên cho rằng các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài đã vượt qua khái niệm hậu hiện đại như một kỹ thuật viết được học tập, vay mượn từ các tác giả Âu Mỹ để tiếp cận với hậu hiện đại như một hình thức thế giới quan đặc thù của thời đại mới. Ông khẳng định: “Vượt lên trên sự vay mượn, bắt chước các thao tác, thủ pháp kĩ thuật học được từ các nguồn văn học Âu - Mĩ, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài đã sáng tạo cho tác phẩm của mình một hình thức biểu hiện phản ánh loại hình tư duy nghệ thuật của thời đại mới.
Tôi gọi đó là hình thức thế giới quan, tức là hình thức thể hiện cảm quan của thời đại và quan niệm nghệ thuật của nghệ sĩ. Ta nhận ra nghệ thuật hậu hiện đại chủ yếu qua các kiểu kết cấu văn bản. Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài là thế giới phân mảnh, đứt gẫy mạch lạc, hình tượng được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hoá, văn bản ngôn từ nổi trên bình diện thứ nhất của văn bản văn học, “lời” và “nghĩa” xô đẩy, giễu nhại nhau đưa nghệ thuật ngôn từ đến với các hình thức ngoài thể loại.