mở đầu, giới thiệu một cách hệ thống các công trình nghiên cứu hậu thực dân trọng yếu trên thế giới và việc tiếp nhận cũng như ứng dụng lý thuyết hậu thực dân tại Việt Nam từ trước đến nay. Cùng với đó, chương này cũng khái quát những nghiên cứu về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí trong bối cảnh báo chí và văn học quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX, từ đó tạo cơ sở cho nghiên cứu, ứng dụng của chúng tôi ở các chương tiếp theo. Chƣơng 2: Lý thuyết hậu thực dân: nguồn gốc, tiến trình, đặc điểm (44 trang) Chương này cung cấp một cái nhìn toàn cảnh, hệ thống về lịch sử hình thành lý thuyết hậu thực dân, tiến trình phát triển, những nội dung nghiên cứu trọng tâm mà lý thuyết hậu thực dân quan tâm, các khái niệm then chốt trong nghiên cứu hậu thực dân. Ngoài ra, chương này cũng giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của Phạm Quỳnh, các thiết chế quyền lực mà Phạm Quỳnh dự phần vào, cùng những dự trình mà ông ấp ủ trong suốt quá trình điều hành Nam Phong tạp chí.
Qua đó, luận án chỉ ra tính khả dĩ trong việc ứng dụng lý thuyết hậu thực dân vào nghiên cứu văn học Việt Nam thời thuộc địa nói chung và trường hợp Phạm Quỳnh nói riêng. Chƣơng 3: “Lai ghép” và “nƣớc đôi” - từ nhãn quan cá nhân đến tinh thần gầy dựng nền văn hoá mới (35 trang) Trên cơ sở lý thuyết đã được trình bày, chương này khảo sát các văn bản cụ thể của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí từ đó chỉ ra một số đặc tính ở Phạm Quỳnh với tư cách là một trí thức chịu tác động trực tiếp từ quyền lực cai trị thực dân. Hai tính chất “lai ghép” và “nước đôi” được Phạm Quỳnh xem như “chiến lược” trong công cuộc gầy dựng một nền văn hóa mới cho dân tộc. Đây vừa là lựa chọn chủ động của chủ bút Nam Phong, đồng thời cũng là hệ quả tất yếu mà nhiều trí thức đương thời (trong đó có Phạm Quỳnh) dưới tác động của các thiết chế chính trị, quyền lực thực dân buộc phải lựa chọn.
Chƣơng 4: Phạm Quỳnh và sự hình thành lối tƣ duy, ứng xử với “cái khác” (31 trang) 8 Chương cuối của luận án tiếp tục mở rộng nghiên cứu các văn bản dịch thuật và trước tác của Phạm Quỳnh dưới ánh sáng lý thuyết hậu thực dân. Chương này tập trung giải quyết các nội dung chính sau: (1) Diễn ngôn của thực dân về “cái khác” và những ảnh hưởng của nó lên cấu trúc tâm lý người thuộc địa; (2) Là một trí thức chọn con đường hợp tác chặt chẽ với chính quyền thực dân, Phạm Quỳnh đã có lối ứng xử với “cái khác” như thế nào; (3) Việc tham gia vào quá trình dịch thuật ở Phạm Quỳnh có đơn thuần chỉ là việc tham gia vào công việc chuyển ngữ không hay nó còn bao hàm những dự trình khác về văn hóa cũng như chính trị. 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tập trung giới thiệu tất cả các công trình nghiên cứu quan trọng về lý thuyết hậu thực dân trên thế giới cùng những công trình dịch thuật, ứng dụng và giới thiệu lý thuyết hậu thực dân tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ tổng thuật những nghiên cứu về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí trong bối cảnh báo chí và văn học quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỳ XX; các ấn phẩm của Phạm Quỳnh được sưu tầm, giới thiệu từ trước đến nay; các công trình nghiên cứu về trường hợp Phạm Quỳnh.
Các công trình lý thuyết hậu thực dân trên thế giới và việc tiếp nhận, ứng dụng trong nghiên cứu văn học Việt Nam 1. Các công trình lý thuyết hậu thực dân trên thế giới Ra đời vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, lý thuyết hậu thực dân đã mở ra cho ngành khoa học xã hội một hướng tiếp cận mới, tiếp cận trong mối quan hệ liên ngành với lĩnh vực văn hoá chính trị. Những ý tưởng đầu tiên của phê bình hậu thực dân phát xuất từ công trình Black Skins, White Masks (Da đen, mặt nạ trắng, 1952) và The Wretched of the Earth (Sự khốn cùng của trái đất, 1961) của Frantz Fanon1, hai tác phẩm được xem là “tượng đài” trong việc chống chủ nghĩa áp bức thực dân. Bên cạnh phân tích những tác động của chủ nghĩa thực dân lên văn hóa và tâm lý người dân thuộc địa, Fanon cũng chỉ ra hình thức phản kháng đầu tiên của người thuộc địa trong việc tìm lại tiếng nói và căn tính cho dân tộc đó là “phục dựng lại quá khứ của chính họ”.
Một công trình quan trọng khác được xem là nền móng đưa đến sự hình thành lý thuyết hậu thực dân là Orientalism2 (Đông phương 1 Frantz Fanon (1925-1961) nhà tâm lý học, nhà lý luận chính trị đến từ Martinique, là người có nhiều ảnh hưởng đối với phong trào đấu tranh giành độc lập của Algeria thập niên 50, 60 của thế kỷ XX. Ông được biết đến với những công trình nghiên cứu về chính trị và văn hoá như “Sự khốn cùng của trái đất” (Les Damnés de la terre), hay “Da đen, mặt nạ trắng” (Black Skins, White Masks). Đây là những công trình mang tính gợi mở quan trọng cho các nhà nghiên cứu hậu thực dân sau này, xuất phát từ việc phân tích những tác động của chủ nghĩa thực dân lên văn hoá và tâm lý người dân thuộc địa. 2 Công trình Orientalism được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Đông phương học (Nxb Chính trị Quốc gia) năm 1998.
Đến năm 2014, công trình được in lại dưới nhan đề Đông phương luận (Nxb Tri 10 luận) của Edward Wadie Said, xuất bản năm 1978. Ở đây, Said đã “giải mã quan hệ quyền lực giữa phương Ðông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn”, đồng thời tạo ra một khái niệm mới phương Đông như một “cái Khác” (Other) so với phương Tây. Đến năm 1993, những ý tưởng từng được đề cập trong Đông phương luận tiếp tục được Said khai triển trong công trình Culture and Imperialism (Văn hóa và chủ nghĩa bá quyền). Cũng trong công trình này, Said bổ sung một số điểm ông cho rằng mình đã bỏ sót khi xem xét mối quan hệ giữa châu Âu và thế giới phi châu Âu, đặc biệt là các kiểu kháng cự, đáp trả sự thống trị của phương Tây.
Trong suốt ba thập kỷ qua, lý thuyết hậu thực dân tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu lý luận xây dựng và hoàn thiện. Công trình In Other Worlds (Trong những thế giới khác, 1987) của Gayatri Chakravorty Spivak được xem là đã góp phần đưa phê bình hậu thực dân đạt đến sự thịnh hành. Công trình tập trung phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ, phụ nữ và văn hóa trong bối cảnh phương Tây và phi phương Tây. Một công trình khác cũng góp phần làm nên tên tuổi của Spivak là The Postcolonial Critic: Interviews, Strategies, Dialogues (Phê bình hậu thực dân: Phỏng vấn, Chiến lược, Đối thoại) (Routledge xuất bản, 1990).
Tác phẩm tập hợp các bài phỏng vấn và đối thoại của Spivak về các vấn đề như “chủ nghĩa hậu thực dân” (Post-colonialism), vấn đề “tự đại diện” và “đại diện cho kẻ khác” (self- representation and representing others), “tính chính trị của chủ nghĩa đa văn hóa” (the politics of multi-culturalism), “chính trị hóa giải cấu trúc” (the politicization of deconstruction), cùng nhiều vấn đề khác. Bằng việc sử dụng hình thức phỏng vấn, Spivak đã mang đến những gợi mở quan trọng không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu hậu thực dân mà cả với lĩnh vực nghiên cứu nữ quyền và giải cấu trúc. Tuyển tập quan trọng tiếp theo là “Race”, Writing and Difference (Chủng tộc, lối viết, và sự khác biệt, 1986), Henry Louis Gates.Jr biên tập. Tuyển tập bao gồm các tiểu luận được in lại từ hai số chuyên đề của tạp chí Vấn đề phê bình (Critical Inquiry).
Ở đó, ý tưởng về “chủng tộc” được xem xét như một phạm trù có ý nghĩa Thức). Một năm sau đó, tác phẩm quan trọng khác của Said Culture and Imperialism cũng được chuyển dịch và giới thiệu tại Việt Nam: Văn hóa và chủ nghĩa bá quyền (Nxb Tri Thức, 2015). 11 trong nghiên cứu văn học, giúp định hình một hướng phê bình. Công trình cũng cho thấy sự đa dạng của cách tiếp cận phê bình mà thông qua đó người ta có thể thảo luận về sự phức tạp của “sự khác biệt” về chủng tộc dưới nhiều hình thức diễn ngôn khác nhau.
Hai công trình quan trọng khác cần kể đến là Nation and Narration (Dân tộc và tự sự, Routledge xuất bản, 1990), và The Location of Culture (Sự định vị của văn hoá, Routledge xuất bản, 1994) của Homi K. Với hai công trình này, Bhabha đã tạo ra tiếng nói đầy tranh cãi, đồng thời tên tuổi của ông cũng được nâng lên tầm lý thuyết gia hàng đầu. Những khái niệm như sự lai ghép (hybridity), tính nước đôi (ambivalence), sự đa dạng văn hoá và sự sai khác văn hoá (Cultural Diversity and Cultural Differences) trở thành những điểm tranh luận trong lý thuyết của Bhabha, đồng thời gợi mở nhiều mới mẻ cho giới nghiên cứu hậu thuộc địa. Công trình Key Concepts in Post-Colonial Studies (Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu hậu thực dân, London and New York xuất bản, 1998) của nhóm tác giả Bill Ashcroft, Gareth Griffiths và Helen Tiffin là công trình quan trọng tiếp theo cần kể đến.
Với bảng mục từ được trình bày theo thứ tự từ A-Z, công trình được xem như chìa khoá cho những ai muốn đi vào tìm hiểu lý thuyết hậu thực dân. Công trình cũng góp phần quan trọng trong việc giải đáp các vấn đề như cần phải hiểu hậu thực dân như thế nào, tại sao hậu thực dân lại quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hoá mới. Cũng trong năm 1998, Leela Gandhi cho xuất bản cuốn Postcolonial Theory: A Critical Introduction. Đây được xem như một bước ngoặt trong nghiên cứu hậu thực dân về mặt lý thuyết, ở đó nghiên cứu hậu thực dân được đặt trong cùng một môi cảnh với chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa Mác và nữ quyền luận.
Công trình cũng chỉ ra mối quan hệ giữa chủ nghĩa hậu thực dân với các nhà tư tưởng chống thực dân trước đó như Frantz Fanon, Albert Memmi. Những thuật ngữ then chốt trong nghiên cứu hậu thực dân như lai ghép, Đông phương học, lưu vong, chủ nghĩa dân tộc, toàn cầu hoá, nữ quyền hậu thuộc địa cũng được diễn giải cụ thể. Bên cạnh đó, Gandhi cũng đánh 12 giá cao vai trò của các nhà tư tưởng như Edward Said, Gayatri Spivak, Homi Bhabha và nhóm nghiên cứu “hạ đẳng” 3 trong nghiên cứu hậu thực dân.