Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 01 25) với đề tài "So sánh truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Chí Quế, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2019.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng truyện cổ tích thần kì là một tiểu loại tự sự dân gian chiếm ưu thế, mang tính loại hình và tính quốc tế sâu sắc. Khi đối chiếu với các bảng mục lục type và motif quốc tế (như hệ thống Aarne – Thompson), truyện cổ tích thần kì giữa các dân tộc bộc lộ nhiều điểm tương đồng về đề tài, cốt truyện, kết cấu và hệ thống motif. Việc so sánh văn học dân gian giữa các quốc gia giúp xác định các giá trị thẩm mĩ chung của nhân loại cũng như bản sắc riêng biệt của từng nền văn hóa. Ấn Độ là một trong những cái nôi văn minh lớn của nhân loại, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa Đông Nam Á và Việt Nam. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc nghiên cứu truyện cổ tích Ấn Độ còn rất hạn chế, và trong chuyên ngành văn học so sánh, hoàn toàn vắng bóng các công trình so sánh chuyên sâu và hệ thống giữa truyện cổ tích Việt Nam và Ấn Độ. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án xác định để tập trung giải quyết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là so sánh một số type truyện cổ tích thần kì của Việt Nam và Ấn Độ từ phương diện kết cấu và motif để tìm ra những nét tương đồng, khác biệt; chỉ ra những mối quan hệ ảnh hưởng do giao lưu, tiếp xúc văn hóa; nhận thức rõ hơn bản chất, đặc trưng loại hình của truyện cổ tích thần kì hai nước cũng như văn hóa của hai dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Sưu tầm, tập hợp, dịch thuật, hệ thống các văn bản truyện thuộc type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt của Việt Nam và Ấn Độ;
  2. Khảo sát, so sánh về kết cấu và những motif chính xây dựng nên cốt truyện và hình tượng nhân vật;
  3. Trên cơ sở khảo sát, so sánh, tìm ra những nét tương đồng và khác biệt, đồng thời lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tiểu loại truyện cổ tích thần kì của Việt Nam và Ấn Độ.

Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát so sánh 131 bản truyện cổ tích thần kì thuộc 16 type truyện tương đồng, trọng tâm là 2 nhóm type: type Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt.

  • Về phạm vi không gian: Khảo sát truyện kể dân gian của người Việt (Kinh) và nhiều dân tộc thiểu số tại Việt Nam (Mường, Thái, Tày, Nùng, H'mông, Hà Nhì, Ê-đê, Ba Na, Chăm, Cơ Ho, Lô Lô, Phù Lá...); cùng truyện kể của nhiều vùng miền, tộc người tại Ấn Độ (Santal, Kachari, Baiga, Bengal, Punjab, Ceylon, Salsette, Shan, Deccan, Telegus, Kashmir, Tây Tạng...).
  • Về phạm vi thời gian tư liệu: Bao gồm các văn bản truyện cổ tích đã được sưu tầm, ghi chép và xuất bản thành sách từ trước đến thời điểm nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả điểm lại bức tranh lịch sử nghiên cứu truyện cổ tích ở cả Việt Nam và Ấn Độ:

Tại Việt Nam, nguồn tư liệu truyện cổ tích được ghi chép sớm qua các thư tịch cổ thời trung đại như Giao chỉ ký, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả. Đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, các tuyển tập sưu tầm chữ quốc ngữ xuất hiện như Chuyện khôi hài (1882), Chuyện đời xưa (1886) của Trương Vĩnh Ký, Truyện cổ nước Nam (1932) của Nguyễn Văn Ngọc. Từ nửa sau thế kỷ XX trở đi, công tác sưu tầm, biên soạn phát triển mạnh mẽ với các công trình quy mô: Truyện cổ tích Việt Nam (1958) của Vũ Ngọc Phan; công trình 5 tập Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1958–1982, 1978, 1993, 2013) của Nguyễn Đổng Chi với 200 cốt truyện kèm hệ thống khảo dị; bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập VI năm 2004, tập VII năm 2005) do Nguyễn Thị Huế chủ biên; Truyện cổ tích Việt Nam (2006) do Nguyễn Cừ tuyển chọn; cùng hàng chục tập truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số và địa phương (như Truyện cổ Tây Nguyên, Truyện cổ H’mông, Truyện cổ Mường, Truyện cổ Tày – Nùng, Truyện dân gian Thái...).

Về mặt nghiên cứu lý thuyết và loại hình truyện cổ tích tại Việt Nam, luận án ghi nhận đóng góp của các tác giả:

  • Nguyễn Đổng Chi với phần khảo luận Những nhận định về truyện cổ tích (phân chia cổ tích thần kì, thế sự, lịch sử).
  • Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian (1973, tái bản 1990) đã xác định bản chất thể loại, ranh giới giữa thần thoại và cổ tích; Đinh Gia Khánh với chuyên khảo Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (1968) và Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á (1995) đặt nền móng cho hướng nghiên cứu so sánh loại hình truyện kể dân gian.
  • Chu Xuân Diên với chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học (1989) và bài viết Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian (1977).
  • Hoàng Tiến Tựu trong Văn học dân gian Việt Nam (1990) phân định cổ tích thần kì và cổ tích sinh hoạt dựa trên phương thức phản ánh hiện thực.
  • Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (1990) và các bài viết của Lê Chí Quế về phương pháp loại hình học trong văn học dân gian.
  • Đức Ninh trong Về một số vấn đề văn hóa dân gian (Folklore) Đông Nam Á (2008) chỉ rõ bản chất truyện cổ tích thần kì hình thành qua con đường sinh hoạt hóa thần thoại.
  • Các công trình ứng dụng lý thuyết type và motif: Nguyễn Tấn Đắc với việc giới thiệu bảng tra cứu Aarne – Thompson (1990, 2001); Trần Đức Ngôn với nghiên cứu cấu trúc hình thái học của V. Propp (1991); Nguyễn Thị Nguyệt (1998, 2010); La Thị Mai Gia với chuyên khảo Motif trong nghiên cứu truyện kể dân gian lý thuyết và ứng dụng (2015); công trình Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam (2012) do Nguyễn Thị Huế chủ biên.

Tại Ấn Độ, việc phân loại truyện kể dân gian gặp nhiều phức tạp do ranh giới mờ giữa thần thoại, truyền thuyết và cổ tích:

  • K. Upadhyaya trong Phân loại và đặc điểm chính của truyện kể dân gian Ấn Độ (2009) chia thành truyện tôn giáo, truyện giáo huấn (như Jataka), truyện tình yêu, truyện giải trí, truyền thuyết địa phương và huyền thoại.
  • A.K. Ramanujan phân loại theo bối cảnh nhân vật: truyện lấy người đàn ông làm trung tâm (Male-centered tales - tương đương truyện cổ tích thần kì), truyện lấy phụ nữ làm trung tâm, truyện động vật làm trung tâm (như Panchatantra, Jataka), truyện gia đình, truyện thần linh, truyện hài hước.
  • Shubha Tiwari (2013) phân tích bản chất phép thuật và yếu tố kì diệu trong truyện dân gian Ấn Độ; Silima Nanda (2014) khảo sát chân dung phụ nữ trong truyện cổ tích.
  • Đặc biệt là các công trình danh mục type quốc tế: Stith Thompson và Warren E. Roberts với The Types of Indic Oral Tales: India, Pakistan, and Ceylon (Những type truyện truyền miệng của tiểu lục địa Ấn Độ, 1960); Stith Thompson và Jonas Balys với The Oral Tales of India (1958); Stith Thompson với hệ thống Motif-Index of Folk-Literature và The Folktale (1977).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định: Mặc dù hệ thống lý thuyết loại hình học và bảng phân loại type, motif của Aarne – Thompson đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng ở Việt Nam chưa có công trình nào đối chiếu, so sánh một cách hệ thống giữa truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ trên phương diện kết cấu và motif nhằm giải mã sự tương đồng và khác biệt về mặt văn hóa tộc người.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích chính sau:

  • Khái niệm thể loại: Truyện cổ tích thần kì là sáng tác tự sự dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy tan rã và phát triển trong xã hội có giai cấp; lấy yếu tố hư cấu, kì ảo làm phương tiện nghệ thuật chủ yếu để phản ánh hiện thực đời sống, giải quyết xung đột xã hội và thể hiện quan điểm đạo đức, công lý của nhân dân.
  • Phương pháp luận loại hình học trong folklore (Typology): Tiếp cận tác phẩm tự sự dân gian thông qua việc phân rã và khảo sát các yếu tố cấu thành bền vững trong không gian và thời gian.
  • Khung phân tích Type và Motif theo hệ thống Aarne – Thompson (A-T):
    • Type (kiểu truyện): Cốt truyện hoàn chỉnh có thể tồn tại độc lập trong truyền thống truyền miệng, mang ý nghĩa riêng biệt và được cấu tạo bởi một hay nhiều motif kết hợp theo thứ tự tương đối ổn định.
    • Motif (mẫu đề): Thành tố nhỏ nhất của cốt truyện có khả năng tồn tại liên tục, lặp đi lặp lại trong truyền thống dân gian, có tính chất dị thường hoặc gây ấn tượng mạnh.
  • Khung phân tích kết cấu: Khảo sát diễn tiến cốt truyện theo 3 mô hình kết cấu cơ bản: kết cấu tuyến tính (kể theo trật tự thời gian diễn biến sự việc của nhân vật), kết cấu nhiều tầng bậc (chia thành nhiều chặng phiêu lưu, thử thách nối tiếp nhau), và kết cấu đồng quy (sắp xếp hai tuyến nhân vật tương phản hành động song song hoặc bắt chước nhau nhưng nhận kết quả đối lập).

Các phương pháp nghiên cứu thực tế được luận án vận dụng:

  1. Phương pháp so sánh loại hình: Phương pháp chủ đạo nhằm đối chiếu các type truyện tương đồng của hai nước về kết cấu và motif, qua đó tìm ra sự tương đồng mang tính quy luật loại hình cũng như sự khác biệt do đặc trưng văn hóa dân tộc.
  2. Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng bản kể, xác lập các bảng phân loại dị bản, phân loại các dạng thức motif xuất thân, thử thách, trợ giúp thần kì, ban thưởng và trừng phạt.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích nội dung cốt truyện, chức năng hành động của nhân vật, cấu trúc motif; từ đó khái quát hóa thành các quy luật thẩm mĩ và mô hình nghệ thuật.
  4. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học dân gian với văn hóa học, dân tộc học, lịch sử, xã hội học và tôn giáo học để giải mã nguồn gốc lịch sử - xã hội của các chi tiết, motif trong truyện kể.

Nguồn tư liệu khảo sát gồm 131 bản truyện cổ tích thần kì (96 bản truyện Việt Nam và 35 bản truyện Ấn Độ):

  • Tư liệu Việt Nam: Rút từ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập VI, VII), Truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Cừ), cùng các tập sách sưu tầm truyện kể dân gian các dân tộc Tày, Nùng, Thái, H'mông, Mường, Lô Lô, Hà Nhì, Ba Na, Chăm, các dân tộc Tây Nguyên...
  • Tư liệu Ấn Độ: Khảo sát từ các tập sách tiếng Anh như A Collection of Kachari Folktales and Rhymes, Santal Folk Tales, The Orient Pearls: Indian Folklore, The Baiga, The Pashai Language, Village Folk-Tales of Ceylon, Tales of the Punjab, Bengal Fairy Tales, Folk-Tales of Bengal, Folklore in Salsette, The Shans at Home, Folklore in Western India, Folklore of the Telegus, Deccan Nursery Tales, Tale of the Sun or Folklore of Southern India, Folk Tales from Tibet, Folk Tales from Himalayas, Folk Tales of Kashmir, Indian Fairy Tales. Trong 35 bản truyện Ấn Độ, có 5 bản đã có bản dịch tiếng Việt trước đó (Hoàng tử Serđin, Hãy chập vào, Các chàng trai dũng cảm làng Kônmen, Chàng Đhur Xing tốt bụng, Người em chột mắt), còn lại 30 bản truyện do tác giả luận án trực tiếp dịch mới từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về đề tài

Chương 1 xác lập cơ sở lý thuyết và diện mạo tổng thể của đề tài. Tác giả phân tích khái niệm, bản chất của truyện cổ tích và tiểu loại cổ tích thần kì; khẳng định truyện cổ tích thần kì mang tính chất kế thừa thần thoại (các lớp tàn dư thần thoại nằm dưới cốt truyện cổ tích như sự thụ thai thần kì, sức mạnh khổng lồ) nhưng tập trung phản ánh số phận cá nhân và xung đột xã hội trong thời kì có giai cấp.

Chương này trình bày lý luận về loại hình học văn học dân gian, phương pháp so sánh trong folklore và hệ thống phân loại type, motif của Aarne – Thompson, Stith Thompson, V. Propp, Alan Dundes. Qua đối chiếu Bảng phân loại và thư mục loại hình truyện dân gian (Stith Thompson), Những type truyện truyền miệng của tiểu lục địa Ấn Độ (Thompson – Roberts) và Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam (Nguyễn Thị Huế chủ biên), luận án xác định được sự tương đồng giữa hai nền truyện kể:

  • 5/34 type truyện cổ tích loài vật tương đồng;
  • 26/108 type truyện cổ tích thần kì tương đồng;
  • 20/75 type truyện cổ tích sinh hoạt tương đồng.

Bảng tổng hợp 26 type truyện cổ tích thần kì tương đồng giữa Việt Nam và Ấn Độ được chỉ ra:

STT Mã số & Tên type truyện Việt Nam Mã số & Tên type truyện Ấn Độ
1 215. Ai mua hành tôi 516B. Nàng công chúa bị bắt cóc
2 216. Ăn trộm bảo vật của yêu tinh 328. Cậu bé ăn trộm kho báu của người khổng lồ
3 218. Cây tre trăm đốt 571. Tất cả đều dính vào nhau
4 219. Chàng đốn củi và con tinh 563. Cái bàn, con la và cái gậy
5 223. Chàng trai khỏe và những người bạn có khả năng khác thường 301B. Người đàn ông khỏe mạnh và những người bạn đồng hành
6 226. Chum vàng và chum rắn 834A. Chum vàng và chum rắn
7 232. Cô gái và chiếc thoi dệt vải bị đánh rơi 480. Cô gái tốt bụng và cô gái xấu bụng
8 233. Con chim khách màu nhiệm 567. Trái tim chim màu nhiệm
9 238. Con hùm bị lừa bởi những vật dụng đưa ra trong cuộc đọ sức 1152. Con yêu tinh nể sợ những vật được trưng bày
10 240. Con quỷ trong cái lọ 331. Vị thần trong cái chai
11 243. Cuộc phiêu lưu của những người anh em trai 303. Anh em sinh đôi hay những người anh em trai
12 244. Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán 160. Những con vật biết ơn, con người không biết ơn
13 251. Đứa trẻ bị bỏ rơi và con hổ 535. Cậu bé là con nuôi của hổ
14 254. Hai cô gái và cục bướu 503. Món quà của người tí hon
15 257. Hợp sức giết con vật hung ác 210. Gà trống, gà mái, đinh ghim, cái kim trong chuyến hành trình
16 260. Lũ trẻ lừa yêu tinh và trốn thoát 327. Con yêu tinh và bọn trẻ
17 264. Tôm ngón tay cái 700. Cậu bé tí hon (Tom Thumb)
18 266. Nghề đặc biệt 653. Bốn anh em khéo léo
19 271. Người chồng bị hành hạ vì có người vợ đẹp 465. Người đàn ông bị hành hạ vì có vợ đẹp
20 273. Người chồng là người mang lốt động vật 425A. Người chồng là động vật
21 277. Người giết rắn cứu công chúa 300. Người giết rồng
22 289. Những điều bí mật của các con vật 613. Hai người lữ khách
23 292. Những người anh em thông thái 655. Những người anh em thông thái
24 315. Cô bé Lọ Lem 510A/B. Cô bé Lọ Lem / Cap o’ Rushes
25 317. Tấm lòng vàng được thưởng bằng vàng 750B. Lòng hiếu khách được ban thưởng
26 318. Thỏa thuận chia nông sản 1030. Chia lương thực

Trên cơ sở hệ thống 26 type tương đồng, luận án lựa chọn 2 nhóm type tiêu biểu đại diện cho hai giai đoạn phát triển lịch sử - xã hội khác nhau để tiến hành nghiên cứu so sánh chuyên sâu ở Chương 2 và Chương 3.

Chương 2. So sánh type truyện Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 2 tập trung khảo sát type truyện mang mã số Việt Nam 223 và mã số A-T/Thompson-Roberts 301B. Đây là kiểu truyện phản ánh dấu ấn thời kì chuyển tiếp từ thần thoại sang cổ tích, gắn với người anh hùng có sức mạnh khổng lồ chinh phục tự nhiên hoặc giải phóng cộng đồng.

Về kết cấu, luận án phân tích hai dạng mô hình kết cấu cơ bản trong các bản kể của hai nước:

  • Kết cấu theo tuyến tính: Diễn biến cốt truyện triển khai theo trật tự thời gian một chiều: nhân vật sinh ra khác thường $\rightarrow$ lớn nhanh, bộc lộ sức khỏe phi thường $\rightarrow$ gặp gỡ, thử tài và thu nhận những người bạn có biệt tài kì lạ $\rightarrow$ cùng nhau thực hiện nhiệm vụ, chiến đấu diệt trừ quái vật/thế lực thù địch $\rightarrow$ lập chiến công và nhận thưởng.
  • Kết cấu nhiều tầng bậc: Thường xuất hiện trong các bản truyện có dung lượng lớn, cốt truyện phân tách thành nhiều chặng phiêu lưu liên hoàn, vượt qua nhiều cấp độ thử thách (từ thử thách thể lực đến thử thách trí tuệ, đối phó với kẻ phản trắc, lạc xuống thế giới ngầm/thế giới thần linh rồi quay trở về).

Về hệ thống motif chính cấu thành cốt truyện và nhân vật:

  1. Nhóm motif tương đồng:
  • Motif sự xuất thân kì lạ / sinh nở thần kì (mã số T550): Người mẹ mang thai do ăn vật lạ, uống nước nguồn, ướm dấu chân, mang thai nhiều năm, hoặc nhân vật sinh ra từ tảng đá, ống tre, trứng thần.
  • Motif tài năng vượt trội - sức khỏe phi thường và motif những người bạn đồng hành khác thường (mã số F610): Nhân vật chính ăn nhiều, lớn nhanh như thổi, nhổ cây làm gậy, dời non lấp biển. Trên đường đi, nhân vật gặp gỡ các bạn đồng hành có dị tài (kẻ tát cạn biển, kẻ bắn tên xuyên núi, kẻ hắt hơi làm đổ nhà, kẻ tai thính nghe thấu đất trời...).
  • Motif chiến công và sự ban thưởng: Cả nhóm bạn phối hợp tài năng đánh bại yêu tinh, quái thú hoặc vua quỷ; phần thưởng đạt được là của cải, danh vọng, giải cứu công chúa và kết hôn.
  1. Nhóm motif đặc thù góp phần xây dựng nhân vật Chàng trai khỏe trong truyện Ấn Độ:
  • Motif tình yêu qua sợi tóc của nàng công chúa chưa biết mặt (mã số T11.2): Chàng trai nhặt được sợi tóc vàng óng trôi trên sông, đem lòng say đắm và quyết tâm lên đường tìm kiếm người đẹp vượt qua muôn ngàn hiểm nguy.
  • Motif linh hồn được cất giấu (mã số E710): Kẻ thù hung ác (khổng lồ Rakshasa hoặc pháp sư) không thể bị giết bằng vũ khí thông thường vì linh hồn giấu trong một con chim, con ong nằm trong hộp kín đặt ở nơi hiểm trở sâu dưới đáy biển hoặc ngọn núi xa. Nhân vật phải tìm ra và tiêu diệt vật chứa linh hồn mới hạ sát được kẻ thù.
  • Motif dấu hiệu sinh tử (mã số E761): Trước khi chia tay, nhân vật để lại vật làm dấu (thanh kiếm bị gỉ sét, cành cây héo úa, dòng nước đổi màu) để báo tin khi bản thân gặp hoạn nạn.

Chương này sử dụng hệ thống bảng biểu thống kê văn bản và dạng thức motif: Bảng 2.1 (thống kê bản truyện Việt Nam), Bảng 2.2 (thống kê bản truyện Ấn Độ), Bảng 2.3 (thống kê kết cấu type truyện), Bảng 2.4 (dạng thức motif sinh nở/xuất thân kì lạ), Bảng 2.5 (các dạng chiến công của Chàng trai khỏe và bạn đồng hành).

Chương 3. So sánh nhóm type truyện Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 3 khảo sát nhóm type truyện ra đời muộn hơn, khi chế độ thị tộc mẫu hệ nhường chỗ cho chế độ phụ quyền, xã hội phân hóa giai cấp và mâu thuẫn gia đình - xã hội nảy sinh gay gắt. Các nhân vật chính diện là những số phận bất hạnh: con côi, con riêng, người em út nghèo khó; đối lập với nhân vật phản diện là người anh tham lam, mẹ kế độc ác, con riêng của mẹ kế, phú ông keo kiệt.

Hệ thống type truyện được phân tích gồm các type tương đồng: type 480 (Cô gái tốt bụng và cô gái xấu bụng / Chiếc thoi dệt vải bị đánh rơi), type 503 (Món quà của người tí hon / Hai cô gái và cục bướu), type 750B (Lòng hiếu khách được ban thưởng / Tấm lòng vàng được thưởng bằng vàng), type 834A (Chum vàng và chum rắn), type 613 (Hai người lữ khách / Những điều bí mật của các con vật), type 510A/B (Cô bé Lọ Lem / Tấm Cám), cùng các biến thể riêng biệt của Việt Nam (Cây khế, Tua Gia – Tua Nhi, Ý Ưởi – Ý Noọng...) và Ấn Độ (Khiêm nhường được đền đáp và kiêu căng bị trừng phạt, Bâpkhâdi, Chàng Dhur Xing tốt bụng, Peasie and Beansie...).

Về so sánh kết cấu:

  • Kết cấu đồng quy: Đây là mô hình kết cấu chi phối toàn bộ nhóm type. Truyện xây dựng hai tuyến nhân vật song song đối lập: Người tốt bụng gặp hoàn cảnh khó khăn $\rightarrow$ thể hiện phẩm chất lương thiện, chia sẻ thức ăn hoặc giúp đỡ kẻ khác $\rightarrow$ nhận được vật báu hoặc phép thần $\rightarrow$ đổi đời giàu sang, hạnh phúc. Kẻ xấu bụng nhìn thấy liền nảy sinh lòng tham $\rightarrow$ bắt chước làm theo y hệt các hành động nhưng với tâm địa vị kỉ, tàn nhẫn $\rightarrow$ bị trừng phạt thảm khốc.
  • Kết cấu theo tuyến tính: Kể tuần tự về chuỗi hoạn nạn của nhân vật tốt bụng, sự hãm hại lặp lại nhiều lần của kẻ ác (như mẹ con Cám hại Tấm hết lần này đến lần khác), qua mỗi lần chết đi sống lại nhờ thần kì hỗ trợ, nhân vật cuối cùng giành lại hạnh phúc trọn vẹn và kẻ ác bị tiêu diệt.

Về các motif chính cấu thành cốt truyện:

  • Motif sự trợ giúp thần kì: Nhân vật tốt bụng nhận được sự can thiệp của lực lượng siêu nhiên (Bụt, Tiên, chim thần, trâu thần, cá bống, thánh nhân Jogi, các vị thần Hindu...).
  • Motif cái thiện được ban thưởng: Hình thức ban thưởng gồm của cải vật chất (vàng bạc, ngọc ngà, lúa gạo), sắc đẹp (trở nên xinh đẹp, hết bướu, khỏi dị tật), địa vị xã hội (làm hoàng hậu, lấy công chúa, làm vua).
  • Motif cái ác bị trừng phạt: Kẻ xấu phải trả giá bằng việc mất hết của cải, bị rắn rết cắn chết, rơi xuống vực sâu, bị sét đánh, biến dạng hình thể xấu xí hơn, hoặc bị biến thành loài vật thấp hèn (biến thành con lừa, con khỉ).
  • Motif sự bắt chước thất bại: Yếu tố then chốt tạo nên xung đột và tiếng cười phê phán đạo đức; hành vi bắt chước máy móc bộc lộ bản chất vụ lợi dẫn đến kết cục tự hủy diệt.

Hệ thống bảng số liệu của chương 3 gồm: Bảng 3.1 (thống kê kết cấu nhóm type truyện), Bảng 3.2 (các dạng motif trợ giúp thần kì), Bảng 3.3 (các dạng motif cái thiện được ban thưởng), Bảng 3.4 (các hình thức ban thưởng), Bảng 3.5 (các dạng motif cái ác bị trừng phạt), Bảng 3.6 (các hình thức trừng phạt).

Chương 4. Lý giải sự tương đồng và khác biệt trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ

Chương 4 đúc kết và lý giải các nguyên nhân văn hóa, lịch sử, xã hội tạo nên diện mạo của truyện cổ tích thần kì hai nước:

  1. Lý giải sự tương đồng:
  • Tương đồng về quan niệm thẩm mĩ và phương thức sáng tạo nghệ thuật do quy luật loại hình: Cả hai nền văn học dân gian đều phản ánh quá trình lịch sử khi xã hội nguyên thủy tan rã, nảy sinh bất bình đẳng và áp bức. Quần chúng lao động ở cả hai quốc gia đều gửi gắm ước mơ về sự công bằng xã hội, đạo lý "ở hiền gặp lành", cái thiện chiến thắng cái ác, người lao động nhỏ bé được bù đắp bằng các lực lượng siêu nhiên.
  • Tương đồng do quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa: Lịch sử ghi nhận mối quan hệ giao lưu văn hóa, thương mại và tôn giáo lâu đời giữa Ấn Độ và Việt Nam. Các luồng tư tưởng Phật giáo, các mẫu đề truyện kể trong kinh điển tôn giáo (Jataka, Panchatantra) đã thâm nhập, lan tỏa vào văn học dân gian Đông Nam Á và Việt Nam, tạo nên những tầng tương đồng về môtip và cốt truyện.
  1. Lý giải sự khác biệt:
  • Khác biệt do điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và lịch sử tộc người: Môi trường tự nhiên nhiệt đới gió mùa gắn liền nền văn minh lúa nước, làng mạc ven sông suối quy định các chi tiết đời thường, gần gũi trong truyện Việt Nam. Ngược lại, thiên nhiên Ấn Độ hùng vĩ với rừng rậm bạt ngàn, núi cao Himalaya hiểm trở, sa mạc và động vật hoang dã (hổ, voi, rắn hổ mang) tạo nên bối cảnh kì vĩ, hiểm nguy trong truyện kể Ấn Độ.
  • Khác biệt do phong tục tập quán: Phản ánh qua văn hóa ẩm thực (truyện Việt Nam gắn với cơm nếp, bánh chưng, canh rau, trầu cau; truyện Ấn Độ gắn với bánh mì nướng Chapati, sữa chua, bơ Ghee, gạo Basmati) và quan niệm hôn nhân (chế độ hôn nhân và thân tộc, tục cưới xin phản ánh đẳng cấp khắt khe ở Ấn Độ khác với quan hệ hôn nhân gia đình nông nghiệp Việt Nam).
  • Khác biệt do ảnh hưởng của tôn giáo tín ngưỡng:
    • Nguồn gốc thần kì của nhân vật: Truyện Ấn Độ chịu ảnh hưởng đậm nét của thuyết luân hồi nghiệp báo (Karma, Samsara) của Ấn Độ giáo và Phật giáo; nhân vật thường là kiếp sau của một vị thần hoặc do lời nguyền rủa, tái sinh để trả nghiệp. Truyện Việt Nam mang đậm tín ngưỡng vạn vật hữu linh, hồn nhiên, mộc mạc.
    • Lực lượng trợ giúp thần kì: Trong truyện Việt Nam, trợ thủ thần kì thường là ông Bụt, bà Tiên hiền từ, mang tính thế tục và dân gian hóa cao. Trong truyện Ấn Độ, lực lượng trợ giúp mang đậm căn cốt tôn giáo: các đạo sĩ khổ hạnh (Jogi/Sadhu), các vị thần tối cao trong Ấn Độ giáo (Brahma, Vishnu, Shiva, nữ thần Parvati), hoặc các sinh vật huyền bí (Rakshasa, quỷ Dạ xoa).
  • Khác biệt do cách tư duy:
    • Tư duy người Việt mang tính thiết chế làng xã, gắn liền tính thực tiễn, cụ thể, thực tế, luôn hướng về việc giải quyết các mối quan hệ đời thường trong gia đình và xóm làng.
    • Tư duy người Ấn Độ giàu tính siêu hình, trừu tượng, ưa suy tưởng triết lý vũ trụ, tưởng tượng kì vĩ và phóng khoáng vượt ra ngoài giới hạn trần tục.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Về kết quả nghiên cứu: Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ. Luận án khảo sát, đối chiếu 16 type truyện cổ tích thần kì tương đồng với 131 bản truyện trên hai bình diện kết cấu và motif; nhận diện rõ các nét tương đồng mang tính quy luật loại hình cũng như các điểm khác biệt mang bản sắc văn hóa tộc người; đồng thời lý giải thấu đáo nguyên nhân lịch sử, sinh thái, tôn giáo và tư duy dẫn đến các hiện tượng đó.
  • Về mặt tư liệu: Luận án bổ sung cho kho tàng tư liệu văn học dân gian nước nhà 30 bản dịch mới truyện cổ tích thần kì Ấn Độ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, cung cấp nguồn văn bản đáng tin cậy phục vụ nghiên cứu và thưởng thức.
  • Về mặt nghiên cứu và giảng dạy: Cung cấp khung phương pháp luận loại hình và nguồn dữ liệu phong phú phục vụ cho công tác đào tạo, giảng dạy các môn học chuyên ngành ở bậc đại học và sau đại học như: Văn học dân gian Việt Nam, Văn học Ấn Độ, Nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp loại hình, Văn học so sánh, và chuyên đề Motif văn học dân gian Việt Nam và Châu Á.
  • Về mặt đối ngoại và giao lưu văn hóa: Góp phần tăng cường sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa, tâm hồn và tư duy của nhân dân Ấn Độ, đặt trong thế đối sánh với văn hóa Việt Nam, phục vụ thiết thực cho tiến trình hội nhập và giao lưu văn hóa quốc tế.

Về kiến nghị và giải pháp, văn bản nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng hệ thống bảng tra cứu type và motif quốc tế (A-T) vào nghiên cứu kho tàng tự sự dân gian các dân tộc Việt Nam, đồng thời mở rộng công tác dịch thuật các tác phẩm folklore nguyên bản từ các ngôn ngữ châu Á sang tiếng Việt để phục vụ nghiên cứu so sánh liên văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát mới tập trung đi sâu vào 2 nhóm type tiêu biểu (type Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường và nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt), chưa thể khảo sát chuyên sâu toàn diện cả 26 type tương đồng đã nhận diện.
  • Về mặt ngữ liệu Ấn Độ, luận án chủ yếu tiếp cận qua các bản sưu tầm, tuyển tập xuất bản bằng tiếng Anh, chưa thể tiếp cận trực tiếp văn bản từ các ngôn ngữ bản địa Ấn Độ (như tiếng Phạn - Sanskrit, tiếng Hindi, Bengali, Tamil...).
  • Chưa mở rộng phạm vi so sánh sang các tiểu loại truyện cổ tích khác như truyện cổ tích loài vật và truyện cổ tích sinh hoạt.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các type truyện cổ tích thần kì phổ biến khác đã được nhận diện như type Người chồng là người mang lốt động vật (A-T 425A), type Người giết rồng/rắn cứu công chúa (A-T 300 / Thạch Sanh).
  • Tiếp tục khảo sát, so sánh ở hai tiểu loại còn lại: cổ tích loài vật và cổ tích sinh hoạt giữa Việt Nam và Ấn Độ.
  • Đi sâu nghiên cứu con đường truyền biến, giao lưu văn hóa cụ thể giữa văn hóa Ấn Độ và truyện kể dân gian của các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người có dấu ấn văn hóa Champa hoặc chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Nam tông (như người Chăm, người Khmer Nam Bộ).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học so sánh, Văn hóa học, Đông phương học và Nhân học: Tham khảo mô hình ứng dụng lý thuyết loại hình học, phương pháp phân tích kết cấu và motif theo chuẩn mực quốc tế của Aarne – Thompson.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy trực tiếp cho các học phần Văn học dân gian, Văn học so sánh, Văn học phương Đông (Văn học Ấn Độ) và các chuyên đề thi pháp học folklore.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa và cán bộ đối ngoại: Tham khảo các phân tích so sánh liên văn hóa, sự khác biệt về phong tục, tập quán, tín ngưỡng và tư duy giữa người Việt và người Ấn Độ để ứng dụng vào công tác giao lưu văn hóa song phương.
  • Dịch giả văn học: Tham khảo 30 bản dịch truyện cổ tích Ấn Độ tại phần phụ lục như nguồn văn bản đối chiếu hữu ích.

Các phần đáng tham khảo nhất trong công trình:

  • Khung lý thuyết và phương pháp luận khảo sát type và motif ở Chương 1;
  • Hệ thống bảng thống kê kết cấu, motif tại Chương 2 và Chương 3 (Bảng 2.3, 2.4, 2.5 và Bảng 3.1, 3.2, 3.3, 3.5);
  • Phần lý giải sự khác biệt về tư duy thiết chế làng xã thực tiễn của Việt Nam đối lập với tư duy siêu hình, giàu tưởng tượng của Ấn Độ ở Chương 4;
  • Phần phụ lục dịch thuật 30 truyện cổ tích thần kì Ấn Độ từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu văn bản truyện cổ tích của Việt Nam và Ấn Độ, và nguồn ngữ liệu tiếng Ấn Độ được tác giả xử lý như thế nào?
Luận án đã thống kê và khảo sát tổng cộng 131 bản truyện cổ tích thần kì thuộc 16 type truyện tương đồng, bao gồm 96 bản truyện của Việt Nam và 35 bản truyện của Ấn Độ. Đối với tư liệu Ấn Độ, tác giả khai thác từ các tuyển tập truyện dân gian tiếng Anh có giá trị. Trong số 35 truyện Ấn Độ, có 5 truyện đã được dịch sang tiếng Việt từ trước, 30 truyện còn lại do chính nghiên cứu sinh trực tiếp dịch mới từ tiếng Anh sang tiếng Việt và đưa vào phần phụ lục của luận án.

2. Có bao nhiêu type truyện tương đồng giữa Việt Nam và Ấn Độ được chỉ ra khi đối chiếu các bảng mục lục tra cứu quốc tế?
Khi đối chiếu Bảng tra cứu của Aarne – Thompson, danh mục của Thompson – Roberts và Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam, tác giả đã sơ bộ tìm ra 5/34 type truyện cổ tích loài vật, 26/108 type truyện cổ tích thần kì, và 20/75 type truyện cổ tích sinh hoạt có sự tương đồng loại hình giữa hai quốc gia.

3. Sự khác biệt căn bản về lực lượng trợ giúp thần kì giữa truyện cổ tích Việt Nam và Ấn Độ là gì?
Trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam, lực lượng trợ giúp thần kì chủ yếu là Bụt, Tiên, ông lão hiền lành hoặc các con vật nuôi quen thuộc (chim, cá bống, trâu), mang tính chất bình dân, gần gũi và thế tục hóa. Trong khi đó, ở truyện cổ tích Ấn Độ, lực lượng trợ giúp mang đậm căn cốt tôn giáo và vũ trụ luận: các đạo sĩ tu khổ hạnh (Jogi/Sadhu), các vị thần tối cao của Ấn Độ giáo (Brahma, Vishnu, Shiva, nữ thần Parvati), hoặc các sinh vật huyền thoại (Rakshasa, quỷ Dạ xoa).

4. Vì sao tác giả lựa chọn hai nhóm type: "Chàng trai khỏe..." và "Người tốt bụng được ban thưởng..." làm đối tượng so sánh trọng tâm?
Tác giả lựa chọn hai nhóm type này vì chúng đại diện cho hai giai đoạn lịch sử - xã hội kế tiếp nhau: type Chàng trai khỏe và những người bạn đồng hành có khả năng khác thường mang tính chất kế tiếp và gần gũi với thần thoại, phản ánh cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên của thời kì đầu; còn nhóm type Người tốt bụng được ban thưởng và kẻ xấu bụng bị trừng phạt ra đời muộn hơn, phản ánh mâu thuẫn xã hội giai cấp và sự tan rã của gia đình mẫu quyền chuyển sang phụ quyền. Việc lựa chọn này mang lại cái nhìn bao quát về tiến trình phát triển của tiểu loại cổ tích thần kì.

5. Đặc trưng phương thức tư duy của người Việt và người Ấn Độ chi phối thế nào đến diện mạo truyện cổ tích thần kì của mỗi nước?
Tư duy người Việt gắn liền với thiết chế làng xã và nền nông nghiệp lúa nước, mang tính thực tế, cụ thể, thực tiễn, luôn hướng câu chuyện vào việc giải quyết các quan hệ đạo đức đời thường trong gia đình và cộng đồng. Ngược lại, tư duy người Ấn Độ giàu tính siêu hình, trừu tượng, chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết học tôn giáo và vũ trụ quan rộng lớn, dẫn đến trí tưởng tượng phóng khoáng, kì vĩ với những cấu trúc cốt truyện nhiều tầng bậc và yếu tố kì ảo phức tạp.

Kết luận

Luận án "So sánh truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ" của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh chuyên sâu và hệ thống giữa truyện cổ tích thần kì của hai quốc gia trên phương diện kết cấu và motif. Thông qua việc khảo sát 131 bản truyện thuộc 16 type truyện tương đồng, công trình đã chứng minh tính thống nhất về quy luật loại hình tự sự dân gian cũng như chỉ ra những nét khu biệt sâu sắc bắt nguồn từ môi trường sinh thái, lịch sử tộc người, tôn giáo và phương thức tư duy của mỗi dân tộc. Bên cạnh giá trị lý luận và phương pháp luận loại hình học, luận án còn đóng góp thiết thực cho kho tàng tư liệu văn học dân gian qua việc dịch mới 30 bản truyện cổ tích Ấn Độ, tạo nguồn tham khảo học thuật phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và giao lưu văn hóa quốc tế.