Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ văn học của tác giả Nguyễn Văn Thông với đề tài "So sánh tục ngữ Việt và tục ngữ Lào", chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 36 01), được bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Xuân Kính và PGS.TS. Lại Phi Hùng.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ câu tục ngữ Lào (xú pha xít): "Mạy huồm co po huồm xược" (Đay chung dây, cây chung khóm) nhằm khái quát mối quan hệ láng giềng gần gũi, lâu đời giữa hai quốc gia cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á. Trong nghiên cứu folklore học, bên cạnh những nét dị biệt xuất phát từ bản sắc riêng của mỗi dân tộc, tục ngữ hai nước mang nhiều điểm tương đồng do quy luật sáng tạo dân gian nhân loại và những điều kiện tương đồng về lịch sử, địa lý tự nhiên cùng quá trình giao lưu văn hóa tạo nên. Ở Việt Nam, kho tàng tục ngữ người Việt đã được sưu tầm và nghiên cứu sâu rộng qua nhiều công trình. Tuy nhiên, việc đặt tục ngữ Việt trong tương quan so sánh toàn diện với tục ngữ Lào trên cả hai bình diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật vẫn là một đề tài hoàn toàn mới, chưa được khảo cứu có hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Vận dụng quan điểm tương đối luận văn hóa (không xếp thứ bậc hơn kém giữa các nền văn hóa) để thống kê, phân tích và so sánh hai hệ thống tục ngữ Việt và Lào nhằm chỉ ra các điểm tương đồng cùng các nét khác biệt.
- Giải thích các nguyên nhân lịch sử, địa lý, xã hội, ngôn ngữ và tôn giáo dẫn đến sự giống nhau và khác nhau đó, từ đó làm rõ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á.
- Cung cấp luận cứ khoa học góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quảng bá văn hóa và thúc đẩy mối quan hệ bang giao hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu văn bản: Luận án khảo sát chủ yếu 16.098 câu tục ngữ trong bộ sách Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính chủ biên và 691 câu tục ngữ Lào trong công trình Xú pha xít và lời nói giao duyên Lào của Nguyễn Đình Phúc.
- Phạm vi đối tượng tộc người: Khái niệm "tục ngữ Việt" được giới hạn là tục ngữ cổ truyền của người Việt (người Kinh); khái niệm "tục ngữ Lào" được giới hạn là tục ngữ cổ truyền của người Lào Thay (Lào Lùm) – tộc người giữ vai trò chủ thể trong đại gia đình các bộ tộc Lào.
- Phạm vi nội dung và phương pháp tiếp cận: Để xử lý độ chênh lệch lớn giữa nguồn ngữ liệu 16.098 câu tục ngữ Việt và 691 câu tục ngữ Lào, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu theo "điểm" (khuôn lại ở những cụm nội dung cơ bản và hình thức biểu hiện chủ yếu thông qua các tỷ lệ so sánh có tính tương đối) thay vì dàn trải theo "diện".
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan lịch sử vấn đề, tác giả Nguyễn Văn Thông đã điểm lại các công trình nghiên cứu và sưu tầm tục ngữ tại Lào, tại Việt Nam và các công trình nghiên cứu so sánh tục ngữ đa ngữ:
| Nhóm công trình |
Tác giả, năm xuất bản / công bố |
Tên công trình tiêu biểu và đóng góp/hạn chế chính |
| Sưu tầm và nghiên cứu tục ngữ tại Lào |
Ma hả Xi La Vị La Vông và cộng sự (từ 1940; tái bản 1996, 2000) |
Tục ngữ cổ truyền Lào (450 câu tục ngữ); sưu tầm, trích đăng nhưng chưa sắp xếp theo hệ thống chủ đề truyền thống. |
|
Uỷ ban Khoa học Xã hội Lào hợp tác Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Việt Nam (1987) |
Văn học Lào (527 trang, in tại Nxb Quốc gia Lào); công trình dài hơi, có độ tin cậy khoa học nhưng phần nghiên cứu tục ngữ còn sơ lược. |
|
Nhóm tác giả Lào (1982) |
Văn học phổ thông (Nxb Giáo dục Thể thao và Lễ nghi); giới thiệu khái lược văn học dân gian cho học sinh phổ thông. |
|
Bò Xẻng Khăm, Xúc Xạ Vàng, Bun Khiển (1989) |
Câu thơ dân gian Lào; sưu tầm một số câu mới, chưa phân loại theo tiêu chí cụ thể. |
|
Xi Ri Xu Văn Na Xỉ (2000) |
Từ thông dụng và tục ngữ Lào (62 trang); dịch và đối chiếu từ 235 câu tục ngữ tiếng Anh. |
|
Đuông Chăn Văn Na Bu Pha (2005) |
Tục ngữ dân gian Lào; sưu tầm dạng danh mục tản mạn. |
|
Lăm Phon Xay Xa Na (1999) |
Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá ẩm thực; bước đầu so sánh một khía cạnh nội dung. |
| Giới thiệu và nghiên cứu tục ngữ Lào tại Việt Nam |
Đinh Việt Anh |
Chương 2 giáo trình văn học dân gian Lào; khảo cứu thể loại thận trọng nhưng còn mang tính khái lược. |
|
Nguyễn Năm |
Hợp tuyển văn học Lào (511 trang); bức tranh tổng quan văn học Lào, chưa đi sâu vào thi pháp thể loại tục ngữ. |
|
Nguyễn Đình Phúc |
Xú pha xít và lời nói giao duyên Lào; lần đầu sưu tầm, dịch nghĩa 691 câu tục ngữ Lào sang tiếng Việt, bình giảng sơ lược. |
|
Lại Phi Hùng (trong Văn học Đông Nam Á) |
Nhận diện khái lược tục ngữ trong mối tương quan thể loại của văn học dân gian Lào. |
|
Trịnh Đức Hiển |
Bài báo chuyên luận: "Sơ bộ tìm hiểu luật hiệp vần và vần trong xú pha xít Lào", "Một số hình thức thể hiện tính hình tượng trong xú pha xít Lào". |
|
Nguyễn Văn Thông (Tác giả luận án) |
Luận văn thạc sĩ (về văn hóa ứng xử), 2 đề tài ĐHQGHN (Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt - Lào, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Lào - Việt) và các bài báo chuyên ngành về vần, lối nói ngược, so sánh tục ngữ hai nước. |
| Nghiên cứu đối chiếu tục ngữ Việt với thế giới |
Lê Đình Bích, Trần Quỳnh Dân; Lê Du, Lê Hải; Vương Trung Hiếu; Nguyễn Gia Liên; Nguyễn Văn Tố; Lê Ngọc Tú; Thanh Vân - Nguyễn Duy Nhường - Lưu Hoài; Lương Văn Hồng; Nguyễn Lân; Nguyễn Văn Khang; Lê Khánh Trường - Lê Việt Anh |
Các công trình từ điển song ngữ, đa ngữ (Nga, Anh, Pháp, Đức, Hán...) đối chiếu tục ngữ Việt với nước ngoài; phần lớn dừng lại ở tra cứu đối ứng ngữ nghĩa, chưa phân tích cấu trúc thi pháp và bối cảnh văn hóa. |
|
Nguyễn Thị Hồng Thu (2005) |
Luận án tiến sĩ Tìm hiểu văn hoá ứng xử Nhật Bản qua Kôtôwaza, có so sánh với tục ngữ Việt Nam. |
Về khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Các công trình đi trước tại Việt Nam và Lào chủ yếu tiếp cận đơn tuyến, tách rời từng nền văn học dân gian riêng biệt, chưa đặt sự so sánh trong tư duy bối cảnh khu vực Đông Nam Á. Chưa có công trình nào đối chiếu, so sánh một cách toàn diện và đồng bộ cả về nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật và thi pháp thể loại giữa tục ngữ Việt và tục ngữ Lào để giải mã các hiện tượng tương đồng, dị biệt gắn liền với các yếu tố địa - văn hóa, tộc người và tôn giáo. Luận án của Nguyễn Văn Thông được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích: Luận án dựa trên lý thuyết tương đối luận văn hóa, xem xét các hiện tượng folklore như những tín hiệu ngôn ngữ học và biểu đạt văn hóa phản ánh tâm thức cộng đồng tộc người trong môi trường sinh thái tự nhiên và xã hội. Luận án vận dụng quan điểm folklore học so sánh và thi pháp học thể loại văn học dân gian, đặt đối tượng trong không gian văn hóa Đông Nam Á và phức thể văn hóa lúa nước để nhận diện những điểm chung về cơ tầng văn hóa bản địa cũng như những tiếp biến văn hóa ngoại sinh.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Phân loại, định lượng các đơn vị tục ngữ theo các trường chủ đề nội dung (thời tiết, canh tác, quan hệ gia đình, xã hội, tôn giáo, ẩm thực) và các đặc trưng hình thức nghệ thuật (vần, nhịp, kết cấu so sánh, tỉnh lược, tu từ).
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu từng cặp hiện tượng nội dung và hình thức giữa tục ngữ Việt và tục ngữ Lào nhằm làm nổi bật nét tương đồng và dị biệt.
- Phương pháp điền dã: Tác giả trực tiếp thâm nhập thực tế tại Lào trong các năm chiến đấu, công tác và giảng dạy tiếng Việt để thu thập, kiểm tra ngữ liệu và khảo sát ngữ cảnh sử dụng tục ngữ bản địa.
- Phương pháp mô tả, phân tích và tổng hợp: Giải mã ngữ nghĩa các câu tục ngữ gắn với phong tục, tập quán và đời sống tâm linh.
- Tiếp cận liên ngành và đa ngành: Kết hợp tri thức từ văn học dân gian, ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân học văn hóa, khảo cổ học, lịch sử và địa lý học.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Nguồn tục ngữ tiếng Việt: 16.098 câu trích từ bộ Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính chủ biên.
- Nguồn tục ngữ tiếng Lào: 691 câu tục ngữ dịch nghĩa từ công trình Xú pha xít và lời nói giao duyên Lào của Nguyễn Đình Phúc.
- Nguồn bổ trợ và đối chiếu: Các tập tư liệu điền dã do tác giả sưu tầm, biên soạn trong hai đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt - Lào và Từ điển thành ngữ và tục ngữ Lào - Việt (được đính kèm trong phần phụ lục luận án).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan văn hoá - xã hội Việt Nam - Lào
Chương 1 thiết lập bức tranh toàn cảnh về lịch sử, địa lý, cấu trúc tộc người, ngôn ngữ và tôn giáo của hai quốc gia nhằm tạo tiền đề lý giải các hiện tượng tục ngữ ở hai chương sau.
Về lịch sử - xã hội Lào, tác giả lược thuật chế độ quân chủ tập quyền phong kiến qua ba cột mốc gắn liền với các vị vua tiêu biểu: Khún Bu Lôm (thế kỷ VIII, biểu tượng thánh Tổ mở đầu dòng họ vua Lào, gắn với kinh đô Xiêng Đôông Xiêng Thoòng - Luông Pha Băng); Chậu Phà Ngừm (1316-1371, thống nhất các mường thành quốc gia Lạn Xạng năm 1357 và ban bố "Lời huấn thị"); và vua Sệt Tha Thi Rạt (1534-1572, dời đô về Viêng Chăn năm 1553, xây chùa Vắt Pha Kẹo và dựng Thạt Luổng năm 1566). Sau giai đoạn ổn định dưới triều vua Sou Ri Na Vong Sa (1637-1694), Viêng Chăn trở thành trung tâm Phật giáo lớn. Cấu trúc xã hội truyền thống của người Lào Thay vận hành theo mô hình hai cấp: bản (do phò bản đứng đầu, đất đai thuộc công xã làng bản qua câu: "Đìn ạt nha, na phò bản" - Đất của quan, ruộng làng của trưởng bản) và mường (do chậu mường đứng đầu, tập hợp thành mường luổng do chậu xi vít cai quản).
Về mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào, các nguồn sử liệu cổ như Dư địa chí (Nguyễn Trãi, thế kỷ XV), Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn, thế kỷ XVIII), Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên) và Đại Nam chính biên liệt truyện chứng minh quan hệ thông hiếu, giao thương đã diễn ra từ sớm (sự kiện thông hiếu đầu tiên năm 1067 thời Lý Thánh Tôn). Các tư liệu dân gian như truyền thuyết Quả bầu mẹ, truyện cổ Ba Na (chàng Léo và chàng Ngọc), truyện Ca Phúc phản ánh sự gắn kết cội nguồn lâu đời giữa cư dân hai bên dãy Trường Sơn.
Về cảnh quan và môi trường sinh thái, trong 5 cảnh quan tiêu biểu của Đông Nam Á, nước Lào có 3 cảnh quan đầu (sườn núi cao với mô hình canh tác rẫy dốc; cao nguyên với rẫy bằng; thung lũng với ruộng - rẫy), đặc trưng bởi văn hóa thung lũng dọc sông Mê Kông (dài 4.350 km). Việt Nam có trọn vẹn cả 5 cảnh quan (bổ sung cảnh quan đồng bằng châu thổ ruộng - vườn và cảnh quan duyên hải, hải đảo với 3.260 km bờ biển). Dãy Trường Sơn (Phu Luổng, dài 1.100 km) tạo ranh giới tự nhiên hình thành hai vùng khí hậu khác biệt: Lào mang tính chất nhiệt đới gió mùa lục địa với hai mùa mưa - khô rõ rệt, ít chịu bão biển; Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển Đông với thiên tai bão lụt, hạn hán và gió Lào khốc liệt.
Về thành phần tộc người và ngôn ngữ: Lào gồm 49 bộ tộc (chia làm 3 nhóm chính: Lào Lùm chiếm 56% đến 70% dân số, Lào Thơng gồm 31 bộ tộc, Lào Xủng di cư từ phương Bắc xuống khoảng 2-3 thế kỷ gần đây); Việt Nam gồm 54 dân tộc. Tiếng Việt thuộc dòng Nam Á nhưng có cơ chế vận hành loại hình đơn lập, có thanh điệu tương đồng tiếng Lào (dòng Tày - Thái). Tiếng Lào vay mượn lượng lớn từ ngữ Pali - Sanskrit, trong khi tiếng Việt vay mượn từ ngữ gốc Hán. Về tôn giáo, Phật giáo Tiểu thừa tại Lào là quốc giáo (58% dân số, có 4.937 ngôi chùa Tiểu thừa và 8 ngôi chùa Đại thừa), ảnh hưởng toàn diện đến đời sống; còn tại Việt Nam, Phật giáo Đại thừa kết hợp hài hòa với Nho giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa.
Chương 2: So sánh nội dung tục ngữ Việt và tục ngữ Lào
Chương 2 tiến hành khảo sát, so sánh đối chiếu hệ thống nội dung tư tưởng của tục ngữ hai nước qua các mảng chủ đề cụ thể:
- Thể hiện nhận thức về tự nhiên, thiên nhiên và quê hương đất nước:
- Tục ngữ Việt Nam sở hữu số lượng đồ sộ các câu dự báo thời tiết dựa trên quan sát gió ("Gió nam đưa xuân sang hè"), trăng sao ("Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa"), mây sương ("Mây kéo ngược nước tràn bờ"), hành vi động thực vật ("Chuồn chuồn bay thấp thì mưa...", "Kiến dọn tổ thời mưa", "Chĩnh đổ mồ hôi...") và gắn với các địa danh cụ thể trên từng tiểu vùng ("Chớp Bàu Tró không gió cũng lụt", "Chớp chài đội mũ, mây phủ Đá Bia...", "Chớp ngã Cồn Tiên mưa liền một trộ"). Hiện tượng này phản ánh thực tế người nông dân đồng bằng châu thổ Việt Nam thường xuyên đối mặt với bão lụt, hạn hán thất thường.
- Tục ngữ Lào có số lượng câu dự báo thời tiết rất hạn chế ("Đẹt oọc moọc vai" - Nắng lên sương tan; "Phổn tốc phạ chẹng, phổn xị lẹng phạ mựt" - Sắp mưa trời sáng, sắp hạn trời tối) và hầu như không có câu gắn với địa danh thời tiết cục bộ, do khí hậu lục địa tại Lào ổn định hơn, ít biến động tai ương dữ dội.
- Phản ánh lễ hội: Người Việt có hệ thống tục ngữ dày đặc về hội hè nông nghiệp gắn với tưởng niệm tổ tiên, anh hùng ("Lâm râm hội Khám, u ám hội Dâu, vỡ đầu hội Dóng", "Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ", "Bỏ con bỏ cháu, không bỏ hội mồng sáu tháng giêng"); người Lào tập trung vào các ngày hội bun gắn với Phật giáo và cầu mưa (Bun băng phay - hội pháo thăng thiên; Bun xồng hưa - hội đua thuyền; Bun hốt nặm / Bun pi mày - hội té nước đón năm mới).
-
Đúc kết kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi và quan hệ xã hội: Cả hai dân tộc đều đúc kết kinh nghiệm canh tác lúa nước, mùa vụ, chăn nuôi gia súc và phản ánh sâu sắc các mối quan hệ gia đình, làng bản.
-
Khác biệt về hệ tư tưởng và văn hóa ẩm thực:
- Tục ngữ Việt Nam thể hiện rõ nét dấu ấn của Nho giáo trong trật tự tôn ti, đạo đức gia phong, tư tưởng chính danh, đồng thời phản ánh đậm đặc văn hóa ẩm thực ("Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ...").
- Tục ngữ Lào in đậm thế giới quan Phật giáo Tiểu thừa, đề cao luật nhân quả, sự nhẫn nhịn, đức tính hòa hiếu, lối sống từ tốn ("khòi khòi pay" - từ từ mà đi), tinh thần hòa hợp dân tộc và gắn liền với triết lý nhà chùa.
- Tác giả đồng thời phân tích hiện tượng trái nghĩa phong phú trong tục ngữ Việt và giải thích nguồn gốc các dị biệt nội dung dựa trên điều kiện sinh thái, cơ cấu kinh tế thung lũng (ruộng - rẫy) so với đồng bằng (ruộng - vườn), và ảnh hưởng của các dòng tôn giáo chủ đạo.
Chương 3: So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào
Chương 3 tập trung phân tích thi pháp, cấu trúc ngôn ngữ và các phương thức tu từ nghệ thuật trong tục ngữ hai dân tộc:
-
Cấu trúc ngữ nghĩa, vần và nhịp điệu: Tục ngữ của cả hai nước đều tận dụng triệt để đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập, có thanh điệu để tổ chức cấu trúc câu ngắn gọn, cân đối, giàu nhạc tính thông qua vần lưng, vần chân, nhịp ngắt đối xứng và các lối nói cô đọng.
-
Các biện pháp nghệ thuật và tu từ:
- Cả hai hệ thống đều sử dụng phổ biến các biện pháp so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đối ngẫu và lối tỉnh lược thành phần câu nhằm tạo hàm súc ngữ nghĩa tối đa.
- Nét riêng biệt của tục ngữ Lào: Luận án khảo sát hiện tượng "nói ngược" mang tính trào lộng, giáo huấn độc đáo trong cấu trúc biểu đạt của người Lào. Về mặt từ vựng, tục ngữ Lào tiếp nhận và sử dụng nhiều thuật ngữ, từ ngữ gốc Pali - Sanskrit du nhập qua kinh sách Phật giáo.
- Nét riêng biệt của tục ngữ Việt: Luận án chỉ ra việc người Việt sử dụng linh hoạt và phong phú các lớp từ ngữ địa phương (phương ngữ Bắc, Trung, Nam), các thành tố gốc Hán và điển tích văn hóa Hán được Việt hóa sâu sắc.
- Giải thích nguyên nhân nghệ thuật: Sự tương đồng về mặt thi pháp bắt nguồn từ loại hình ngôn ngữ đơn tiết, cùng loại hình thơ ca dân gian gắn liền với phương thức truyền khẩu; sự khác biệt về từ vựng nghệ thuật và cấu trúc tu từ bắt nguồn từ nguồn gốc tiếp biến văn hóa (văn hóa Hán ở Việt Nam và văn hóa Ấn Độ/Phật giáo Nam truyền ở Lào).
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình chuyên khảo đặt việc nghiên cứu, so sánh tục ngữ Việt Nam và Lào trong khung phân tích đồng bộ của folklore học và nhân học văn hóa khu vực Đông Nam Á, minh chứng cho tính quy luật của quá trình sáng tạo văn học dân gian giữa các quốc gia có chung cơ tầng văn hóa bản địa.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa dân gian và môi trường địa lý - sinh thái, qua đó giải mã nguồn gốc của các tương đồng cũng như bản sắc khu biệt của từng dân tộc thông qua ngôn ngữ tục ngữ.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát, đối chiếu có hệ thống trên nguồn ngữ liệu lớn (16.098 câu tục ngữ Việt và 691 câu tục ngữ Lào), phân loại chi tiết các trường nội dung và cấu trúc nghệ thuật.
- Cung cấp hai tập tư liệu tra cứu có giá trị trong phần phụ lục: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt - Lào và Từ điển thành ngữ và tục ngữ Lào - Việt do tác giả trực tiếp sưu tầm, đối dịch và chú giải, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, học tập ngôn ngữ và dịch thuật song phương.
Về kiến nghị và đề xuất: Luận án đề xuất đẩy mạnh công tác sưu tầm, biên dịch và hệ thống hóa văn học dân gian các bộ tộc Lào tại Việt Nam; đưa các nội dung so sánh folklore khu vực vào chương trình giảng dạy đại học ngành Ngữ văn, Đông Nam Á học nhằm củng cố mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Do nguồn tư liệu tục ngữ Lào được xuất bản chính thức còn mỏng (công trình khảo sát chủ yếu dựa trên 691 câu tục ngữ Lào trong sách của Nguyễn Đình Phúc so sánh với 16.098 câu tục ngữ người Việt), việc đối sánh định lượng tuyệt đối giữa hai kho tàng không thể thực hiện đồng đều mà phải quy về các tỷ lệ tương đối và tập trung nghiên cứu theo "điểm" ở các nội dung cơ bản.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả xác định tiếp tục mở rộng quy mô điền dã sưu tầm tục ngữ của các bộ tộc Lào khác (Lào Thơng, Lào Xủng); đồng thời mở rộng phạm vi so sánh đối chiếu sang các thể loại folklore khác như ca dao, dân ca, truyền thuyết và truyện cổ tích giữa hai dân tộc trong không gian văn hóa Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học so sánh, Ngôn ngữ học, Văn hóa học và Đông Nam Á học: Cung cấp khung phương pháp luận đối sánh folklore và nguồn ngữ liệu đối ứng phong phú.
- Giảng viên và người dạy tiếng Việt cho người Lào, người dạy tiếng Lào cho người Việt: Sử dụng kho ngữ liệu tục ngữ đối chiếu và hai tập từ điển phụ lục làm giáo trình trực quan trong giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa ứng xử.
- Cán bộ làm công tác ngoại giao, thông tin đối ngoại và giao lưu văn hóa Việt - Lào: Tham khảo tư liệu để nắm bắt sâu sắc tâm thức, phong tục tập quán và bản sắc văn hóa truyền thống của nhân dân hai nước.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao có sự chênh lệch lớn về số lượng câu tục ngữ khảo sát giữa hai nước và tác giả giải quyết vấn đề này như thế nào?
Nguồn ngữ liệu tục ngữ người Việt có 16.098 câu (trong công trình của Nguyễn Xuân Kính), trong khi tục ngữ Lào chỉ có 691 câu (trong công trình của Nguyễn Đình Phúc) do công tác sưu tầm, biên soạn tục ngữ tại Lào lịch sử trước đây còn mỏng. Để khắc phục sự chênh lệch này, tác giả không so sánh dàn trải theo "diện" mà quy về nghiên cứu theo "điểm", tập trung vào các cụm nội dung cơ bản và hình thức chủ yếu thông qua các tỷ lệ so sánh có tính chất tương đối.
-
Khái niệm "xú pha xít" trong tiếng Lào được hiểu như thế nào so với phân định thể loại trong tiếng Việt?
Thuật ngữ xú pha xít trong tiếng Lào là một khái niệm rộng, bao hàm cả hai bộ phận là thành ngữ và tục ngữ của người Việt, chưa có sự phân tách rạch ròi thành hai thể loại độc lập như trong thuật ngữ học dân gian Việt Nam.
-
Đặc điểm địa lý và tự nhiên chi phối sự khác biệt trong mảng tục ngữ thời tiết giữa hai nước ra sao?
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, địa hình đủ 5 cảnh quan và chịu nhiều thảm họa bão lụt, hạn hán khốc liệt nên tục ngữ dự báo thời tiết rất phong phú, tỉ mỉ và mang tính địa phương cụ thể. Nước Lào không giáp biển, có 3 cảnh quan (chủ yếu là núi và thung lũng), khí hậu nhiệt đới gió mùa lục địa hai mùa mưa - khô ổn định hơn nên tục ngữ đúc kết thời tiết ít hơn rất nhiều và hầu như không gắn với địa danh cục bộ.
-
Tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo chi phối nội dung tục ngữ của mỗi dân tộc?
Tục ngữ Việt Nam chịu ảnh hưởng kết hợp của Phật giáo Đại thừa trong dân gian và Nho giáo sâu sắc trong trật tự luân lý, ứng xử gia đình, xã hội. Ngược lại, tục ngữ Lào chịu ảnh hưởng bao trùm của Phật giáo Tiểu thừa (Phật giáo Nam truyền đóng vai trò quốc giáo, chiếm 58% dân số), phản ánh lối sống nhẫn nại, hòa hiếu và triết lý nghiệp báo.
-
Ba vị vua nào trong lịch sử nước Lào được tác giả phân tích có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa và folklore Lào?
Ba vị vua gồm: Khún Bu Lôm (thế kỷ VIII, mở đầu dòng họ vua Lào tại Mường Xoa); Chậu Phà Ngừm (1316-1371, lập quốc gia Lạn Xạng thống nhất năm 1357); và vua Sệt Tha Thi Rạt (1534-1572, dời đô về Viêng Chăn năm 1553, xây chùa Vắt Pha Kẹo và dựng Thạt Luổng năm 1566).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thông là công trình khảo cứu chuyên sâu, đối sánh toàn diện hai kho tàng tục ngữ cổ truyền của người Việt và người Lào Thay trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Bằng việc kết hợp phương pháp thống kê, so sánh thi pháp học với tiếp cận liên ngành văn hóa - lịch sử - địa lý Đông Nam Á, luận án đã làm rõ các quy luật tương đồng của nền văn minh lúa nước cũng như các nét dị biệt phản ánh bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Các kết quả nghiên cứu và tư liệu từ điển trong phụ lục công trình đóng góp thiết thực cho sự phát triển của ngành văn học so sánh, đồng thời củng cố nền tảng hiểu biết văn hóa giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào.