Chương 1: Đôi nét về truyện ngụ ngôn và truyện ngụ ngôn người Việt Chương 2: Phân loại và miêu tả thế giới nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngụ ngôn người Việt. ĐÔI NÉT VỀ TRUYỆN NGỤ NGÔN VÀ TRUYỆN NGỤ NGÔN NGƯỜI VIỆT 1. Truyện ngụ ngôn 1. Khái niệm truyện ngụ ngôn Trong lịch sử nghiên cứu văn học dân gian từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, có nhiều quan niệm và cách định nghĩa về truyện ngụ ngôn.
Truyện ngụ ngôn tuy mang hình thức tự sự nhưng mục đích chủ yếu lại không phải là tự sự. Là một trong những người có vai trò đặt nền móng trong việc sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu và sáng tác về truyện ngụ ngôn Việt Nam, Nguyễn Văn Ngọc cho rằng: Chữ ngụ nghĩa là gá gửi; chữ ngôn nghĩa là nhời nói. Ta dùng hai chữ ngụ ngôn để chỉ cái lối văn, hoặc văn xuôi, hoặc văn vần, thường đặt thành câu chuyện đem kể, rồi nhân câu chuyện mà dẫn những nhời quy châm về luân thường đạo lý để cảm hóa lòng người. Vậy trong ngụ ngôn, câu chuyện kể chỉ là khách, nhời quy châm mới thực là chủ.
Tức như chính một nhà ngụ ngôn xưa đã nói: Câu chuyện kể chỉ là phần “hình hài” bề ngoài, nhời quy châm mới thực sự là cái phần “linh hồn” bên trong (Nguyễn Văn Ngọc, 1927). Với cách hiểu này, Nguyễn Văn Ngọc đã đem lại cái nhìn thích xác đầu tiên về truyện ngụ ngôn. Cùng quan điểm với Nguyễn Văn Ngọc, song tác giả cuốn Bình giải ngụ ngôn Việt Nam khác hơn ở việc trình bày rõ nét, chi tiết và nhấn mạnh hơn về hình thức nghệ thuật được sử dụng trong truyện ngụ ngôn. Đó là lối nói ẩn dụ thể hiện qua việc “không nói thẳng”, là “cách ám chỉ, nói bóng nói gió”.
Trương Chính cho rằng, truyện ngụ ngôn “ Là truyện ngắn hoặc dài, 17 văn xuôi hoặc văn vần, có ngụ ý, có hàm chứa một bài học đạo lí, một nhận xét về thực tế xã hội, một quan niệm triết lí hay nhân sinh mà vì nhiều lí do khác nhau, người ta không nói thẳng, phải dùng cách ám chỉ, nói bóng nói gió” (Trương Chính, 1998). Tiếp đến, trong cuốn Sách giáo khoa môn Ngữ Văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, truyện ngụ ngôn đã được các tác giả định nghĩa là: “Tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, thông qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên những bài học kinh nghiệm về cuộc sống hoặc triết lí nhân sinh” (Phan Trọng Luận, et al. Qua nhận định trên, truyện ngụ ngôn được thể hiện mang tính toàn diện hơn, vừa bảo đảm giá trị nội dung vừa bao hàm cả hình thức nghệ thuật. Vấn đề nghệ thuật được nhấn mạnh ở mặt kết cấu văn bản.
Truyện ngụ ngôn có kết cấu chặt chẽ với hình thức ngắn gọn, súc tích. Bên cạnh đó, định nghĩa còn chỉ rõ, hình tượng loài vật chiếm tỉ lệ lớn nhất trong thế giới nhân vật đa dạng của truyện ngụ ngôn, dù mục đích cuối cùng cũng là mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người, loài người. Theo Bùi Mạnh Nhị trong Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường đã nói rằng “Ngụ ngôn nguyên nghĩa là lời nói có ngụ ý, tức là lời nói có ý kín đáo để người nghe, người đọc tự suy ra mà hiểu (ngụ = hàm chứa ý kín đáo, ngôn = lời nói)”. Và tác giả định nghĩa truyện ngụ ngôn: Là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn truyện nhỏ về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống” (Bùi Mạnh Nhị, 2012).
18 Ở định nghĩa này, quan điểm về truyện ngụ ngôn của tác giả cơ bản giống với các nhận định nêu trên. Tuy nhiên, về nội dung của truyện ngụ ngôn, tác giả thiên về tính giáo huấn nhiều hơn và cho rằng truyện ngụ ngôn “nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống”. Điều này tạo cái nhìn chưa đẩy đủ về giá trị chung của truyện ngụ ngôn vì ngoài tính giáo huấn, hướng con người sống tốt đời, đẹp đạo nó còn có giá trị đấu tranh để góp phần giải phóng con người. Các tác giả trong cuốn Giáo trình văn học dân gian đã nhận định, ngay chính tên gọi của nó (ngụ ngôn) đã hàm chứa ý nghĩa: Bha từ nguồn gốc Ấn Độ có nghĩa là nói, tiếng Hy Lạp có nghĩa là lời kể; Fari hay Fabula tiếng La Tinh có nghĩa là lời kể ngắn, trong tiếng Pháp, Fable tiếng Pháp là truyện kể có bài học luân lí; ngụ ngôn theo tiếng Trung Quốc và Việt Nam là lời kể có ngụ ý bên trong (Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng và Phạm Đặng Xuân Hương, 2016).
Nhìn chung, xét trên tất cả các bình diện thì không xuất hiện ý kiến trái chiều trong quan niệm về truyện ngụ ngôn. Dựa trên cơ sở đó, chúng tôi nhận định chung về truyện ngụ ngôn như sau: Ngụ là ngụ ý, ngôn là lời nói. Ngụ ngôn là loại truyện thông qua một câu chuyện bằng văn xuôi hoặc văn vần mà ở đó các nhận vật chính là con vật, đồ vật, cỏ cây hoa lá, hay chính là con người, và các bộ phận người. để ngụ ý về một vấn đề thuộc về đời sống phong phú, phức tạp của con người.
Cơ sở xã hội của truyện ngụ ngôn Truyện ngụ ngôn cũng giống nhiều thể loại văn học dân gian khác ở chỗ không xác định được mốc thời gian cụ thể về sự ra đời của nó. Trên thế giới, truyện ngụ ngôn đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử. Nhắc đến truyện ngụ ngôn, người ta thường nghĩ đến những cái tên như Trang Tử, Liệt Tử ở Trung 19 Quốc và Êđốp ở Hy Lạp, Pheđơrơ ở thời cổ đại La Mã, Laphôngten ở Pháp- nổi tiếng vào thế kỉ XVII. Dù thể loại ngụ ngôn cũng gắn liền với nhiều tên tuổi nổi tiếng trên thế giới nhưng có thể khẳng định, khởi nguyên của truyện ngụ ngôn là bắt đầu từ cái nôi của văn hóa dân gian, nó phát triển và trưởng thành trong bầu khí quyển của nền văn học dân gian nhân loại.
Truyện ngụ ngôn chắc chắn ra đời sau thần thoại. Truyện cổ tích về loài vật là tiền thân của truyện ngụ ngôn. Theo Lê Chí Quế thì “truyện ngụ ngôn được xây dựng trên cơ sở cốt lõi của truyện cổ tích động vật” (Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, 1990). Tuy nhiên, truyện cổ tích loài vật lại có xuất phát điểm từ những truyện kể có tính chất thần thoại về loài vật.
Đó chính là xã hội loài người trong những buổi đầu nguyên thủy, lúc con người còn mưu sinh bằng săn bắt và hái lượm, công cụ sản xuất thô sơ, đơn giản, kỹ thuật yếu kém, năng suất lao động thấp. Một mặt, họ vừa phải kiếm miếng cơm manh áo, mặt khác trong cuộc đấu tranh sinh tồn, họ phải đối mặt không ít hiểm nguy đến từ một thế giới mà họ coi là siêu linh, huyền bí. Trình độ khoa học lúc này chưa đủ để giải thích về các hiện tượng tự nhiên. Hàng vạn câu hỏi vì sao xuất hiện: tại sao lại có mưa, có gió, có sấm, có chớp? Tại sao con người lại phải chết?.
Giữa biển khơi muôn trùng bí ẩn, thắc mắc mà chưa tìm được lời giải đáp, buộc lòng họ phải tin, phải nghĩ, và phải chắc chắn có một lực lượng siêu nhiên có phép thần thông quảng đại tồn tại song song với thế giới con người. Từ đó các vị thần lần lượt được tôn vinh và ra đời trong thế giới tâm linh con người. Bên cạnh đó là sự xuất hiện những câu chuyện thần thoại trong lòng văn học dân gian nhân loại. Mặt khác, trong cuộc chiến mưu sinh, con người hàng ngày còn phải đối mặt với muôn ngàn hiểm nguy rình rập từ những loài dã thú.
Để chinh phục và vượt qua được chúng, họ buộc phải quan sát, theo dõi và góp nhặt, ghi nhớ từ hình dáng, màu sắc, hơi tiếng, tìm hiểu tập quán sinh hoạt của một số loài vật ít nhiều có liên quan để truyền đạt kinh nghiệm cho đời sau. Về sau, các chuyện đó mất 20 dần tính chất thần thoại và thay bằng truyện cổ tích về loài vật. Khi con người không còn tin vào tính chất lí tính trong mối quan hệ giữa các con vật mà người ta thấy trong các câu chuyện được kể ngày càng tương ứng với xã hội loài người, con vật càng mang rõ nét tính cách như con người thì cũng là lúc truyện cổ tích về loài vật bắt đầu có ngụ ý và tiếp cận truyện ngụ ngôn. Truyện ngụ ngôn ra đời từ đó.
Truyện ngụ ngôn chỉ có thể hình thành với một trình độ phát triển tương đối cao của tư duy loài người. Truyện ngụ ngôn xuất hiện từ rất lâu, có thể mục đích chính ban đầu của nó là giáo dục. Đến khi xã hội có sự phân chia giai cấp, có bóc lột và người bị bóc lột, có kẻ thống trị và kẻ bị trị thì ngụ ngôn trở thành một phương tiện, vũ khí để đấu tranh giai cấp. Lúc này, thế giới loài vật không còn là điều mơ hồ đối với con người mà trở thành những hình tượng văn học, biểu tượng cho số phận, cuộc sống đa dạng phong phú của con người và “Những câu nói bóng gió, kín đáo, những truyện lí thú giữa vật và vật, người và vật, có thể là cái màn che đậy những lưỡi dao, những nhát búa muốn chém phập vào kẻ thù” (Nguyễn Xuân Kính, et al.
Xã hội mà truyện ngụ ngôn xuất hiện phải là xã hội đã có sự phân chia giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, là xã hội đã có sự phân công lao động: lao động trí óc và lao động chân tay. Mục đích ban đầu của truyện ngụ ngôn có thể chỉ mang tính giáo huấn. Nhưng khi xã hội có phân chia giai cấp, mâu thuẫn chưa được giải quyết thì ngụ ngôn trở thành vũ khí đấu tranh. Những thân phận tôi đòi hèn mọn, thấp cổ bé họng giống như những con giun xéo lắm cũng quằn, “tức nước vỡ bờ”, khi nỗi oan ức, thống khổ, sự bóc lột đến tận cùng thì họ sẵn sàng đứng lên đấu tranh.
Song sự lộng quyền của những kẻ cầm quyền đem đến trong họ nỗi lo sợ mà không dám đấu tranh trực tiếp.