Chương 1: Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam đương đại Chương 2: Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư. 16 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY VÀ NGUYỄN NGỌC TƢ TRONG DÒNG CHẢY CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Sự phát triển của truyện ngắn nữ trong văn học Việt Nam đƣơng đại Sau công cuộc đổi mới xã hội và văn chương 1986, truyện ngắn song hành cùng tiểu thuyết trở thành hai thể loại chủ lực đem lại những thành tựu rực rỡ cho nền văn học Việt Nam đương đại. Các cuộc thi truyện ngắn “nổ ra” đã thu hút được nhiều thế hệ nhà văn.
Nhiều cây bút trẻ và các tên tuổi mới xuất hiện: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Tạ Duy Anh, Y Ban, Sương Nguyệt Minh, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái,. Không tự giam hãm hay ép mình trong bất kì một khuôn khổ chật hẹp hay định sẵn nào, truyện ngắn phóng mình, mở rộng về biên độ phản ánh, hình thức thể loại, khuynh hướng nghệ thuật “muôn hồng nghìn tía”: kỳ ảo, hiện thực, lãng mạn, trữ tình, dòng ý thức, triết lý,.; có kiểu truyện ngắn mini (rất ngắn), có kiểu truyện ngắn “mang mầm mống của tiểu thuyết”,. Khi tìm hiểu về văn học Việt Nam đương đại các nhà nghiên cứu bắt đầu nói tới một “nền văn chương mang gương mặt nữ” bởi sự đóng góp mạnh mẽ và đông đảo của đội ngũ các cây bút nữ với nhiều màu sắc, phong cách và cá tính khác nhau: Lê Minh Khuê, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Phong Điệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy,. Lực lượng sáng tác truyện ngắn nữ đương đại không chỉ gây ấn tượng về số lượng mà còn khẳng định được chất lượng - tài năng, tạo được chỗ đứng rất riêng cho mình với những sản phẩm tinh thần có giá trị cao và đặc sắc.
Minh chứng là hàng loạt những giải thưởng của các tác giả nữ ở các cuộc thi hàng năm trên các báo, tạp chí uy tín cũng như của 17 z các hội nghề nghiệp. Đặc biệt là những cơn “địa chấn” làm khuấy đảo đời sống văn học Việt Nam đương đại của các hiện tượng văn học khi tạo ra những hiệu ứng tiếp nhận đa chiều và nhiều tranh cãi như hai tập truyện ngắn Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995) của Phạm Thị Hoài, tác phẩm Bóng đè (2005) của Đỗ Hoàng Diệu, truyện ngắn Cánh đồng bất tận (2005) của Nguyễn Ngọc Tư, và tập truyện I am đàn bà (2006) của Y Ban. Kế thừa và phát huy thành công của văn học Việt Nam giai đoạn trước, các tác giả nữ có một vùng sáng tác phong phú và đa dạng với nhiều chủ đề đề tài khác nhau. Tuy nhiên có thể dễ dàng nhận thấy một số mảng đề tài được các nhà văn nữ đặc biệt quan tâm đó là: quê hương đất nước, chiến tranh – hậu chiến, hôn nhân – gia đình, lập nghiệp và những trăn trở, kiếm tìm để giải mã ý nghĩa cuộc sống.Boris Vasilyev từng nói: “Những cuộc chiến tranh có bắt đầu nhưng chẳng có kết thúc.
Nó dai dẳng trên nước mắt những người vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bị thương. Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thay bằng những luống cày mới, nhưng rất lâu, rất lâu trong mẩu bánh vẫn lưu lại mùi vị chua của bụi đất, thương đau”. Trong nền văn học Việt Nam đương đại, chiến tranh trở thành một “mảnh đất sáng tác” được các tác giả nữ “gieo trồng” đa dạng đầy thấm thía. Không có nhiều trải nghiệm chân thực về cuộc chiến nhưng được sống trong không gian của những tái nhận thức về chiến tranh, họ viết bằng sự đồng cảm, xót xa cho nỗi đau dai dẳng và âm ỉ của cả thời chiến và thời hậu chiến.
Đó là nỗi đau của tình yêu đầu nồng nàn với người liệt sĩ trong quá khứ và sự đau khổ bởi cuộc sống hôn nhân vô vọng và buồn tẻ với người chồng ở hiện tại như nhân vật Ngân trong Những bông bần ly của Dương Thu Hương. Đó là sự vô vọng của hai mươi năm thanh xuân chờ đợi và hy vọng khi những người lính cứ xuất hiện trong cuộc đời họ rồi lại ra đi vĩnh viễn bởi sự tàn khốc của chiến tranh như nhân vật Hai Mật 18 z trong Trên mái nhà người phụ nữ (Dạ Ngân), là sự kiếm tìm người lính mình thương mến nhưng chưa kịp ngỏ lời trong hy vọng mong manh của nhân vật Tuân ở Những giấc mơ có thực (Vũ Thị Hồng). Không khó để bắt gặp hình ảnh những người bà, người mẹ, người vợ,. trong truyện ngắn thời kỳ này với những nỗi đau không thể khỏa lấp khi mất đi những người cháu, những người con, người chồng.
Không chỉ tái hiện nỗi xót xa tột độ khi mất đi “miếng thịt trên đầu quả tim”, mất đi một phần máu thịt mà họ còn phải chịu đựng nỗi khắc khoải, đau đáu kiếm tìm hài cốt thân nhân. Trong Nắng chiều, Thụy Anh phác họa nhân vật người bà đã 80 tuổi, đã kiệt sức sau nhiều năm dài thăm dò tin tức cậu Bình, nhưng vẫn vực dậy, phấn chấn như hồi sinh khi tìm được người tổ chức đoàn vào Quảng Ngãi tìm mộ con, rồi khi biết ngôi mộ được chuyển ra Huế thì tiếp tục lần theo. Bà gặp một bà mẹ liệt sĩ khác, được đề nghị coi là con chung, không làm động đến mồ mả nữa. Rồi chúng ta đau cho nỗi đau của nhân vật, xót xa cho hoàn cảnh cũng nhân vật khi đọc những trang truyện Trận gió màu xanh rêu của Võ Thị Hảo.
Ở đó có người góa phụ trở nên điên dại, không thể đối mặt với sự thật, không tin rằng chồng mình đã chết sau lần định di chuyển mộ mà trong đó là xương đầu nai. Chiến tranh đi qua, tưởng rằng những mất mát, buồn đau, sự chết chóc, bệnh tật,. cũng theo đó mà đi qua. Nhưng không! Di chứng của nó mới thực sự khốc liệt.
Có những người đã đi qua khỏi chiến tranh, tránh thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, họ hy sinh cả tuổi xuân, cả nhan sắc,. đổi lại bình yên cho đất nước nhưng không đổi lại được bình yên cho chính mình. Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, họ chơi vơi và vô định. Tưởng rằng hạnh phúc đã tới tay nhưng họ không thể chạm vào, không dám chạm vào.
Đó là Thảo trong Người sót lại của Rừng Cười của Võ Thị Hảo. Cô là cô gái duy nhất trong năm cô gái còn sống, cô gái duy nhất không mắc “bệnh cười”, cũng là cô gái duy nhất có chàng bạch mã hoàng tử cho riêng mình nhưng cô đã không còn xinh đẹp tràn 19 z đầy sức sống như trước khi bước vào cuộc chiến nữa. Cái cô đã đánh mất chính là cả tuổi xuân của mình. Còn yêu mà cô gái ấy vẫn phải chấp nhận ra đi vì lòng tự trọng không cho phép cô chấp nhận thứ tình yêu khiên cưỡng như một sự thương hại và chịu trách nhiệm, vì “cô không còn thấy lại ánh mắt long lanh vụt sáng mỗi lần Thành gặp cô như ngày xưa” nữa, “Em là người sót lại của Rừng Cười nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em”.
Còn rất nhiều, rất nhiều những số phận đáng thương khác, rất nhiều những nỗi đau chiến tranh khác đã được các tác giả nữ tái hiện bằng tất cả sự trân trọng và cảm thông trong những trang viết của mình. Bên cạnh chiến tranh – hậu chiến, có nhiều truyện viết về hôn nhân, gia đình đó là truyện của các tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần Thùy Mai,… Tuy có những lối kể chuyện khác nhau, xây dựng nhân vật khác nhau với những hoàn cảnh khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều cho ta thấy sự thương cảm của họ trước sự trớ trêu của hoàn cảnh và xã hội đã tước đi hạnh phúc của nhiều người phụ nữ, làm xáo trộn đời sống hôn nhân và gia đình của họ. Đó là bi kịch của sự rạn nứt, đổ vỡ, của sự thiếu khuyết trong đời sống tinh thần. Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai.
Ông Phương - hiệu trưởng một trường Trung học phổ thông có một gia đình yên ấm với cô giáo Hạnh. Cô Hạnh chăm sóc chồng một cách chu toàn và tỉ mỉ theo lối sống cổ điển của người phụ nữ Huế. Cuộc sống của hai người cũng khá êm đềm nhưng cô Hạnh lại bị vô sinh nên cả hai đã bí mật bàn bạc cho ông Phương có người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy – cô Thắm sinh cho ông Phương cu Nhứt.
Rồi chuyện vỡ lở, nhà trường họp bàn kỷ luật ông Phương vì tội hủ hóa. Vợ chồng hai người đã đối phó bằng cách trình đơn li dị và ông Phương kết hôn với Thắm. Cô Hạnh ở lại ngôi nhà cũ, cô cũng thôi dạy học rồi buồn sinh ốm nên cô đi cầu đồng và được khuyên kết hôn với người âm. Khi tới thăm cô Hạnh, ông Phương đã khuyên cô đi dạy trở lại, và 20 z kết thúc việc “mê tín dị đoan” nhưng cô hắt nước vào ông Phương.
Ông bỏ đi, cô đóng cánh cửa như quyết chí sống cùng người âm. Câu chuyện của gia đình ông Phương và cô Hạnh chỉ là một lát cắt rất nhỏ trong những “khối hoàn cảnh” éo le khác của xã hội được các tác giả mang vào trong các tác phẩm của mình. Và để làm phong phú thêm cho văn học Việt Nam đương đại là những tác phẩm viết về những trăn trở, kiếm tìm để giải mã ý nghĩa cuộc sống của Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,…; những câu chuyện xoay quanh vấn đề lập nghiệp trong sáng tác của các tác giả của thế hệ 8x như: Chu Thùy Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, Di Li…; hay đề tài quê hương, đất nước trong tập truyện ngắn Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ, tập Khung trời bỏ lại của các tác giả nữ hải ngoại,.và nhiều truyện, tập truyện ngắn của các tác giả khác. Sự nghiệp sáng tác truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tƣ Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư đến với độc giả với nhiều thể loại khác nhau.
Tuy nhiên những bước ngoặt quan trọng trong con đường sáng tác của hai tác giả đa phần đều xuất phát từ truyện ngắn. Đây cũng là thể loại có nhiều số lượng tác phẩm nhất trong nghiệp sáng tác của họ và để lại những dấu ấn đặc biệt trên đàn văn chương đương thời.