Tổng quan luận án
Đề tài “Nghiên cứu từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Gone with the wind và bản dịch Cuốn theo chiều gió” do nghiên cứu sinh Trần Thị Kim Tuyến thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2016), thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Thị Kim Liên và PGS. Lê Đình Tường. Luận án tiếp cận theo hướng nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng, tập trung vào bình diện ngữ dụng học, ngữ nghĩa học và văn hóa học giao tiếp trong đối chiếu liên ngôn ngữ Anh - Việt.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Trong hoạt động giao tiếp, từ ngữ xưng hô (TNXH) đóng vai trò định vị vai giao tiếp, phản ánh mối quan hệ thứ bậc, quyền uy, khoảng cách thân sơ cũng như thái độ và tình cảm giữa các nhân vật tham gia hội thoại. Giữa tiếng Anh và tiếng Việt tồn tại sự khác biệt sâu sắc về hệ thống và quy tắc sử dụng từ ngữ xưng hô:
- Tiếng Anh sử dụng phổ biến hệ thống đại từ nhân xưng (ĐTNX) mang tính trung hòa về mặt biểu cảm, ngôi thứ rõ ràng nhưng không chứa đựng các phạm trù tôn ti, lịch sự phức tạp trong bản thân đại từ.
- Tiếng Việt sở hữu hệ thống từ ngữ xưng hô đa dạng, giàu sắc thái tu từ và tình cảm; đại từ nhân xưng đích thực bị hạn chế sử dụng trong khi lớp danh từ dùng để xưng hô (DTXH) – đặc biệt là danh từ thân tộc (DTTT) – được đại từ hóa và sử dụng rộng rãi trong cả phạm vi gia đình lẫn ngoài xã hội.
Sự bất đối xứng loại hình và văn hóa này tạo ra thách thức đối với hoạt động chuyển dịch tác phẩm văn học từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Người học và người làm công tác dịch thuật thường gặp khó khăn hoặc mắc lỗi khi xử lý các đơn vị xưng hô do chưa nắm vững cơ chế ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa. Trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, đối chiếu có hệ thống việc chuyển dịch toàn bộ hệ thống từ ngữ xưng hô từ nguyên bản tác phẩm Gone with the wind sang bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Khảo sát từ ngữ xưng hô trong hoạt động sử dụng (vai giao tiếp, thái độ, tình cảm...) qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Gone with the wind (tiếng Anh) và bản dịch Cuốn theo chiều gió (tiếng Việt), từ đó bổ sung tư liệu cho hướng nghiên cứu ngôn ngữ thể hiện quan hệ liên cá nhân.
- Xác định các mối quan hệ liên cá nhân cơ bản và hệ thống từ ngữ xưng hô tương ứng trong tác phẩm nguyên bản; tìm ra những điểm tương đương và không tương đương trong biểu đạt quan hệ liên cá nhân giữa bản gốc tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học ngoại ngữ (tiếng Anh cho người Việt, tiếng Việt cho người nước ngoài) và hoạt động dịch thuật hai chiều Anh - Việt.
Nhiệm vụ của luận án:
- Thống kê, phân loại hệ thống từ ngữ xưng hô (cái biểu đạt và cái được biểu đạt qua các mối quan hệ liên cá nhân) qua lời thoại nhân vật theo quan hệ hai chiều xưng - gọi trong ngữ cảnh tác phẩm Gone with the wind và bản dịch Cuốn theo chiều gió.
- So sánh, tổng hợp từ ngữ xưng hô trong hai văn bản nhằm xác định những điểm tương đồng và khác biệt về số lượng, sự biến đổi theo sắc thái tình cảm, tâm lý, văn hóa và quan hệ liên cá nhân trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
- Xác định nét tương đồng và khác biệt về mô hình quan hệ liên cá nhân được biểu đạt bằng đại từ nhân xưng, danh từ dùng để xưng hô, biểu thức dùng để xưng hô và dạng thức tỉnh lược trong giao tiếp ở bản gốc và bản dịch.
- Đề xuất các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học và dịch thuật Anh - Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng trong giao tiếp ở các ngữ cảnh, qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm nguyên bản và bản dịch.
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát toàn bộ 435 cuộc hội thoại trong tác phẩm Gone with the wind của nữ nhà văn Margaret Mitchell (ấn bản tái bản năm 2005 của Nhà xuất bản Macmillan) và bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió của dịch giả Vũ Kim Thư (ấn bản năm 2009 của Nhà xuất bản Thời Đại). Ngoài ra, luận án sử dụng bản dịch của dịch giả Dương Tường (1987) và Lê Công Thành (1990) để đối chiếu, so sánh mở rộng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tổng quan lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh và tiếng Việt qua các thời kỳ:
Các nghiên cứu về từ xưng hô trong tiếng Anh:
- Roger W. Brown và Marguerite Ford (1961) trong Address in American English phân tích từ xưng hô trong hội thoại dựa trên yếu tố tâm lý xã hội và ba loại hình xưng hô: tên/họ, danh xưng, và gọi tên người vắng mặt.
- Robert W. Hanning (1968) nghiên cứu cách dùng từ xưng hô trong văn hóa trung cổ.
- Lou Quangquinh (1985) nghiên cứu các quy tắc gọi tên dưới góc độ văn hóa - xã hội.
- F. Braun (1988) nghiên cứu các mô hình xưng hô đa ngôn ngữ và đa văn hóa.
- Thái Duy Bảo (1988) trong Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh - Việt chỉ ra tính chất bắt buộc, trung hòa về sắc thái của đại từ nhân xưng tiếng Anh và so sánh với hệ thống xưng hô phức tạp trong tiếng Việt.
- Hwang phân tích đối chiếu từ xưng hô giữa văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Mỹ.
- Eleanor Dickey (1997) nghiên cứu từ xưng hô và các hình thức quy chiếu trong ngữ dụng học.
- Sanae Tsuda (1999) khảo sát vị trí của từ xưng hô trong câu tiếng Anh và tiếng Nhật.
- Chunming Gao (2003) đối chiếu từ xưng hô giữa tiếng Hán và tiếng Anh trên bốn phương diện: tên gọi, danh từ thân tộc, chức danh và đại từ nhân xưng.
- Peter Bull và Anita Fetzer (2006) khảo sát chiến lược dùng từ xưng hô trong phỏng vấn công chức lãnh đạo.
- Chunli Yang (2010), Xiaomei Yang (2010), Qian Chen (2010) đi sâu vào bình diện văn hóa và dịch thuật từ xưng hô tiếng Anh sang tiếng Hán.
- Parrott (2010) nghiên cứu đối chiếu hô ngữ và hình thức xưng hô trực tiếp trong tiếng Nga, tiếng Séc, tiếng Ba Lan và tiếng Anh.
- Cornelia Ilie (2010) nghiên cứu chiến lược xưng hô trong nghị viện Anh và Thụy Điển.
- Prihantoro (2012) khảo sát sự lựa chọn từ xưng hô thân mật của người da đen trong phim Invictus.
- Abdul Khalik (2014) thống kê tỷ lệ sử dụng danh xưng (21,4%), tên (21,4%), họ (7,2%), biệt danh (35,7%), danh xưng kết hợp họ (14,3%) qua lời thoại phim Hitch.
Các nghiên cứu về từ xưng hô trong tiếng Việt:
- Alexandre de Rhodes (1651) trong Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - La tinh bước đầu ghi nhận đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc dùng để xưng hô.
- Trương Vĩnh Ký (1884) trong Grammaire de la langue annamite cung cấp bảng hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt hoàn chỉnh thời kỳ đầu.
- Trần Trọng Kim (1940) trong Việt Nam văn phạm gọi lớp từ này là đại danh từ.
- M. Emeneau (1951) trong Studies in Vietnamese Grammar phân chia đại từ nhân xưng và đại từ cương vị (danh từ thân tộc lâm thời làm từ xưng hô), chỉ ra quy tắc kết hợp số nhiều (chúng + ĐTNX; các + từ cương vị).
- L. Thompson (1965) trong Vietnamese Grammar đề cập đến các mức độ biểu cảm và ba nhân tố tác động đến xưng hô: tình huống, thái độ, cương vị.
- Nguyễn Kim Thản (1963), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đỗ Hữu Châu (1981, 1999, 2000) nghiên cứu từ xưng hô dưới các góc độ từ loại, ngữ nghĩa, chức năng chiếu vật, chỉ xuất và ngữ dụng học giao tiếp.
- Nguyễn Văn Chiến (1991, 1992, 1993) khảo sát sắc thái địa phương, dân tộc học giao tiếp và phân loại xưng hô thành “tương ứng chính xác” và “tương ứng không chính xác”.
- Các công trình chuyên sâu về xưng hô trong gia đình và xã hội của Mai Xuân Huy, Đỗ Thị Kim Liên, Hoàng Kim Ngọc, Bùi Minh Yến, Nguyễn Văn Nở (2000), Trương Thị Diễm (2012), Dương Thị Nụ, Mai Thị Kiều Phượng, Trương Thị Minh Phương (2012), Vũ Minh Hiền (2013), Lã Thị Thanh Mai (2014).
Khoảng trống luận án giải quyết:
Mặc dù các nghiên cứu lý thuyết và đối chiếu từ xưng hô đơn lẻ khá phong phú, việc nghiên cứu quá trình chuyển dịch thực tế toàn bộ hệ thống từ ngữ xưng hô từ một tác phẩm văn học kinh điển tiếng Anh sang tiếng Việt dựa trên thi pháp hội thoại, lý thuyết liên nhân và tính tương đương dịch thuật vẫn chưa được khảo sát thấu đáo. Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua trường hợp cụ thể của tác phẩm Gone with the wind.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm từ ngữ xưng hô (TNXH): Là các phương tiện ngôn ngữ được các nhân vật tham gia giao tiếp sử dụng để tự quy chiếu (xưng) và quy chiếu vào đối tượng tiếp nhận (gọi/hô), gồm hai lớp từ loại chính: đại từ nhân xưng (chuyên dụng) và danh từ dùng để xưng hô (lâm thời chuyển hóa), cùng các biểu thức dùng để xưng hô (BTXH).
- Ba chức năng cơ bản của từ ngữ xưng hô:
- Chức năng định vị (Deixis): Xác định vai giao tiếp (người nói, người nghe, người vắng mặt), định vị không gian, thời gian và vị thế xã hội của các nhân vật (theo quan điểm của J. Lyons, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Thị Kim Liên). Phương thức định vị gồm: lấy mình làm trung tâm và lấy người khác làm trung tâm (phương thức thay ngôi/gọi thay ngôi).
- Chức năng chiếu vật (Reference): Khả năng quy chiếu của các từ ngữ vào đối tượng thực tế trong ngữ cảnh hội thoại (dẫn theo G. Yule, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên).
- Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân (Interpersonal relationship): Thể hiện mối quan hệ liên cá nhân trên hai trục:
- Trục tung (quyền uy / power): Quan hệ dọc biểu thị vị thế xã hội, quyền lực, đẳng cấp, mang tính chất phi đối xứng.
- Trục hoành (thân cận / solidarity): Quan hệ ngang biểu thị khoảng cách xã hội, mức độ thân sơ, tình cảm gia đình, mang tính chất đối xứng.
Luận án phân loại 7 nhóm quan hệ liên nhân: quan hệ thân thiết (yêu đương, vợ chồng), quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, quan hệ thù địch/hận, quan hệ hàng xóm, quan hệ kinh doanh/đối tác, quan hệ chủ - tớ/cấp trên - cấp dưới.
- Lý thuyết dịch thuật và tính tương đương:
- Vận dụng mô hình tương đương động của E. Nida và Ch. Taber; lý thuyết tương đương của Bakhudarov, Koller, Nguyễn Hồng Cổn, Đỗ Hữu Châu, Phan Ngọc, Lê Bá Thự.
- Luận án ứng dụng mô hình của Lê Đình Tường về quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) trong ngôn ngữ nguồn (tiếng Anh) và cái được biểu đạt (signified - quan hệ liên nhân thực tế) được tái hiện bằng các phương tiện biểu đạt trong ngôn ngữ đích (signifier - tiếng Việt).
- Các thao tác chuyển dịch chuyên biệt: thao tác chêm xen/thêm vào (insertion) và thao tác tỉnh lược (ellipsis).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập, phân loại toàn bộ các đơn vị đại từ nhân xưng, danh từ xưng hô, biểu thức xưng hô trong 435 cuộc thoại của hai văn bản.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích ngữ nghĩa lời thoại, hệ quy chiếu, đích giao tiếp gắn với bối cảnh tâm lý, văn hóa, xã hội miền Nam Hoa Kỳ thời kỳ Nội chiến và Tái thiết để lý giải cách dịch sang tiếng Việt.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng ngữ dụng và sắc thái văn hóa của các phương tiện xưng hô trong bản gốc và bản dịch.
- Thủ pháp hệ thống hóa và mô hình hóa: Xây dựng sơ đồ, mô hình hóa quan hệ liên cá nhân và sự chuyển đổi từ loại trong quá trình dịch thuật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương này tổng kết thành tựu nghiên cứu về từ ngữ xưng hô trong tiếng Anh và tiếng Việt; xác lập hệ thống khái niệm công cụ bao gồm: khái niệm từ xưng hô, ba chức năng cơ bản (định vị, chiếu vật, liên nhân), bản chất của hai trục quan hệ liên nhân (trục tung quyền uy và trục hoành thân cận). Chương 1 cũng trình bày lý thuyết tương đương trong dịch thuật, vai trò chi phối của ngữ cảnh văn hóa, các thao tác thêm vào và tỉnh lược, đồng thời giới thiệu bối cảnh xã hội, nhân vật trong tác phẩm Gone with the wind (1936) của Margaret Mitchell và các bản dịch tiếng Việt.
Chương 2. Đại từ nhân xưng qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió
Chương 2 phân tích sự chuyển dịch của hệ thống đại từ nhân xưng ở cả ba ngôi từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Qua khảo sát 435 cuộc thoại, tác giả xác lập bảng tổng hợp số liệu về sự chuyển đổi từ loại và hình thức diễn đạt:
| Ngôi và đại từ tiếng Anh |
Số lần trong bản gốc |
Chuyển dịch thành DTXH trong tiếng Việt |
Chuyển dịch thành ĐTNX trong tiếng Việt |
Tỉnh lược trong tiếng Việt |
Chuyển dịch thành BTXH trong tiếng Việt |
| Ngôi thứ nhất (I, me, we, us) |
6.845 |
1.014 |
4.014 |
1.634 |
183 |
| Ngôi thứ hai (you) |
4.959 |
3.484 |
143 |
1.178 |
154 |
| Ngôi thứ ba (he, him, she, her, they, them) |
3.796 |
1.331 |
1.200 |
915 |
350 |
| Tổng cộng |
15.600 |
5.829 |
5.357 |
3.727 |
687 |
| Tỷ lệ phần trăm |
100% |
37,4% |
34,3% |
23,9% |
4,4% |
Các phát hiện quan trọng của chương 2:
- Tổng số lượng: Bản gốc tiếng Anh xuất hiện 15.600 lượt đại từ nhân xưng. Khi chuyển sang bản dịch tiếng Việt của Vũ Kim Thư, chỉ có 34,3% (5.357 lượt) được dịch tương đương bằng ĐTNX; 37,4% (5.829 lượt) chuyển thành DTXH; 23,9% (3.727 lượt) bị tỉnh lược; 4,4% (687 lượt) chuyển thành BTXH.
- Ngôi thứ nhất: Đại từ số ít (I, me) xuất hiện nhiều nhất. Trong tiếng Việt, dịch giả chủ yếu dùng ĐTNX (tôi, ta, tao, tớ... chiếm 4.014 lượt) hoặc chuyển hóa sang DTTT (con, em, cháu, anh...) tùy theo quan hệ liên nhân cụ thể.
- Ngôi thứ hai: Đại từ you (4.959 lượt) bị chuyển đổi từ loại mạnh mẽ nhất: 3.484 lượt chuyển thành DTXH (chủ yếu là danh từ thân tộc: anh, em, ông, bà, cô, chú, mẹ, con...), chỉ có 143 lượt giữ nguyên dạng ĐTNX (mày, mi, các người...), và 1.178 lượt bị tỉnh lược.
- Hiện tượng tỉnh lược (23,9%): Tiếng Việt tỉnh lược đại từ nhân xưng nhằm tránh lặp từ, rút gọn phát ngôn, phù hợp với văn phong tự nhiên, hoặc biểu thị thái độ quyền uy (bậc trên nói với bậc dưới), thái độ thân mật hay giận dữ.
- Đại từ nhân xưng thêm vào: Khảo sát các trường hợp tiếng Anh không dùng ĐTNX nhưng bản dịch tiếng Việt chủ động chêm xen ĐTNX để đảm bảo cấu trúc ngữ pháp và sắc thái ngữ dụng.
Chương 3. Danh từ dùng để xưng hô qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió
Chương 3 khảo sát và phân loại các tiểu nhóm danh từ xưng hô xuất hiện trong tác phẩm và cách chuyển dịch tương đương:
- Họ và tên riêng: (Scarlett, Rhett, Ashley, Melanie...). Trong tiếng Anh chỉ dùng để gọi ở ngôi thứ hai hoặc nhắc đến ở ngôi thứ ba. Khi chuyển sang tiếng Việt, tên riêng còn được dùng để tự xưng ở ngôi thứ nhất.
- Danh từ thân tộc (DTTT): (Pa, Ma, daughter, son, aunt...). Trong tiếng Anh chỉ giới hạn trong gia đình huyết thống; khi sang tiếng Việt, hệ thống này được mở rộng tối đa ra toàn xã hội (bác, chú, cô, anh, chị, em...).
- Danh từ chỉ tình cảm: (darling, honey, sweetheart, my love...) chuyển thành các từ ngữ biểu cảm tương đương (anh yêu, em yêu, cưng, người yêu dấu...).
- Danh từ chỉ giới tính: (man, woman, boy, girl, lady, gentleman...).
- Danh từ chỉ sự lịch sự: (Sir, Madam, Lady, Miss...) chuyển dịch thành các từ xưng hô tôn kính (thưa ngài, thưa ông, thưa bà, thưa cô...).
- Danh từ vật hóa/nhân hóa: (puss, pet, goose, monkey...).
- Danh từ chức nghiệp, cấp bậc: (Doctor, General, Captain, Mayor...).
- Biểu thức dùng để xưng hô (BTXH): Tổ hợp kết hợp như Mr/Mrs/Miss + Tên/Họ (Miss Scarlett, Mr Wilkes, Mrs Kennedy...).
Chương 3 cũng phân tích hiện tượng danh từ xưng hô được thêm vào trong bản dịch tiếng Việt để làm rõ cương vị xã hội và thang độ lịch sự mà nguyên bản tiếng Anh để ẩn trong ngữ cảnh.
Chương 4. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học và dịch các đơn vị từ ngữ xưng hô
Chương 4 đúc kết các mô hình quan hệ liên cá nhân trong tác phẩm và đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng:
- Xây dựng mô hình quan hệ liên cá nhân hai chiều (xưng - gọi) phản ánh cấu trúc xã hội phương Tây thế kỷ XIX sang cấu trúc ngôn ngữ văn hóa Việt.
- Phân tích các tiêu chí xác định tính tương đương, tính khác biệt và tính sáng tạo của dịch giả trong xử lý từ ngữ xưng hô.
- Đề xuất các bước nhận diện và quy trình chuyển dịch từ ngữ xưng hô tiếng Anh sang tiếng Việt dựa trên việc định vị vai giao tiếp, xác định trục quan hệ (quyền uy hay thân cận) và bối cảnh văn hóa.
- Đề xuất quy trình ứng dụng kết quả vào việc giảng dạy kỹ năng biên dịch và giảng dạy ngôn ngữ thực hành cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh và học viên nước ngoài học tiếng Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát sự chuyển dịch từ ngữ xưng hô từ tác phẩm văn học nguyên bản tiếng Anh (Gone with the wind) sang bản dịch tiếng Việt (Cuốn theo chiều gió) dưới lăng kính kết hợp giữa ngữ dụng học, lý thuyết quan hệ liên nhân và lý thuyết dịch thuật văn hóa.
- Làm sáng tỏ cơ chế chuyển hóa giữa "cái biểu đạt" (hình thức ngôn ngữ) và "cái được biểu đạt" (mối quan hệ liên cá nhân khách quan): chỉ ra rằng đại từ nhân xưng tiếng Anh có tính trung hòa và cố định, khi chuyển dịch sang tiếng Việt buộc phải phân rã thành nhiều lớp từ loại khác nhau (đặc biệt là danh từ thân tộc) để tương đương về mặt ngữ dụng.
- Bổ sung tư liệu cho lý thuyết về chỉ xuất nhân xưng (deixis), lý thuyết hội thoại và tính tương đương động trong dịch thuật văn học giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình văn hóa khác nhau (phương Tây trọng lý/khách quan và phương Đông trọng tình/cộng đồng).
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp bức tranh thống kê định lượng chi tiết với 15.600 lượt ĐTNX qua 435 cuộc thoại, minh chứng cụ thể cho các thao tác chuyển đổi từ loại, chêm xen và tỉnh lược.
- Trong dịch thuật: Đưa ra các quy tắc và lưu ý thực hành giúp dịch giả không bị lệ thuộc vào hình thức ngữ pháp nguyên bản (dịch bám từng từ), biết vận dụng linh hoạt vốn từ thân tộc, danh từ lâm thời và thao tác tỉnh lược để câu văn tự nhiên, thuần Việt mà vẫn bảo toàn giá trị liên nhân của tác phẩm.
- Trong giảng dạy: Cung cấp ngữ liệu và mô hình phân tích cho giảng viên giảng dạy môn Ngữ dụng học, Lý thuyết dịch, Thực hành dịch Anh - Việt và Việt - Anh; giúp người học khắc phục các lỗi xưng hô thô cứng hoặc sai lệch sắc thái biểu cảm trong giao tiếp liên văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu trong một tác phẩm văn học cụ thể (Gone with the wind) và đối chiếu trọng tâm qua một bản dịch chính (Cuốn theo chiều gió của Vũ Kim Thư, có tham chiếu thêm bản dịch của Dương Tường và Lê Công Thành). Do đặc thù tác phẩm phản ánh bối cảnh văn hóa - lịch sử miền Nam Hoa Kỳ thế kỷ XIX, các quy tắc xưng hô mang đậm dấu ấn của thời kỳ Nội chiến và Tái thiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại diễn ngôn khác (diễn ngôn báo chí, chính luận, ngoại giao, phim ảnh hiện đại) hoặc đối chiếu các tác phẩm văn học thuộc nhiều giai đoạn khác nhau để kiểm chứng tính phổ quát của mô hình chuyển dịch quan hệ liên cá nhân.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Cung cấp khung phân tích và nguồn ngữ liệu so sánh đối chiếu hệ thống từ ngữ xưng hô Anh - Việt trên bình diện ngữ dụng và văn hóa.
- Đối với giảng viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ văn, Sư phạm tiếng Anh, Biên - Phiên dịch: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các học phần Ngữ dụng học, Phân tích diễn ngôn, Ngôn ngữ học đối chiếu và Kỹ thuật dịch thuật văn học.
- Đối với dịch giả và người làm công tác dịch thuật: Cung cấp các giải pháp xử lý sự bất tương đồng từ loại trong xưng hô, hướng dẫn kỹ thuật chêm xen và tỉnh lược nhằm nâng cao chất lượng bản dịch văn học.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án dựa trên khung lý thuyết nào để xác định và phân loại các mối quan hệ liên cá nhân trong xưng hô?
Tác giả dựa trên lý thuyết ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu (xác định quan hệ liên cá nhân trên trục tung quyền uy/vị thế xã hội và trục hoành thân cận/khoảng cách) kết hợp với quan điểm của Đỗ Thị Kim Liên về chỉ xuất nhân xưng và chức năng liên nhân, từ đó phân loại 7 nhóm quan hệ: quan hệ thân thiết (yêu đương, vợ chồng), gia đình, bạn bè, thù địch/hận, hàng xóm, kinh doanh và quan hệ tôn ti xã hội/chủ - tớ.
2. Tỷ lệ chuyển dịch các đại từ nhân xưng từ bản gốc sang bản dịch tiếng Việt phân bổ như thế nào?
Từ 15.600 lượt ĐTNX trong bản gốc tiếng Anh, bản dịch của Vũ Kim Thư đã chuyển dịch thành: danh từ dùng để xưng hô (DTXH) chiếm 37,4% (5.829 lượt); giữ nguyên đại từ nhân xưng (ĐTNX) chiếm 34,3% (5.357 lượt); tỉnh lược chiếm 23,9% (3.727 lượt); và biểu thức dùng để xưng hô (BTXH) chiếm 4,4% (687 lượt).
3. Tại sao đại từ ngôi thứ hai "you" lại có sự biến đổi từ loại mạnh mẽ nhất khi dịch sang tiếng Việt?
Trong tiếng Anh, you là đại từ duy nhất dùng cho ngôi thứ hai (không phân biệt số ít/số nhiều, giới tính, tuổi tác, địa vị). Khi sang tiếng Việt, để thể hiện đúng tôn ti, cương vị xã hội và mức độ thân sơ theo văn hóa Việt, you buộc phải chuyển dịch thành các danh từ thân tộc hoặc danh từ chức vị tương ứng (anh, em, ông, bà, cô, chú, ngài, mày...), dẫn đến 3.484 lượt chuyển thành DTXH và 1.178 lượt bị tỉnh lược, chỉ có 143 lượt dịch thành ĐTNX.
4. Vì sao hiện tượng tỉnh lược từ ngữ xưng hô chiếm tới 23,9% trong bản dịch tiếng Việt?
Hiện tượng tỉnh lược xuất phát từ đặc trưng ngữ dụng và văn phong tiếng Việt: giúp câu văn ngắn gọn, tránh lặp từ nặng nề; đồng thời thể hiện các sắc thái biểu cảm đặc thù như quyền uy của nhân vật bậc trên đối với bậc dưới, sự thân mật suồng sã giữa bạn bè thân thiết, hoặc trạng thái cảm xúc giận dữ, căng thẳng trong ngữ cảnh hội thoại.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Kim Tuyến đã giải quyết một cách toàn diện vấn đề chuyển dịch từ ngữ xưng hô từ tác phẩm Gone with the wind sang bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió. Thông qua việc phân tích định lượng 15.600 lượt đại từ nhân xưng và hệ thống danh từ xưng hô trong 435 cuộc thoại, công trình làm sáng tỏ sự chuyển dịch từ hệ thống xưng hô mang tính trung hòa, khách quan của tiếng Anh sang hệ thống xưng hô giàu tính biểu cảm, phân hóa theo ngôi thứ và tôn ti gia đình - xã hội của tiếng Việt. Luận án khẳng định vai trò quyết định của mối quan hệ liên cá nhân và bối cảnh văn hóa trong việc lựa chọn các giải pháp dịch thuật tương đương, mang lại giá trị khoa học thiết thực cho nghiên cứu lý luận ngôn ngữ, giảng dạy và thực hành dịch thuật Anh - Việt.