Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Chương 2. Đại từ nhân xưng qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió Chương 3. Danh từ dùng để xưng hô qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió Chương 4.
Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học và chuyển dịch 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ xƣng hô Cho đến nay, nhiều tác giả đi trước đã đề cập đến vấn đề TNXH (từ ngữ xưng hô) nhưng cách quan niệm về phạm trù xưng hô cũng chưa hoàn toàn thống nhất. Nhìn chung, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu lớp TXH (từ xưng hô) đã thu được những thành tựu đáng kể. Lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh Vấn đề TNXH trong tiếng Anh từ rất lâu đã có nhiều tác giả nghiên cứu: Năm 1961, Brown, Roger W.
và Marguerite Ford trong bài Address in American English đã phân tích TXH trong cuộc hội thoại giữa hai người trong nhiều ngữ cảnh khác nhau với sự tác động từ yếu tố tâm lí xã hội dựa trên mối quan hệ mật thiết của 3 loại TXH (tên hoặc họ để xưng gọi, danh xưng, xưng gọi cho người vắng mặt (tên hoặc họ) [127, tr. Năm 1968, Hanning, Robert W đã đề cập đến những cách sử dụng TXH trong văn hóa học thời trung cổ [135, tr. đã nói đến TXH và những tham chiếu [133, tr. Năm 1985, Lou Quangquinh đã viết về xã hội và văn hóa trong quy tắc gọi tên [138, tr.
Năm 1988, Braun, F đã có bài viết nghiên cứu về những vấn đề về mô hình và cách sử dụng của đa ngôn ngữ, đa văn hóa trong TXH [126]. Cũng trong năm 1988, tác giả Thái Duy Bảo trong Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh - Việt [5] đã đề cập đến ĐTNX và các DTXH trong tiếng Anh. Tác giả viết: “Trong đối thoại tiếng Anh, hình thức sử dụng các ĐTNX được coi là bắt buộc, truyền thống như ĐTNX I, we dùng cho ngôi thứ nhất, chủ thể phát ngôn (xưng) và ĐTNX you dùng cho ngôi thứ hai, đối tượng tiếp nhận là người cùng giao tiếp (gọi). Các ĐTNX này xuất hiện trong mọi tình huống giáo tế, trong mọi quan hệ xã hội có những khác biệt địa vị cao thấp, tuổi tác và mức độ thân sơ xa gần.
Nói cách khác, nó là sự biểu thị mối quan hệ giữa các nhân vật tham gia giao tiếp, giữa người nói và người nghe…” [5, tr. Ngoài ra, tác giả còn nêu rõ đặc điểm các hình thức xưng hô trong tiếng Anh có thể hiện ngôi thứ nhưng không chứa đựng phạm trù lịch sự, cũng như không bị ảnh hưởng bởi những sắc thái giao tiếp khác nhau trong những tình huống giao tiếp khác nhau… Mặc dù, những hình thức xưng hô tiếng Anh thể hiện sự bình đẳng ở các ĐTNX, không thể thay thế bằng các từ hô gọi khác, nhưng trong những bối cảnh hàm súc, căn cứ trên thái độ, tình cảm các nhân vật phát ngôn, ta còn bắt gặp các biến thể tự do của các từ hô gọi lâm thời như gọi tên hoặc các hô ngữ (my love, my pet…). Bên cạnh đó, tác giả cũng nói rõ “Hình thức xưng gọi giữa người 6 nói và người nghe trong tiếng Anh không có nhiều biến thể, có sắc thái trung hòa, có hình thức hô gọi lâm thời căn cứ vào địa vị, vai trò tâm lí giao tiếp của người nói. Dù tính ước lệ nghiêm ngặt của giao tế xã hội thể hiện trong nghi thức nói năng những hành vi ngôn ngữ xã hội trong tiếng Anh không trói buộc người phát ngôn phải tuân theo những qui tắc tâm lí xã hội phức tạp, cầu kì, tế nhị như trong tiếng Việt” [5, tr.
Hwang trong bài Terms of address in Korean and American cultures, đã phân tích những điểm giống nhau và khác nhau được dựa trên những yếu tố văn hóa trong hai ngôn ngữ Hàn Quốc và tiếng Anh Mỹ [149, tr. đã nghiên cứu về tên và các cách miêu tả có cùng tham chiếu qua cách sử dụng ngữ dụng học của người sử dụng ngôn ngữ. Đây là cách tiếp cận mới khi nghiên cứu TXH [125, tr. Năm 1997, Eleanor Dickey đã bàn về TXH và các hình thức qui chiếu của chúng dựa trên mối quan hệ giữa việc dùng tên người và các từ khác trong cách xưng hô và điểm quy chiếu: cách người A xưng hô với người B khác với cách người A nói tới người B như thế nào và yếu tố nào tác động đến sự khác biệt đó.
Việc nghiên cứu được dựa trên sự quan sát và phỏng vấn với mục đích giải quyết vấn đề TXH trong ngữ dụng đã giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng như các đối tượng độc giả quan tâm về tính tham chiếu trong việc sử dụng các cách xưng hô và ngược lại [132, tr. Năm 1999, tác giả Sanae Tsuda cho ra đời bài viết về vị trí của TXH trong tiếng Anh và tiếng Nhật, tác giả đã khẳng định vị trí của TXH trong hội thoại ở cả hai ngôn ngữ được sử dụng theo từng mục đích của nhân vật và giữa chúng có sự khác biệt nổi bật về vị trí của chúng trong câu. Trong tiếng Anh, các TXH thường được đặt ở vị trí cuối câu trong khi trong tiếng Nhật thường ở vị trí đầu câu [147, tr. Năm 2003, Chunming Gao đã nghiên cứu về đối chiếu các TXH giữa tiếng Hán và tiếng Anh.
Tác giả đã cho rằng hình thức xưng hô có vai trò quan trọng giúp cho toàn bộ quá trình giao tiếp được diễn ra suôn sẻ. Trong tiếng Hán và tiếng Anh, hình thức xưng hô có cả sự tương đồng và dị biệt. Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu đối sánh về cách thức xưng hô giữa hai ngôn ngữ Hán - Việt và khẳng định ý nghĩa của đề tài được dựa trên bốn khía cạnh: tên gọi, danh từ thân tộc, chức danh và ĐTNX với những nét văn hóa khắc biệt của chúng [131, tr. Năm 2006, nhóm tác giả Bull, Peter, Fetzer, Anita lại đề cập về chiến lược sử dụng các TXH trong các cuộc phỏng vấn công chức lãnh đạo mà điển hình là những vấn đề xung quanh câu hỏi [128, tr.
Đặc biệt năm 2010, Chunli Yang với bài viết về vấn đề dịch TXH từ tiếng Anh sang tiếng Trung Quốc trong lĩnh vực văn hóa [130, tr. Xiaomei Yang đã viết về những qui tắc chung trong cách sử dụng và một loạt các yếu tố xã hội làm ảnh hưởng đến TXH, cùng những điểm khác biệt của TXH trong những tình huống 7 sử dụng khác nhau [150, tr. Parrott trong bài viết về nghiên cứu đối chiếu các hô ngữ và hình thức xưng hô trực tiếp khác, đã phân tích các hình thức xưng hô trực tiếp trong tiếng Nga đối với các hình thức xưng hô tỉnh lược và xưng hô theo danh tính. Đồng thời, tác giả cũng đã đối chiếu những hạn chế về mặt hình thức và chức năng đối với trường hợp xưng hô tỉnh lược với các từ chỉ xưng hô trong các ngôn ngữ khác (ví dụ tiếng Cộng Hòa Czech và tiếng Ba Lan), và so sánh cách thêm các hình thức xưng hô trực tiếp vào phát ngôn theo tình huống trong tiếng Anh.
Mặc dù có những tương đồng về hình thức và cách sử dụng các hình thức xưng hô trực tiếp giữa tiếng Nga và các ngôn ngữ khác, nhưng những chi phối về ngôn điệu và cú pháp trong tiếng Anh tỏ ra lớn hơn so với tiếng Nga. Cuối cùng tác giả đã khẳng định là trong nghiên cứu đối chiếu về chức năng ngắt câu của các hình thức xưng hô trực tiếp trong tiếng Nga uyển chuyển hơn tiếng Anh [139, tr. Qian Chen đã viết về sự khác biệt về văn hóa trong các hô ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Anh. Tác giả đã nêu ra những nét khác biệt về đặc tính và loại hình của các hô ngữ trong tiếng Hán và tiếng Anh.
Ngoài ra, tác giả còn khẳng định cách xưng hô trong tiếng Hán phức tạp hơn nhiều so với tiếng Anh với nhiều từ dùng để xưng hô và phạm vi sử dụng cũng rộng hơn. Sự khác biệt mang tính văn hóa trong hệ giá trị và ý nghĩa tầng bậc trên dưới, ý nghĩa bình đẳng và thái độ khác nhau đối với vai trò của gia đình có tác động lớn đến cách dùng các từ xưng hô trong tiếng Hán và tiếng Anh [146, tr. Cornelia Ilie đã có bài viết về những chiến lược xưng hô trong Nghị viện mà ở đây là Nghị viện Vương Quốc Anh và Nghị viện Thụy Điển. Tác giả đưa ra mục đích của nghiên cứu này là tìm ra tác động qua lại giữa các cách sử dụng chiến lược từ xưng hô khác nhau trong nghị viện và cách sử dụng diễn ngôn hành chính trong Quốc hội/ Nghị viện Vương quốc Anh và Thụy Điển [129, tr.
Năm 2012, tác giả Prihantoro đã đề cập đến sự lựa chọn TXH: TXH thân mật và sự đánh dấu danh tính của nhóm người da đen Nam Phi trong phim "invictus”. Trong bài viết này, tác giả đã tập trung vào việc lựa chọn cách sử dụng từ xưng hô của những người tham gia qua các cuộc hội thoại. Bên cạnh sự đa dạng, bài viết này cũng cho thấy sự lựa chọn của các dạng TXH được sử dụng bởi 'người da đen' và 'người da trắng' Nam Phi là khác nhau. Tác giả cho rằng, một số trong nhóm các dấu hiệu nhận dạng trong những người da đen được thực hiện bằng TXH thân mật như biệt danh hoặc từ “đồng tâm, đồng chí”.
Trong quá khứ, các TXH được biết đến như là các thiết bị để đấu tranh chống lại hệ thống Apartheid [144, tr. Gần đây nhất, năm 2014, tác giả Abdul Khalik đã nghiên cứu về cách sử dụng TXH trong bộ phim “Hitch”, nhằm giải thích những vấn đề liên quan đến việc 8 sử dụng các hình thức xưng hô và qui mô sử dụng trong xã hội được phản ánh lại từ việc sử dụng các TXH trong giao tiếp. Từ đó, tác giả đưa ra kết quả là có 21,4% sử dụng các danh xưng, 21,4% sử dụng tên, 7,2% sử dụng họ, 35,7% sử dụng các biệt danh và 14,3% sử dụng các danh xưng và họ cùng với sự tác động mãnh liệt của các yếu tố như: thể hiện sự lịch sự, nghiêm túc của các đối tượng, sự tôn trọng, sự thân quen, sự yêu thương và sự nhiệt tình với người nói.