Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay" do nghiên cứu sinh Trần Việt Hà thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (chuyên ngành Lý luận văn học, mã số 9 22 01 20, bảo vệ năm 2019, dưới sự hướng dẫn của TS. Tôn Thị Thảo Miên và TS. Nguyễn Thị Bích Thu). Luận án tập trung khảo sát những chuyển dịch của hệ thống nhân vật trong văn xuôi tiểu thuyết Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, văn xuôi Việt Nam ghi nhận sự thay đổi về tư duy sáng tác và quan niệm nghệ thuật về con người. Khác với chặng đường 1945–1975 và 1975–1986 vốn lấy quan niệm con người mang tính sử thi và đơn trị làm chủ đạo, văn học sau năm 1986 và đặc biệt từ năm 2000 trở đi đã nhìn nhận con người ở tính chất phức tạp, đa chiều. Sự phân rã tính cách, xu hướng phi điển hình hóa cùng sự dịch chuyển từ nhân vật tính cách sang nhân vật tự ý thức, xu hướng tiết giảm số lượng nhân vật để đào sâu chất lượng thể hiện đã đặt ra yêu cầu nhận diện lại bản chất của nhân vật tiểu thuyết.

Năm 2000 đánh dấu mốc chuyển giao thế kỷ với sự xác lập của nền kinh tế thị trường, không gian thương mại cho văn học, tác động của Luật Xuất bản và thị hiếu độc giả. Hàng loạt tác phẩm xuất hiện mở ra những hướng tiếp cận mới: Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) hiện đại hóa và ngoại biên hóa nhân vật lịch sử; Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn) mở đầu cho kiểu nhân vật đồng tính và dòng viết về tính dục; Muối trăm năm (Mường Mán) phơi bày nhân vật tha hóa qua kỹ thuật dòng ký ức; Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức) sử dụng ngôi kể đặc biệt từ lời của một hồn ma để tái hiện số phận con người sau chiến tranh.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các công trình trước đây phần lớn chỉ tiếp cận nhân vật ở diện khái quát chung, khảo sát trên một nhóm tác phẩm hẹp của từng tác giả cụ thể, gộp chung giai đoạn cuối thế kỷ XX với đầu thế kỷ XXI mà chưa phân định ranh giới rõ ràng, hoặc chỉ xem nhân vật là một lát cắt phụ thuộc. Chưa có công trình nào phân loại có hệ thống các loại hình nhân vật đặc thù của 20 năm đầu thế kỷ XXI, chưa phân tích thấu đáo sự giao thoa giữa các loại hình nhân vật và chưa chỉ rõ những điểm kế thừa cùng những đổi mới trong bút pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật đương đại trong thế so sánh với giai đoạn trước.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:

  • Làm rõ các quan niệm đương đại về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay so với nhân vật tiểu thuyết thế kỷ XX.
  • Khái quát hệ thống các loại hình nhân vật và các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng để xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể theo văn bản:

  1. Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu về nhân vật của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam.
  2. Khái lược về đặc trưng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay.
  3. Tìm hiểu các loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay.
  4. Xem xét điểm kế thừa và đổi mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật ở tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay trong quá trình đổi mới và hội nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay của các tác giả tiêu biểu.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các tác phẩm tiểu thuyết trong 20 năm đầu thế kỷ XXI của các tác giả: Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Đình Tú, Thuận, Nguyễn Bắc Sơn, Phong Điệp, Đỗ Phấn, Di Li, Tạ Duy Anh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý luận và tiểu thuyết nước ngoài

Tác giả luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu lý thuyết về nhân vật:

  • Quan niệm truyền thống và tiểu thuyết tiền hiện đại: Meyer Howard "Mike" Abrams (A Glossary of Literature Terms) định nghĩa nhân vật thông qua phẩm chất đạo đức, tính cách, xúc cảm bộc lộ qua lời nói và hành động; Gennady Nhicolaevich Pospelov (Dẫn luận nghiên cứu văn học) nhấn mạnh nhân vật là phương diện hàng đầu của hình thức nghệ thuật để thể hiện tư tưởng; Konstantin Aleksandrovich Fedin xem nhân vật là công cụ nhận thức; Aristotle (Nghệ thuật thơ ca) bàn về tính tất yếu và tính khả nhiên của tính cách; Mikhail Mikhailovich Bakhtin (Những vấn đề thi pháp của Dostoievski) chỉ rõ trong tiểu thuyết tiền hiện đại kiểu Balzac, nhân vật chịu sự chi phối độc thoại của tác giả, mang tính đơn thanh và tĩnh tại.
  • Tiểu thuyết hiện đại: Bakhtin phân tích mô hình nhân vật của Fyodor Mikhailovich Dostoevsky như một chủ thể tự ý thức, "con người trong đường hầm", lời nói mang tính đa thanh, phức điệu và đối thoại bình đẳng với tác giả.
  • Tiểu thuyết hậu hiện đại và Tiểu thuyết Mới: Nathalie Sarraute (Kỷ nguyên nghi ngờ) chủ trương phá vỡ nhân vật tính cách truyền thống, xóa nhòa đường viền nhân thân để khám phá tiềm thức; Alain Robbe-Grillet (Ghen) loại bỏ phân tích tâm lý cổ điển, sử dụng ngôi kể phi cá tính; Milan Kundera (Nghệ thuật tiểu thuyết) xem nhân vật là "cái tôi thực nghiệm"; Boris Suskov (Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực) và Liviu Petrescu (Thi pháp hậu hiện đại) khẳng định nhân vật là phạm trù trần thuật trung tâm; M. H. Abrams phân chia "nhân vật dẹt" và "nhân vật tròn"; Carlo Ginzburg đề xuất nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật loại hình.

Các hướng nghiên cứu về nhân vật tiểu thuyết tại Việt Nam

Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nghiên cứu về đổi mới tiểu thuyết sau 1975 và thời kỳ Đổi mới: Nguyễn Thị Bình (Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay), Nguyễn Bích Thu (Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Văn học Việt Nam hiện đại sáng tạo và tiếp nhận), Trần Thị Mai Nhân (Những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỷ XX), Bùi Việt Thắng (Phía trước của tiểu thuyết, Hiện trạng tiểu thuyết, Về dòng tiểu thuyết "thân xác" trong văn học Việt Nam thập niên đầu TK XXI). Các tác giả ghi nhận sự chuyển dịch từ con người sử thi sang con người đời tư, số phận bi kịch cá nhân và con người tha hóa.
  • Nghiên cứu về tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI theo các khuynh hướng lý thuyết:
    • Góc nhìn tự sự học và thi pháp học: Hoàng Cẩm Giang (Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, Các khuynh hướng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn cấu trúc thể loại) chỉ ra hai xu hướng "phức thể hóa" và "tiết giản hóa" nhân vật qua ba cấp độ (tâm lý - tính cách, thân phận - hành động, chức năng tự sự); Phạm Xuân Thạch phân loại nhân vật lịch sử thành chủ thể, nạn nhân và kẻ quan sát/chứng nhân; Nguyễn Thị Kim Tiến (Về kiểu "ẩn danh" nhân vật); Đỗ Hải Ninh (Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại); Vũ Thị Hạnh (Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà nữ hải ngoại đương đại); Nguyễn Thị Ninh (Kết cấu tiểu thuyết Việt Nam đương đại); Lại Nguyên Ân (Khi quyền kể chuyện được trao cho nhân vật); Văn Giá (Nhân vật văn học tìm tòi và sáng tạo); Nguyễn Văn Tùng nghiên cứu hiện tượng tẩy trắng nhân vật.
    • Góc nhìn Hậu hiện đại: Thái Phan Vàng Anh (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại); Nguyễn Thị Bình (Đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại: lối viết hậu hiện đại); Nguyễn Thị Lan Anh (Nhân vật mang dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam) chia nhân vật thành 5 loại: lạc lõng cô đơn dẫn đến tha hóa, dị biệt, huyền ảo tâm linh, đấng tối cao, các vai diễn mới; Vương Hồng Dũng (Phạm trù nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam theo xu hướng hậu hiện đại) bàn về nhân vật ngoại biên và ngụy tạo.
    • Góc nhìn Phân tâm học và Mỹ học: Văn Thị Phương Trang (Tiểu thuyết Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn phân tâm học); Nguyễn Thái Hoàng (Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi đương đại Việt Nam); Huỳnh Thị Thu Hậu (Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012).

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các công trình trên đã mở ra nhiều hướng tiếp cận, phần lớn vẫn khảo sát đơn lẻ từng tác giả, gom chung giai đoạn hoặc chỉ tập trung vào một hệ hình lý thuyết riêng biệt (chỉ xét hậu hiện đại, phân tâm học hoặc nghịch dị). Luận án xác định khoảng trống cần giải quyết: xây dựng một bức tranh toàn diện và hệ thống về các loại hình nhân vật trong 20 năm đầu thế kỷ XXI, phân tích sự giao thoa loại hình, chỉ rõ các phương thức chuyển giao ngôi kể, vai trò của tính dục như một ký hiệu văn hóa, và các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong mối tương quan kế thừa và cách tân so với giai đoạn trước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết văn học đa tầng:

  • Thi pháp học tự sự và Lý thuyết đối thoại của M. Bakhtin: Sử dụng các khái niệm về tính đa thanh, tính phức điệu, nhân vật tự ý thức và mối quan hệ đối thoại giữa người kể chuyện với nhân vật.
  • Lý thuyết Tiểu thuyết Mới và Thi pháp Hậu hiện đại: Quan niệm giải trung tâm hóa, phi nhân cách hóa, phân rã tính cách, mờ hóa/tẩy trắng nhân vật của Nathalie Sarraute, Alain Robbe-Grillet, Milan Kundera và Liviu Petrescu.
  • Mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss: Khung phân tích về "tầm đón đợi" của người đọc dựa trên ba yếu tố: sáng tạo (poiesis - khoái cảm sáng tác), cảm xúc thẩm mỹ (aisthesis - khoái cảm tiếp nhận), thanh lọc (catharsis - thái độ tiếp nhận) và khái niệm "người đọc tiềm ẩn".
  • Lý thuyết quan niệm nghệ thuật về con người của Trần Đình Sử: Con người như một chỉnh thể nghệ thuật thể hiện thái độ, cách cắt nghĩa hiện thực của nhà văn.
  • Lý thuyết văn hóa đại chúng (Popular Culture / Mass Literature): Khung lý thuyết của John Storey và nhận định của Nguyễn Đăng Điệp về văn hóa đại chúng, sự tương tác giữa truyền thông và thị trường xuất bản.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thao tác thống kê:

  • Phương pháp loại hình: Xác định các tiêu chí phân lập, nhận diện đặc trưng và phân loại các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết đương đại.
  • Phương pháp hệ thống: Tập hợp, xử lý và xâu chuỗi các hiện tượng nhân vật trong mối liên hệ cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm và tiến trình văn học.
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích các yếu tố hình thức nghệ thuật, phương thức trần thuật, ngôn ngữ, điểm nhìn và thời không nghệ thuật xây dựng nhân vật.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các biểu hiện của nhân vật trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI với giai đoạn 1945–1975 và 1986–2000 để xác định tính kế thừa và nét đổi mới.
  • Các thao tác bổ trợ: Phân tích văn bản, tổng hợp, thống kê quy mô số trang, số lượng nhân vật và khảo sát ngữ liệu ngôn ngữ thân xác.

Nguồn ngữ liệu và dữ liệu khảo sát

Luận án khảo sát các tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu từ năm 2000 đến 2019, bao gồm:

  • Nhóm tác phẩm thể nghiệm nghệ thuật và đổi mới thi pháp: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, Hoang tưởng trắng (Nguyễn Xuân Khánh); Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Những đứa con rải rác trên đường, Tranh Van Gogh mua để đốt, Đức Phật, nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái); Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương); Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn, Ba ngôi của người, Thị dân tiểu thuyết (Nguyễn Việt Hà); Kín, Xác phàm (Nguyễn Đình Tú); Vân Vy, Chinatown, Paris 11 tháng 8 (Thuận); Luật đời và cha con, Lửa đắng, Gã tép riu, Vỡ vụn (Nguyễn Bắc Sơn); Ga ký ức (Phong Điệp); Gần như là sống, Rụng xuống ngày hư ảo, Vệt gió, Con mắt rỗng, Vắng mặt (Đỗ Phấn); Trại hoa đỏ (Di Li); Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh).
  • Nhóm tác phẩm thuộc các khuynh hướng lịch sử, đại chúng, thân xác: Ba người khác (Tô Hoài); Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức); Muối trăm năm (Mường Mán); Một thế giới không có đàn bà, Les - vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A.Kinsey (Bùi Anh Tấn); Thân xác (A Sáng); @tình, Chuyện tình mùa tạp kỹ (Lê Anh Hoài); Bờ xám (Vũ Đình Giang); Tiểu Long Nữ, Gạ tình lấy điểm (Nguyễn Huy Thiệp); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Minh sư (Thái Bá Lợi); Đức thánh Trần (Trần Thanh Cảnh); Ngô Vương (Phùng Văn Khai); Trăn trở hoàng hôn (Lê Khắc Hoan)...
  • Nhóm tác phẩm quy mô sử thi: Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Ngày rất dài (Nam Hà), Từ Dụ thái hậu (Trần Thùy Mai), Con ngựa Mãn Châu (Nguyễn Quang Thân), Bí mật Tam giác vàng (Nguyễn Như Phong), Đàn trời (Cao Duy Sơn)...

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các thành tựu lý luận trong và ngoài nước về nhân vật tiểu thuyết:

  • Điểm lại các cột mốc lý thuyết nước ngoài từ mỹ học Aristotle, chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX (Balzac, Tolstoy), đến thi pháp tiểu thuyết phức điệu của Bakhtin (Dostoevsky), quan niệm của nhóm Tiểu thuyết Mới (Sarraute, Robbe-Grillet) và các tác giả hậu hiện đại thế giới (Kundera, Calvino, Garcia Márquez, Coetzee...).
  • Đánh giá các công trình nghiên cứu nhân vật tiểu thuyết tại Việt Nam qua các thời kỳ, phân loại các công trình theo hướng tiếp cận thi pháp học, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, mỹ học nghịch dị và lý thuyết hậu hiện đại.
  • Xác định điểm dừng của các nghiên cứu đi trước và xác lập vị trí của đề tài luận án.

Chương 2: Chuyển đổi cách nhìn về tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay

Chương 2 phân tích các điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội và các chuyển biến trong tư duy nghệ thuật:

1. Điều kiện dẫn đến thay đổi về nhân vật trong tiểu thuyết đương đại

  • Bối cảnh xã hội và công nghệ: Sự phát triển của kinh tế thị trường, đô thị hóa và công nghệ truyền thông; sự chuyển dịch sang xã hội kỹ trị theo kiến giải của Erich Fromm (nguy cơ con người bị máy móc hóa, biến thành công cụ, khủng hoảng bản thể).
  • Sự chuyển dịch của bạn đọc (Mỹ học tiếp nhận): Người đọc thế kỷ XXI chuyển từ tiếp nhận đơn nghĩa sang đa nghĩa, tham gia đồng sáng tạo với nhà văn dựa trên vốn năng lực thẩm mỹ (poiesis, aisthesis, catharsis); nhu cầu tiếp nhận đa kênh thông tin đòi hỏi tiểu thuyết phải tạo ra các "khoảng trống" (theo thảo luận của Chu Lai, Ma Văn Kháng, Hữu Thỉnh tại Hội nghị Đổi mới tư duy tiểu thuyết năm 2002).
  • Quan niệm nghệ thuật về con người:
    • Con người đời tư - thế sự, phi sử thi hóa: Thay thế con người công cụ xã hội thuần túy bằng con người trong các quan hệ đời thường phức tạp.
    • Con người tự nhiên - bản năng: Khai thác sâu khát khao nhục cảm và nhu cầu thể xác (xuất hiện trong văn phẩm của Thuận, Đỗ Phấn, Lê Anh Hoài, A Sáng).
    • Con người tâm linh: Miêu tả con người đối diện với cõi vô thức, trực cảm, sám hối, tự vấn lương tâm để tìm lại sự cân bằng (nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Đình Tú).
    • Con người đa tính cách, tổn thương tâm lý: Miêu tả những nhân vật mang vết thương quá khứ, khủng hoảng nhân cách (như nhân vật cô bác sĩ tâm lý trong Ga ký ức của Phong Điệp).

2. Một số vấn đề chung về tiểu thuyết và nhân vật

  • Tư duy tiểu thuyết thiên về văn học đại chúng (mass literature): Dưới tác động của thị trường, truyền thông và mạng xã hội, tiểu thuyết đương đại tiếp nhận mạnh mẽ các thể loại giải trí (ngôn tình, trinh thám, kinh dị, kỳ ảo), sử dụng thủ pháp lai ghép thể loại (kết hợp văn xuôi với thơ, ca từ, hát văn, kịch bản, email, ghi chép thông tấn), ngôn ngữ suồng sã, tiếng lóng mạng xã hội và thủ pháp giễu nhại (như sáng tác của Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên).
  • Tư duy tiểu thuyết mang tính cộng sinh và ba mô hình tiểu thuyết:
Mô hình tiểu thuyết Đặc điểm kết cấu & thi pháp Thế giới nhân vật tiêu biểu Tác phẩm tiêu biểu khảo sát
Mô hình truyền thống Quy mô đồ sộ (500–3500 trang), kết cấu tuyến tính khép kín, cốt truyện hoàn kết, người kể chuyện toàn tri mang tính đơn âm. Nhân vật phân tuyến rạch ròi (chính diện/phản diện), tính cách nhất quán, mang tính đại diện cộng đồng, sử thi. Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Ngày rất dài (Nam Hà), Từ Dụ thái hậu (Trần Thùy Mai), Con ngựa Mãn Châu (Nguyễn Quang Thân).
Mô hình kết hợp truyền thống và cách tân Kết cấu linh hoạt, kết hợp trần thuật lịch sử với hư cấu, giải thiêng, đan cài yếu tố tâm linh, dòng ký ức. Nhân vật lịch sử dưới góc nhìn thế sự đời thường, nhân vật bi kịch gia đình, nhân vật chấn thương sau chiến tranh, nhân vật thân xác. Ba người khác (Tô Hoài), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Muối trăm năm (Mường Mán), Minh sư (Thái Bá Lợi).
Mô hình cách tân (Hậu hiện đại) Cốt truyện phân mảnh, phi tuyến tính, kết cấu mở, lắp ghép, dòng ý thức, đa điểm nhìn. Nhân vật tự ý thức, nhân vật bị tẩy trắng/mờ hóa, phản nhân vật, nhân vật dị biệt, hoài nghi bản thể. Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Chinatown (Thuận), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh).
  • Hiện tượng rút giảm quy mô và nhân vật: Luận án lập bảng khảo sát chứng minh xu hướng rút giảm số lượng nhân vật tỷ lệ thuận với sự rút giảm quy mô số trang của tiểu thuyết đương đại để tập trung đào sâu cấu trúc tâm lý nội tại (Bảng 1 trong văn bản).

Chương 3: Loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay

Chương 3 đi sâu phân tích 5 loại hình nhân vật chủ đạo:

HỆ THỐNG LOẠI HÌNH NHÂN VẬT ĐƯƠNG ĐẠI
  • 1. Loại hình nhân vật lý tưởng: Khảo sát sự biến chuyển của mẫu nhân vật lý tưởng. Nhân vật không còn hoàn hảo tuyệt đối theo khuôn mẫu sử thi cổ điển mà được đặt trong những thử thách đời thường, có những dằn vặt, trăn trở và đối thoại nội tâm.
  • 2. Loại hình nhân vật bi kịch: Tập trung miêu tả số phận những con người bước ra từ chiến tranh mang di chứng chấn thương tinh thần; bi kịch cá nhân giữa khát vọng và thực tại, bi kịch đánh mất chính mình và sự bất lực trước hoàn cảnh sống.
  • 3. Loại hình nhân vật tha hóa: Khắc họa sự suy đồi nhân cách do tác động của cơ chế thị trường, ma lực đồng tiền và sự bất tín nhận thức; phân tích quá trình tha hóa từ suy nghĩ đến hành vi phản bội, lọc lừa (như các nhân vật trong tiểu thuyết của Mường Mán, Nguyễn Bắc Sơn).
  • 4. Loại hình nhân vật hiện sinh: Phân tích các trạng thái vong thân, nỗi cô đơn bản thể, cảm giác phi lý, nỗi ám ảnh về cái chết và ý thức dấn thân lựa chọn số phận của con người giữa không gian sống đô thị hiện đại.
  • 5. Loại hình nhân vật dị biệt: Nghiên cứu các nhân vật lệch chuẩn xã hội, nhân vật đồng tính, nhân vật tâm thần/điên loạn, nhân vật nghịch dị hoặc mang năng lực tâm linh bí ẩn (nhân vật trong sáng tác của Bùi Anh Tấn, Huỳnh Thị Thu Hậu, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh).

Chương 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay

Chương 4 phân tích các thủ pháp thi pháp nghệ thuật đặc thù:

  • Quá trình chuyển giao ngôi kể: Khảo sát việc từ bỏ điểm nhìn toàn tri duy nhất để chuyển quyền kể chuyện cho nhân vật. Sử dụng kỹ thuật đa ngôi kể, trần thuật từ ngôi thứ nhất biến ảo, lời kể từ những vị trí đặc biệt như hồn ma (Bến đò xưa lặng lẽ - Xuân Đức) hay một bào thai chưa sinh (Thiên thần sám hối - Tạ Duy Anh).
  • Tính dục như là một ký hiệu văn hóa: Phân tích sự xuất hiện của ngôn ngữ thân xác và nhục cảm không thuần túy là miêu tả sinh lý học mà đóng vai trò như một ký hiệu văn hóa để giải mã bản năng, khát vọng tự do và tình trạng cô đơn của con người. Luận án thống kê các trường hợp điển hình qua Bảng 2 về ngôn ngữ nhục thể.
  • Một số phương cách biểu đạt đáng chú ý về nhân vật:
    • Thủ pháp mờ hóa, tẩy trắng nhân vật (xóa bỏ tên gọi cụ thể, nghề nghiệp, lai lịch rõ ràng để biến nhân vật thành biểu tượng, ý niệm).
    • Nghệ thuật nghịch dị, lắp ghép, giễu nhại và đồng hiện thời không.
    • Sử dụng kỹ thuật dòng ý thức và độc thoại nội tâm.
  • Những tương giao trong ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ đối thoại đa thanh, phức điệu; sự thâm nhập của ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ mạng, tiếng lóng, tạo nên tính dân chủ và đối thoại trong cấu trúc tự sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Luận án tự xác định 3 đóng góp khoa học chính:

  1. Về mặt lý luận và phân loại: Nhận diện và hệ thống hóa các loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay trong tương quan so sánh với tiểu thuyết thế kỷ XX, từ đó bổ sung những kiến giải lý luận về sự vận động của nhân vật tiểu thuyết trong nền văn học đương đại.
  2. Về mặt thi pháp và nghệ thuật: Đánh giá có hệ thống những điểm kế thừa truyền thống và những cách tân trong bút pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật (chuyển giao ngôi kể, ký hiệu hóa tính dục, tẩy trắng nhân vật, ngôn ngữ phức điệu) của các nhà văn Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập với văn học thế giới.
  3. Về khả năng dự báo: Bước đầu lý giải xu hướng và khả năng phát triển của các loại hình nhân vật tiểu thuyết trong tương lai.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

  • Ý nghĩa lý luận: Góp phần hoàn thiện lý thuyết về thi pháp nhân vật tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập; cung cấp các tiêu chí phân loại loại hình nhân vật phù hợp với văn học đương đại.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp nguồn tư liệu nghiên cứu, hệ thống dẫn chứng và bảng biểu phân tích cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại tại các trường đại học, viện nghiên cứu; hỗ trợ giới phê bình văn học trong việc thẩm định tác phẩm mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi 20 năm đầu thế kỷ XXI ở nhóm các tác giả tiêu biểu có nhiều tìm tòi thể nghiệm (Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Đình Tú, Thuận, Nguyễn Bắc Sơn, Phong Điệp, Đỗ Phấn, Di Li, Tạ Duy Anh). Do dung lượng và số lượng xuất bản của tiểu thuyết đương đại rất lớn, công trình chưa thể bao quát toàn bộ mọi tác phẩm của các cây bút trẻ mới xuất hiện trên thị trường xuất bản trực tuyến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát sự biến đổi của nhân vật trong các dòng tiểu thuyết mạng, tiểu thuyết tự xuất bản kỹ thuật số và khảo cứu sâu hơn các chiều kích loại hình nhân vật mới nảy sinh từ tương tác văn hóa toàn cầu hóa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lý thuyết tự sự học, thi pháp học nhân vật, mỹ học tiếp nhận và phương pháp tiếp cận loại hình nhân vật đương đại.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Cung cấp hệ thống ngữ liệu văn bản chi tiết về tiểu thuyết Việt Nam 20 năm đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là các phân tích chuyên sâu tại Chương 3 (5 loại hình nhân vật) và Chương 4 (nghệ thuật xây dựng nhân vật).
  • Đối với giới phê bình và biên tập viên xuất bản: Hỗ trợ công cụ lý luận để nhận diện các khuynh hướng thẩm mỹ, phân loại và đánh giá các thể nghiệm tiểu thuyết mới trên thị trường sách hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia nhân vật tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thành những loại hình cụ thể nào?

Tại Chương 3, tác giả phân chia thế giới nhân vật tiểu thuyết đương đại thành 5 loại hình chính:

  1. Loại hình nhân vật lý tưởng
  2. Loại hình nhân vật bi kịch
  3. Loại hình nhân vật tha hóa
  4. Loại hình nhân vật hiện sinh
  5. Loại hình nhân vật dị biệt

2. Tác giả luận án nhận định như thế nào về sự cộng sinh của các mô hình tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI?

Luận án chỉ ra rằng tư duy tiểu thuyết Hiện đại và Hậu hiện đại tồn tại song song, hình thành nên sự cộng sinh của 3 mô hình tiểu thuyết:

  • Mô hình truyền thống: Tiểu thuyết sử thi quy mô lớn, kết cấu tuyến tính, nhân vật phân tuyến rõ ràng (Tám triều vua Lý, Sông Côn mùa lũ).
  • Mô hình kết hợp truyền thống và cách tân: Tiểu thuyết thế sự, đời tư, giải thiêng lịch sử, khai thác nhân vật thân xác (Ba người khác, Mẫu thượng ngàn, Minh sư).
  • Mô hình cách tân (hậu hiện đại): Tiểu thuyết phân mảnh, kết cấu mở, nhân vật tự ý thức và bị tẩy trắng (Người đi vắng, Cơ hội của Chúa, Chinatown).

3. Yếu tố tính dục được luận án luận giải dưới góc độ lý thuyết nào trong nghệ thuật xây dựng nhân vật?

Tại Chương 4, tính dục được tác giả luận giải như một "ký hiệu văn hóa". Luận án khẳng định việc miêu tả thân xác và hành vi bản năng không đơn thuần là yếu tố sinh lý học phục vụ giải trí, mà là phương thức nghệ thuật để giải mã chiều sâu bản thể con người, biểu đạt khát vọng tự do, nhu cầu giải tỏa áp lực tâm lý và phản ánh tình trạng cô đơn, tha hóa của con người trong xã hội hiện đại.

4. Luận án sử dụng những tác giả và tác phẩm cụ thể nào làm ngữ liệu khảo sát trọng tâm?

Luận án khảo sát tiểu thuyết của 11 tác giả tiêu biểu trong 20 năm đầu thế kỷ XXI gồm: Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn), Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột), Nguyễn Bình Phương (Người đi vắng), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), Nguyễn Đình Tú (Kín, Xác phàm), Thuận (Vân Vy, Chinatown), Nguyễn Bắc Sơn (Luật đời và cha con, Gã tép riu), Phong Điệp (Ga ký ức), Đỗ Phấn (Gần như là sống, Vệt gió), Di Li (Trại hoa đỏ), Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến nay" của tác giả Trần Việt Hà là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận văn học, làm rõ những biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người và kỹ thuật xây dựng nhân vật văn xuôi đương đại. Thông qua việc vận dụng lý thuyết tự sự học, mỹ học tiếp nhận và thi pháp học hậu hiện đại, luận án đã phân lập 5 loại hình nhân vật chủ đạo và hệ thống hóa các cách tân trong nghệ thuật trần thuật, chuyển giao ngôi kể và ngôn ngữ phức điệu. Công trình cung cấp cái nhìn khoa học, hệ thống về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, đóng vai trò là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy văn học.