CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi điểm lại những quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết nói chung và trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI nói riêng. Từ đó xác định rõ những vấn đề chúng tôi nghiên cứu và tiếp tục trình bày ở những chương sau của luận án 1. Tổng quan nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về nhân vật Nhân vật theo quan niệm truyền thống được coi là hình ảnh của con người cụ thể trong tác phẩm văn học.
Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài xem vấn đề nhân vật là một nội dung cốt lõi của văn học và đã có kiến giải cụ thể. Tác giả Meyer Howard "Mike" Abrams (A Glossary of Literature terms) quan niệm nhân vật là “người được giải thích bởi độc giả như là người cung cấp những phẩm chất đạo đức, tính cách, xúc cảm được biểu hiện bằng lời nói - tức đối thoại, bằng việc làm - tức hành động” [158, tr. Như vậy, nhân vật văn học là con người trong tác phẩm hoặc là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người… để biểu hiện các vấn đề của con người. Khi viết Dẫn luận nghiên cứu văn học, Gennady Nhicolaevich Pospelov đã cho rằng việc sáng tạo nhân vật được xem như có tầm quan trọng hàng đầu.
Theo ông, nhân vật “là một mặt của hình thức nghệ thuật của văn học, gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ khăng khít nhất và với mục đích thuyết minh cho tư tưởng của tác phẩm” [101, tr.20], là "phương diện tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng", "là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm ấy quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, phương tiện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa" [101, tr. Quan niệm trên đã cho thấy sự hiện hữu của nhân vật cho dù ở quy mô, mức độ, hình thức nào cũng có tầm ảnh hưởng quyết định tới giá trị của tác phẩm văn học. Còn người đọc về cơ bản luôn bám vào các hình tượng nhân vật như là một cơ sở đầu tiên để cảm thụ và tiếp nhận những nỗ lực sáng tạo, cảm hứng nghệ thuật của người sáng tác. Thông qua ngôn ngữ và hành động của 6 mình, các nhân vật văn học đã bộc lộ được nét nhân cách, những thái độ về thế giới xung quanh hay những suy tư về ý nghĩa sự tồn tại của bản thân.
Thông qua những liên hệ suy ngẫm soi chiếu từ nhân vật, người đọc còn bao quát được những vấn đề con người của mỗi thời đại. Vì thế mà Konstantin Aleksandrovich Fedin còn cho rằng “nhân vật là một công cụ nhận thức” nữa [109, tr. Điều này chứng tỏ sức tác động mạnh mẽ của nhân vật văn học trong quá trình tiếp nhận, nhận thức của người đọc. Đồng thời nhà văn đã sử dụng nhân vật như là một phương tiện hiệu quả để gửi gắm chiêm nghiệm về cuộc sống con người và quá trình vận động của xã hội.
Chẳng hạn, thông qua kiểu nhân vật con người thừa, con người nhỏ bé ở sáng tác của Fyodor Mikhailovich Dostoevsky, của Anton Pavlovich Chekhov trong văn học Nga cuối thế kỉ XIX, người đọc có thể hình dung về một xã hội chuyên chế, hà khắc, tàn bạo, bóp nghẹt đời sống xã hội. Hay qua kiểu nhân vật thuộc về thế hệ mất mát trong sáng tác của Ernest Miller Hemingway, Francis Scott Key Fitzgerald, Jonh Dos Passaos, William Faulkner… có thể thấy những tổn thương tinh thần, khủng hoảng niềm tin trong xã hội tư bản Âu Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ II… Như vậy điểm thống nhất chung về nhân vật là ở chỗ: nhân vật là phương tiện thể hiện các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng, nhờ đó nhà văn khái quát hiện thực đời sống và bộc lộ tư tưởng tình cảm của mình. Nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết Ở phần này, chúng tôi xem xét quan niệm của các nhà nghiên cứu về sự khác biệt giữa nhân vật tiểu thuyết với nhân vật trong các thể loại văn học khác và sự khác biệt về nhân vật tiểu thuyết giữa các thời kì khác nhau. Nhà nghiên cứu Mikhail Mikhailovich Bakhtin đã cụ thể về sự khác biệt giữa nhân vật sử thi và nhân vật tiểu thuyết.
Theo ông, nếu như sử thi tập trung thể hiện quá khứ anh hùng của dân tộc trên cơ sở kí ức của cộng đồng thì tiểu thuyết miêu tả cuộc sống “hiện tại” không ngừng biến đổi trên cơ sở hiểu biết và kinh nghiệm cá nhân. Sự xóa nhoà khoảng cách giữa người kể và nhân vật cho phép người viết dùng kinh nghiệm cá nhân để lí giải, nhìn ngắm nhân vật của mình một cách gần gũi, thậm chí suồng sã. Ông nhận thấy “nhân vật tiểu thuyết không nên là “anh 7 hùng” trong cái nghĩa sử thi và bi kịch của từ đó, mà nên thống nhất trong bản thân các nét vừa chính diện vừa phản diện, vừa tầm thường vừa cao cả, vừa buồn cười vừa nghiêm túc” [109, tr. Ông còn cho rằng, nếu như nhân vật sử thi luôn “ngang bằng” và “trùng khớp” với chính mình về mục đích, số phận, hành động thì nhân vật tiểu thuyết lại thường xuyên không tương ứng, không “hợp vai” với nó, với “thân xác xã hội” của nó, rằng con người thường “không đồng nhất với chính nó” [109, tr.297-230] và sự sống thực sự lại thường diễn ra ở chỗ con người vượt ra ngoài giới hạn mà nó đã có.
Rõ ràng, trong khi nhân vật sử thi là con người cần phải như thế thì nhân vật tiểu thuyết lại chao đảo giữa những đối cực, xung năng với nhau để bộc lộ chính mình trong quá trình phát triển và tự hoàn thiện. Nhân vật trong tiểu thuyết thuộc kiểu “con người phiêu du”, “con người nếm trải” luôn “lãnh đủ” mọi tác động của cuộc sống. Còn nhân vật trong kịch lại là kiểu “con người hành động”. Trong khi đó, nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức tác giả; con người “đồng dạng” của tác giả.
Để làm rõ vấn đề khác biệt về nhân vật tương ứng với một số kiểu loại tiểu thuyết từ xưa đến nay, chúng tôi xem xét các nhóm quan điểm như sau: Thứ nhất là quan điểm về nhân vật trong tiểu thuyết tiền hiện đại “kiểu Balzac”. Trong tiểu thuyết tiền hiện đại, hình tượng nhân vật luôn gắn liền với hình hài và tính cách con người, mang đầy đủ các dấu hiệu bên ngoài bao gồm: một cái tên rõ ràng, một khuôn mặt được tạo nên từ nhiều nét vẽ, một tính cách cá nhân xác định và khá cố định, một nhân hình khách thể đậm nét… Trong đó, tính cách thường được chú ý miêu tả khá kĩ và ngay từ khi xuất hiện, có dụng ý định hình, định hướng cho con đường đời của nhân vật và sự tiếp nhận của người đọc. Bàn về vai trò của tính cách với nhân vật, Aristotle (Nghệ thuật thơ ca) đã từng viết: “Tôi hiểu tính cách là cái lí do mà chúng ta gọi nhân vật bằng một cái tên nào đó”, hay “Nhân vật sẽ có tính cách, nếu trong lời nói hành động bộc lộ một khuynh hướng ý chí nào đó, bất kể nó tốt xấu như thế nào”. Ông cũng cho rằng “trong các tính cách bao giờ cũng cần tìm thấy một tính tất yếu hay một tính khả nhiên, mà theo đó, một ai đó nói gì hoặc làm gì, hoặc việc gì đó xảy ra với họ đều tuân theo tính tất nhiên, 8 khả nhiên đó” [109, tr.
Thông qua tính cách, là kết tinh của một môi trường sống trong một thời đại nào đó, nhân vật văn học dẫn dắt người đọc vào một thế giới cụ thể. Chính sự va đập, tương tác của những tính cách đó trong hoàn cảnh nhất định đã làm bật lên được những vấn đề xã hội và con người mà nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc. Điều này thể hiện rõ qua tiểu thuyết chương hồi của phương Đông hay tiểu thuyết phương Tây của Stendhal, Alexandre Dumas, Honoré de Balzac, Lev Nikolayevich Tolstoy… Nhân vật trong tiểu thuyết của các nhà văn nói trên chủ yếu là hình mẫu con người đơn tính cách, đơn bình diện. Kiểu nhân vật truyền thống này thường đã có sẵn và định hình về tính cách.
Trong văn học phương Tây, nhân vật Jean Van Jean - Madelen (Những người khốn khổ - Victo Huygo) luôn tốt bụng và thương người. Trong Tấn trò đời (Honoré de Balzac), đó là một lão Grande (Eugénie Grandet) luôn keo kiệt, hà tiện đến độ nhẫn tâm; một Rastignac (Lão Goriot, Bước thăng trầm của kỹ nữ, Miếng da lừa) từng bước tha hóa, hay Lucien Chardon (Vỡ mộng, Bước thăng trầm của kỹ nữ) vỡ mộng trong cuộc chen chân trong thế giới đồng tiền, âm mưu và tội ác. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, Mikhail Mikhailovich Bakhtin (Những vấn đề thi pháp của Dostoievki) cũng đã chỉ rõ: trong tiểu thuyết tiền hiện đại, nhân vật được xây dựng hoặc thiên về mô phỏng cái cổ điển, nặng về cái chung mà nhẹ về cái riêng; hoặc nhấn mạnh sự khác thường trong suy nghĩ, tính cách, hành động; hoặc chú trọng xây dựng những tính cách điển hình đạt tới độ sống động, đặc sắc để tạo nên những nhân vật điển hình - “một người lạ mà quen biết” (Vissarion Grigorevich Belinski). Trong đó, cái riêng của nhân vật là bộc lộ cá tính độc đáo; còn cái chung làm cho nhân vật “Thực sự là đại biểu cho những giai cấp và những trào lưu nhất định, do đó tiêu biểu nhất định cho thời đại của họ” (Friedrich Engel).
Theo Bakhtin, tiểu thuyết tiền hiện đại chủ yếu phát triển trong quan niệm “độc thoại”. Đó là loại tự sự trong đó chỉ có tác giả là người duy nhất có ý thức, biết suy nghĩ và đánh giá mọi sự việc, là vị chúa tể nắm hết mọi bí mật của cuộc đời. Còn nhân vật thì chỉ là đối tượng câm lặng cho sự phẩm bình, nhận xét ấy. Tác giả nhận định con người cũng như nhận định cái cây, đồ vật.
Do quan hệ giữa nhân vật và tác 9 giả được quan niệm như vậy nên nhân vật của văn xuôi “đơn thanh”, luôn “trong suốt”. Trong các tiểu thuyết mang tính đơn âm này, nhân vật chỉ là những đối tượng vô ngôn luôn lặp lại lời tác giả, thường được đóng khung với những đường viền đậm nét, chịu sự chi phối chủ quan của ý thức tác giả khá nhiều, nhân vật có phát ngôn nhưng thiếu đi tinh thần đối thoại thực sự. Nhà văn trong trường hợp này thể hiện ý thức, nghĩ và làm việc hộ các nhân vật của mình.