phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung trọng tâm của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Ảnh hƣởng của các yếu tố văn hóa và lịch sử đến hệ thống nhân vật trong truyện thơ Nôm: Truyện Kiều (Nguyễn Du) Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của các yếu tố văn hóa và lịch sử đến hệ thống nhân vật trong truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) 7. Đóng góp của luận văn Về mặt lý luận: Tìm hiểu “Ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá và lịch sử đến hệ thống nhân vật trong hai truyên thơ Nôm: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) và “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu) là công trình tìm hiểu một vấn đề hệ thống nhân vật trong Truyện thơ Nôm nói chung và trong “Truyện Kiều” và trong truyện thơ “Lục Vân Tiên” nói riêng. Ở góc độ nhãn quan này sẽ giúp chúng tôi đƣa ra những đánh giá về giá trị của 2 truyện thơ Nôm trong nền văn học trung đại.
Về mặt thực tiễn: Đề tài luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho bạn đọc, sinh viên ngành ngữ văn muốn nghiên cứu về hệ thống nhân vật “ Truyện Kiều” (Nguyễn Du) và “ Lục Vân Tiên ” (Nguyễn Đình Chiểu). 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm nhân vật trong tác phẩm văn học 1.Khái niệm về nhân vật văn học Trong văn học, nhân vật là sáng tạo vô cùng độc đáo của nhà văn nhằm đƣa ra các tƣ tƣởng, ý tƣởng của nhà văn đến với ngƣời đọc. Tiếng nói của nhân vật phản ánh phần nào quan điểm của ngƣời viết văn với thời cuộc.
Sách “Từ điển thuật ngữ văn học” của ba nhà nghiên cứu văn học viết chung là Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi lại nói: “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống … Nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào một thế giới khác của đời sống”. Ở cuốn “Từ điển Ngữ văn”, Nguyễn Nhƣ Ý cũng có những ý kiến khá tƣơng đồng với hai ý kiến trên: “Nhân vật văn học luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm và luôn luôn gắn liền với cốt truyện. Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình”. Nhƣ vậy, nhân vật văn học là con ngƣời đƣợc nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phƣơng tiện văn học.
Nhân vật văn học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành một tác phẩm. Giá trị của một câu chuyện không chỉ đƣợc nhà văn đƣa vào cốt truyện và các tình tiết mà còn chiếm một phần lớn trong các nhân vật mà nhà văn tạo nên. Chức năng của nhân vật văn học Trong các tác phẩm văn học thì nhân vật có những tính cách hiện lên phong phú cùng với hiện thực cuộc đời, cuộc sống tồn tại. Bởi vậy, nhà văn khi xây dựng nhân vật của mình thì phải có dụng ý, truyền tải một thông điệp nào đó tới độc giả.
Vì bức tranh nghệ thuật phản ánh nhỏ bé hay rộng lớn thì 11 nhiều hay ít các nhân vật. Ngƣời đọc tiếp cận thấy có nhân vật chính thì thƣờng có các nhân vật phụ làm bổ trợ, tôn vinh nhân vật chính lên. Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du viết về nhân vạt chính là Vƣơng Thúy Kiều thì liên quan tới gia đình tất phải có em gái Thúy Vân, tình yêu đầu đời là Kim Trọng, liên quan tới nghề buôn thịt bán ngƣời là Mã Giám Sinh,buôn phấn bán hƣơng là Tú Bà, đánh nghen là Hoạn Thƣ, cuộc đời chìm nổi gặp may mắn kết duyên với Thúc Sinh, Từ Hải… Nhân vật trong các tác phẩm văn chƣơng có thể nói là phong phú. Mỗi bộ tiểu thuyết chƣơng hồi Minh Thanh (Trung Quốc) nhƣ: “Tây Du Kí” (Ngô Thừa Ân), “Tam quốc chí diễn nghĩa” (La Quán Trung), “Hồng lâu mộng” (Tào Thuyết Cần), “Thủy hử” (Thi Nại Am)… có hàng trăm nhân vật.
Hoặc ít nhân vật nhƣ các truyện tập hợp trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ. Nghĩa là nhân vật trong tác phẩm văn học nhiều hay ít là do ý đồ sáng tác của nhà văn. Theo lí luận văn học xƣa nay thì văn học trung đại có hai tuyến nhân vật chính nếu xét về góc độ nội dung, tƣ tƣởng hay phẩm chất đối kháng nhau, thƣờng tồn tại là: Nhân vật chính diện (Nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) đƣợc miêu tả song song đến khi kết thúc tác phẩm. Nhân vật chính diện thƣờng là các nhân vật tốt, cao thƣợng.
Đại diện cho sự tiến bộ, hƣớng tới thẩm mĩ truyệt đối. Họ là tiểu biểu cho tinh túy hồn cốt của một dân tộc hay một tầng lớp nào đó trong xã hội cho nên đƣợc coi là nhân vật lý tƣởng. Nghĩa là nhân vật đó không còn nhân vật nào vƣợt qua đƣợc nữa về mặt tích cực nào đấy nhƣ Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga trong “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn. Nhƣng có những nhân vật lý tƣởng đƣợc nhà văn gửi gắm theo ý của mình thì nhân vật đó đƣợc gọi là nhân vật lý tƣởng hóa nhƣ Thúy Kiều, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến…(Truyện Kiều- Nguyễn Du).
Văn học hiện đại, văn học hậu hiện đại thì vấn đề nhân vật tích cực hay tiêu cực thật khó phân biệt đâu đƣợc rõ ràng. Vì giữa thiện- ác thật khó phân biệt 12 đâu đƣợc rõ ràng. Giữa thiện và ác không còn ranh giới nữa. Điều này phù hợp với cách nhìn, cách cảm của ngƣời đọc đƣơng thời.
Họ nhìn cuộc sống không đơn giản một màu thi vị hóa. Cuộc sống không đơn điệu nân văn học phải phản ánh đa chiều. Nam Cao viết “Chí Phèo” thì thấy nhân vật chính Chí Phèo miêu tả nhƣ “ thằng săng đá” chuyên rạch mặt ăn vạ, la làng, làm tay sai cho Bá Kiến. Nhƣng đâu đó trong đời có những kỉ niệm đẹp nhƣ khi gặp Thị Nở ƣớc ao “chồng cuốc mướn vợ dệt vải” thèm cái hạnh phúc vô cùng giản dị.
Hay lúc cầm dao trƣớc khi đâm chết Bá Kiến với câu nói: “Ai cho tao lƣơng thiện” cào xé tâm can ngƣời đọc. Bakhtin nhận định: “Cần phải thống nhất trong bản thân mình của các đặc điểm chính diện lẫn phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa buồn cười lẫn cái nghiêm túc”. Vì thế phân biệt nhân vật phản diện hay nhân vật chính diện chỉ có ý nghĩa tƣơng đối mà thôi. Từ ý trên đây, chúng ta có thể xem nhân vật Hoạn Thƣ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du nằm giữa phân khúc này.
Họa Thƣ nham nhiểm đày đọa Thúy Kiều nhƣng cững tha thứ cho Kiều khi cho ra ở Quan Âm các chép kinh hay khi Kiều bỏ chốn không cho ngƣời đuổi theo. Đặc điểm của hệ thống nhân vật trong một số truyện thơ Nôm trung đại Việt Nam Trong truyện thơ Nôm của văn học Việt nam thời phong kiến, hệ thống các nhân vật bao giờ cũng đƣợc chia ra, xếp vào hai tuyến nhân vật: Chính diện- Phản diện hay là thiện và ác, tốt và xấu, chính và tà. Nhân vật thiện – ác Từ cổ chí kim, cuộc đấu tranh giằng co giữa thiện và ác, ngƣời tốt với ngƣời xấu diễn ra vô cùng phức tạp. Thực tế, không phải bao giờ thiện cũng thắng ác chính vì vậy mà nhân dân xƣa đã đƣa những mơ ƣớc, nguyện vọng, lý tƣởng xã hội của mình.
13 Quan niệm cho rằng cái thiện và cái ác đều là tự có, tồn tại độc lập với chúng ta, và mọi thứ đều phải nhƣờng bƣớc trƣớc cái thiện tuyệt đối và cái ác tuyệt đối này. Plato là một trong những ngƣời ủng hộ quan niệm này, theo đó, cái thiện luôn ở bên con ngƣời và Chúa, nhƣ mặt trời mang lại sự sống cho chúng ta, và chúng ta luôn phải hƣớng về phía nó. Cái ác cũng vậy, cũng tồn tại độc lập và là cái ta phải tránh. Chúng ta thấy rất rõ ràng rằng quan niệm truyền thống này là cội nguồn của cả một nền văn hoá, thể hiện trong văn học và nghệ thuật.
Trái ngƣợc với quan niệm vẫn thống trị nền văn hoá phƣơng Tây này là một quan niệm khác mà ta có thể gọi là quan niệm tƣơng đối. Nó đƣợc hình thành bởi Spinoza vào giữa thế kỷ 17, theo đó, cái thiện và cái ác không phải tự thân tồn tại, mà chúng chính là những mối quan hệ hay sự so sánh mà chúng ta tạo ra. Quan niệm này đi ngƣợc với tƣ tƣởng Cơ đốc giáo nhƣng lại đƣợc phổ biến rộng rãi một cách không chính thức, mạnh mẽ nhất vào thế kỷ 18, thời kỳ của triết học Ánh Sáng. Thời đó xuất hiện một sự vô thần hoá trong những cuộc bàn luận về đạo đức, khi ngày càng có nhiều ngƣời thừa nhận rằng nhà thờ không thể là nơi nắm giữ và áp đặt toàn bộ giá trị đạo đức, mà chính con ngƣời mới tạo ra những giá trị này, dựa theo nhu cầu của họ.
Tƣ tƣởng này chảy trong toàn bộ những ngƣời đọc sách, và chính bộ phận này đã dẫn dắt cuộc Cách mạng Pháp. Vậy thì, điều đó có giá trị gì với chúng ta ngày nay? Cơ bản đó là một bài học về sự tha thứ, không ai đƣợc quyền nhân danh bất kỳ giá trị tuyệt đối nào để đối xử tồi tệ với xã hội. Bằng cách nào cái Thiện và cái Ác đƣợc miêu tả, kể lại, và tái hiện qua câu chữ? Văn học có phải và có thể miêu tả và vạch trần cái Ác hay không, và bằng cách nào? Colas Duflo, giáo sƣ Triết học trƣờng Đại học Paris Ouest Nanterre La Défense cho rằng: “Hai khái niệm thiện và ác xuất phát từ chúng ta, từ những cảm nhận, nhận thức của mỗi cá nhân và phụ thuộc vào xã hội nơi ta đang sống. Luận đề thuyết tương đối về Thiện – Ác đã được trình bày rõ ràng bởi triết gia Spinoza.
Tư tưởng này được truyền bá vào thế kỉ XVIII, tới công chúng đọc sách, qua các văn bản triết học (như Bách khoa toàn thư ) 14 và qua các cuốn tiểu thuyết. Sự thế tục hoá những quy chuẩn đạo đức và những cuộc tranh luận tư tưởng diễn ra trong thời kì này, là những chuyển biến đánh dấu phong trào Ánh sáng, với những bước tiến mạnh mẽ trong Văn học cũng như Triết học. Ngày nay, chúng ta đã được thừa hưởng những thành quả từ phong trào này.” [55, tr29] Trƣớc hết, ta phải hiểu thế nào là thiện và ác.