Mở đầu là các chương : Chương một: Tính đa dạng của kiểu NVTT. Chương này chúng tôi lập báng thống kê sô lượng nhản vật, sô lượng NVTT, nhận xét, nêu các kiểu NVTT và đề cập đến hiện tượng "Phi trung tâm hoá nhân vật." Chương hai: Nhân vật của những chấn thương bao gồm các mục: Một lối thể hiện khác lạ, Những vết thương không thể hàn gắn, đối diện cái chết - họ đi tìm sự sống. Chương ba : Nhân vật với tấn kịch sau lớp ngôn từ. Sau khi lập bảng khảo sát, chúng tôi đi vào các phần: v ề vị trí của đối thoại giữa các loại n g ô n từ khác, K hoảng trống của lời đối thoại và n ỗi c ô đơn, "Độc thoại nội tâm hay những lời dối thoại bên trong", Kỹ thuật đồng hiện và Lùi của người cổ độc - sự hoá thân.
Và sau cùng là Kết luận. Mục đích : Khảo sát kiểu NVTT, luận án nhằm tìm ra quan niệm ngh ệ thuật của nhà văn về con người. Quan niệm này sẽ chi phối toàn bộ hình thức biểu hiện của tác giả. Bên cạnh đó, luận án sẽ cun a cấp thêm những trường hợp ngoại lệ về NVTT cho lý luận vân học cũns như cho việc gián g dạy H em in gw av.
Đóng góp mới của luận án : 17 z Luận án thốna; kê, phân loại các kiểu NVTT theo vị trí, tổ chức, số lượng của chúng ớ các hình thức kể truyện. Đưa ra một hệ thốna nhữns đặc trưng của kiểu NVTT từ ngoại diện đến tính cách ; xem xét nhữns đặc trưna này trong mối liên hệ với nghệ thuật biếu hiện và phong cdch của Hemingway (tượng trưng, huyền thoại, không - thời gian nahệ thuật, lời thoại của NVTT và nghệ thuật Tảng băng trôi). Từ những phát hiện, bổ sung vể kiểu NVTT luận án đối thoại với một sô ý kiến trong lịch sử nghiên cứu Hemirtgway nhằm đóng góp thêm về việc xác định vị trí, đóng góp của Hemingway trong văn xuôi hiện đại. Từ sự phát hiện những nét cách tân của kiểu NVTT của Hemingway trong mối liên hệ với thể loại ( sự gia tăng NVTT hay phi trung tâm hoá nhân vật, kiểu NVTT liên truyện) luận án đối thoại lại với một vài khái niệm đã định hình về NVTT, về vai trò, vị trí của nó trong truyện dài và truyện ngắn ở thế kỷ 20.
Ngoài ra, việc khảo sát kiểu NVTT này còn có thể giúp (phần nào) hướng tiếp cận kiểu NVTT của các nhà văn lổn ở nước ta. TÍNH ĐA DẠNG CỦA KIỂU NVTT Ở chươns này. sau khi xác định khái niệm /VV7T, chúng tôi giới thiệu qua quá trình sáng tác của Hemingvvay đê giới hạn tác phẩm, lập bàng kháo sát chọn NVTT và nêu nhận xét. Trên cơ sớ đó, dựa vào các định nshĩa về NVTT chúng tôi phân loại kiểu NVTT và phân tích ý nghĩa của các kiểu ấy.
KHÁI NIỆM NVTT Thuật ngữ NVTT chưa được chú trọng nhiều trong các từ điển thuật ngữ văn học Anh - Mỹ. Các nhà biên soạn từ điển ấy gọi tên NVTT theo ba cách khác nhau: protagonist, hero (heroine), Central character và quan niệm của họ về nội hàm của thuật ngữ vẫn chưa thống nhất. Bain trong Nhập môn học văn học Norton cho rằng: "Thuật ngữ phổ biến nhất để gọi tên nam NVTT (leading hero) là hero (.), nữ NVTT là heroine (.) Thuật ngữ trung tính và xưa hơn hero, được dùns để gọi NVTT mà không hàm chứa ý kiến đánh giá sự tái hiện lẫn các phạm trù đạo đức (và thuận lợi hơn là có thể dùng cho cả nam lẫn nữ nhân vật) là protagonist"[93, 91]. Như thế, hero trùng với protagonist dùng' để gọi NVTT mà người sử dụng không có ý đinh đánh giá tốt, xấu.
Giống các tác giả trên, J. Coyle cho rằng:”Nhân vật chính yếu được gọi là hero hay protagonist" [131, 83]. Rắc rối hơn, nhóm M. Danziger (Nhập mòn phê bình văn liọc) đưa ra ba thuật naữ : Protagonist, single hero (nhàn vật nổi trội) và mưiỉĩ character (nhân vật chính) rồi khẳng định trong một số tác phám hiện đai rhưòng xuất hiện một nhóm NVTT.
Trong đó ta khó có thể báo nhàn vật này quan trọng hơn nhân vật kia. 19 z Protagonist còn được xác định: xuất hiện trong càu chuyện do "bán thân người đó đàm nhiệm vị trí trần thuật"[105, 25]. Như thế sự khác nhau giữa Danziger và các tác giả trên là xem Protagonist là người giữ vai trò trần thuật. Bách khoa thư Mỹ - mục Character của M.Rothenberas - viết: "Character hoặc hero chú chốt (chief) của một tác phẩm hư cấu hoặc một vở kịch (.) được sọi là protagonist"[Ì46 , 290].
Trong khi đó ở mục hero, L.Mades cho rằng: trong hệ thống lý luận hiện đại,"thuật ngữ hero được dùng để chỉ nhân vật trọng tâm của tác phẩm - tức protagonist" [147, 144]. Điểm qua một số từ điển thuật ngữ, các công trình lý luận của Anh - Mỹ ta thấy : họ có những tên gọi khác nhau cho NVTT và các nội hàm, thuật ngữ đưa ra có chỗ chưa được thống nhất. Do đó, chúng tôi phối hợp thêm đinh nghĩa NVTT ở Từ điển văn học và ởcác bộ Lý luận văn học của Việt Nam. "Từ góc độ kết cấu và cốt truyện, ta có : nhân vật chính và nhân vật phụ.
Nếu một tác phẩm có nhiều nhân vật chính, thì NVTT được xem như nhân vật chính quan trọng nhất" [87, 110]. "Trong các nhàn vật chính của tác phẩm lại c ó thể thấy nổi lên những NVTT xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối về mật ý nghĩa : đó là nơi quv tụ cá c m ố i mâu thuẫn của tác phẩm là nơi thể h iện vấn đề trung tâm của tác phẩm" [ 7 9 ,7 1 ]. "Trong số những nhân vật chín h của tác phẩm lạ i c ó thể có nhân vật được thể h iện đặc biệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng - thẩm m ỹ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm " [21,127]. Từ những định nghĩa trên, chúng tôi giớ i th uyết nội hàm cùa khái niệm N V T T ờ các điếm sau: - Là nhàn vật chính quan ữọng nhất trong diễn biến cốt truyện cùa tác phẩm.
- Nhàn vật thể hiện vàn đề trung tàm cúa tác phẩm (về tư tường, thám mỹ). - Trung tăm của nhiều tuvến nhân vật (nếu có sự phân tuyến). 20 z - Số lượng: có thể có một hoặc nhiều NVTT trong một tác phẩm (tức hiện tượng "phi trung tàm hoá"). - M ối quan hệ với thể loại: các tác phẩm thuộc hình thức kế chuyện đều có thể có NVTT.
Dựa trên các tiêu chí này. luận án xác định NVTT trong tác phẩm của Hemingvvay, để từ đó tìm ra kiểu NVTT, đồng thời đối chiếu xem nó có nét nào làm rạn nứt khuôn khổ cũ của những định nghĩa trên hay không. TÁC PHẨM Tập sách đầu tiên của Hemingway xuất bản 1923 ở Pari có nhan đề Ba cứu chuyện và mười bài thơ. Những câu chuyện ấy là chuyện ngắn.
Truyện ra mắt độc giả sớm nhất vào năm 1921 là Trên miệt Michigan. Tính đến 1938, lúc cho in truyện ngắn ông lão bên chiếc cầu, Hemingway đã có một sô lượng truyện ngắn kha khá. Chúng được tập hợp trong Đạo quân thứ năm và bốn mươi chín truyện ngắn đầu tiên, về sau, cũng trong năm ấy(1938) nhà xuất bản Scribner bỏ vở kịch (Đạo quân thứ năm), chi in bốn mươi chín truyện trong tuyển tập Truyện ngắn của Ernest Hemingwcrv (bao gồm những truyện ngắn in trong Ba câu chuyện và mười bài thơ, trong thời đại chúng ta (1924) Đàn ông không đàn bà (1927) và Người chiến thắng nhận hư vô (1933). Từ 1923 đến 1938, ngoài bốn mươi chín truyện ngắn, mười bài thơ, một vờ kịch ; Hemingway còn sáng tác ba tiểu thuyết: Mặt trời vẫn mọc (1926) Giã từ vũ khí (1929) Có và không (1937) và các tác phẩm ghi chép, tự truyện thuộc loại hình không hư cấu (Nonííction): Những thác nước mùa xuân (1926) Chết trong chiều tà (1932), Những ngọn dồi xanh Châu Phi (1932).
N hữ ng tác phẩm thuộc thể loại không hư cấu trên giữ vị trí quan trọng trong việc phản ánh trực tiếp những suy nghĩ, quan niệm cũng như phươna pháp sá n s tác củ a H em in gw av. Chúng là đối tượng để cá c phê bình sia tham khảo, đối sánh với những luận điểm, kết luận được rút ra từ các tác phám hư cấu của ône. Chẳng hạn như khái niệm Chiểu thứ nám (The Fifth 21 z Dimension), phương pháp Tàng băng trôi (ice - berg) và quan niệm miêu tà con n sư ờ i bằng văn phong 2 Íán dị, chân thực nhất. M ặt khác, những phát biểu ấv lại còn là những xuất phát điểm , những định hướng đê các nhà nahièn cứu tiếp cận tác phẩm Hemin2 wav.
K hai thác os iá tri thám m Jv từ thê' giói hình tượng n <wsh * ệ• thuật của ôn g,7 ch ú n g ta thường chú ý đến truyện ngắn và tiểu thuyết. Tuy nhiên đi tìm những tương đ ồng và dị biệt về thi pháp giữa hai thể loại tự sự này (hoặc ngav trong một thể loại) qua hai giai đoạn trước và sau 1937 (chúng tôi chọn mốc này vì 1937 Có và không, tiểu thuyết bản lề đánh dấu chuyển biến thi pháp của H em ingw av ra đời và hơn nữa, sau 1937 truyện ngắn của ông không còn xuất sắc lắm) là m ột vấn đề lý thú có liên quan đến kiểu NVTT. Hemingvvay có bốn mươi năm cầm bút (1921 - 1961). Ta tạm xem : chấm dứt viết truyện ngắn vào 1937, ôn g dành ch o thể loại ấy mười sáu năm.
Hai m ươi tư năm cò n lại, sáng tác của ô n g chủ y ếu là tiểu thuyết. số lượng tác phẩm của ôn g (kể hết các thể lo ạ i) là 172. Bốn trong số đó [và tập thơ 88 bài (1979) cùng tám truyện ngắn (1987) ] ra đời sau khi ông mất: Lễ hội không ngừng (1964), Đảo giữa dòng hải liùi (1970), Mùa hè nguy hiểm (1985), Vườn Eden (1986). Lễ hội không ngìữig và Mùa hè nguy hiểm được viết dưóri dạng hồi ký.
Hai tác phẩm còn lại được xếp vào thể ioại tiểu thuyết. Song giá trị tư tưởng cũ ng như h iệu quả thẩm m ỹ của chúng k hông m ấy đặc sắc. Trở lại với th ế g iớ i truyện ngắn, sau 1937 cũ n g như sau khi H em in gw ay qua đời, truyện ngắn của ông vẫn rải rác xuất hiện: tổng cộna; là hai mươi mốt truyện. Trong số đó, đáng kể nhất là Con người của thế giới (1957) và Chú bò thủy chung', nhiều truyện còn lại chảng xuất sắc lắm.
Hoặc giã chúng chưa đủ hay đế chính tác già đưa in, hoặc siả chúng chưa hoàn thành .