mở đầu và kết thúc cho đứa con tinh thần của mình. Khi đã tìm được cách vào truyện tức là nhà văn đã tìm ra được cách dẫn dắt câu chuyện theo nhịp điệu riêng của mình. Bên cạnh đó cách chấm dứt câu chuyện cũng thể hiện tài năng sáng tạo của mỗi nhà văn, có những cái kết có hậu, nhưng cũng có cái kết bỏ lửng cho độc giả tự chiêm nghiệm theo cách hiểu của mình. Sở dĩ truyện ngắn có sức sống lâu bền một phần do nhân vật trong truyện mang lại.
Bất cứ chủ đề, tư tưởng nào mà nhà văn muốn gửi đến độc giả đều được thể hiện qua tâm trạng, hành động của nhân vật. Vì vậy, nhân vật trong truyện ngắn dù không được nhà văn miêu tả trọn vẹn một cuộc đời nhưng qua vài cảnh ngộ, những lát cắt trong cuộc đời nhân vật đó thì nhà văn đủ sức lôi cuốn bạn đọc cùng suy ngẫm những vấn đề mà họ quan tâm. Như vậy, là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, truyện ngắn mang trong mình những dấu hiệu đặc trưng riêng biệt, do đó đòi hỏi các tác giả khi sáng tác những tác phẩm thuộc thể loại này cần chú ý đến những đặc trưng của thể loại để qua một lát cắt trong cuộc đời nhân vật, người đọc thấy được những nét tiêu biểu của nhân vật cũng như thấy được thông điệp nghệ thuật, và tài năng sáng tạo của nhà văn. Vấn đề chuyển thể và chuyển thể tác phẩm tự sự sang điện ảnh 1.
Chuyển thể và những khái niệm có liên quan Mặc dù chuyển thể là một cụm từ được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu và phê bình văn học nhưng khái niệm về chuyển thể vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Ở nghĩa rộng, chuyển thể được hiểu là sự thích nghi, 19 thay đổi, khiến cho phù hợp. Theo nghĩa hẹp, chuyển thể được các nhà nghiên cứu quan tâm và định nghĩa khác nhau. Minh Tùng trong cuốn Từ vựng điện ảnh định nghĩa về chuyển thể: “Chuyển thể là phỏng theo, cải biến nội dung của hình thức nghệ thuật này cho phù hợp với hình thức nghệ thuật khác, chẳng hạn như chuyển thể một tiểu thuyết thành kịch bản phim” [60, tr.
Ray Frensham thì cho rằng: “Chuyển thể là một quá trình thay đổi hoặc biến đổi một tài liệu từ dạng này (tiểu thuyết, kịch, sân khấu, truyện ngắn, câu chuyện có thực), sang dạng khác như phim truyện hay phim truyền hình” [48, tr. Những tranh luận xung quanh khái niệm chuyển thể còn được thể hiện thông qua những ý kiến về bản chất của chuyển thể và những khái niệm gần nghĩa khác. Theo cách hiểu của Fisschlin và Fortier thì chuyển thể bao gồm gần như: “bất kỳ một hành vi thay đổi nào được thực hiện trên những tác phẩm văn hóa cụ thể của quá khứ và gọt giũa để vừa một quá trình tái sáng tạo văn hóa chung” [28, tr. Theo quan điểm của các nhà làm luật thì chuyển thể là một “tác phẩm phái sinh” - nghĩa là một tác phẩm dựa trên một hay nhiều tác phẩm đã tồn tại trước đó nhưng được “đổi dạng, thay đổi hình thức”.
Cách hiểu này liên quan nhiều đến vấn đề quyền tác giả và luật “bản quyền” để tránh bị buộc tội đối với công việc của người chuyển thể. Chuyển thể trong một số trường hợp được coi là “sự kể lại” những câu chuyện quen thuộc và “sự chỉnh lại” những câu chuyện nổi tiếng. Hiểu theo cách này thì văn nhại cũng có thể tìm được chỗ đứng như một cách chuyển thể châm biếm. Và những câu chuyện ở đây: “vừa mang tính chất tái lĩnh hội lại vừa mang tính chất tái liên quan” [28, tr.
Như vậy, khái niệm và bản chất của chuyển thể là một vấn đề khơi nguồn cho nhiều sự tranh luận, trở thành một đề tài sinh động của điện ảnh thế giới.Tổng hợp những cách hiểu khác nhau về chuyển thể, Lê Thị Dương trong 20 Chuyển thể văn học điện ảnh đã chia ra hai cách hiểu phổ biến nhất về chuyển thể. Cách hiểu thứ nhất “coi chuyển thể chỉ là một dạng sản phẩm thứ cấp, “hạng hai”. Cách hiểu thứ hai “coi chuyển thể là sinh thể độc lập, đồng đẳng với tác phẩm văn học. Công việc chuyển thể do đó cũng là quá trình sáng tạo” [12, tr.
Thuật ngữ chuyển thể đã được các nhà nghiên cứu, các nhà làm phim hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu và nhà làm phim cho rằng, chuyển thể đã làm sai lệch bản chất và nội dung của văn bản gốc. Vì cách hiểu trên, những nhà nghiên cứu nghĩ đến một thuật ngữ khác thay thế cho thuật ngữ chuyển thể, ấy là “cải biên”. Người đầu tiên dùng thuật ngữ này là Đào Lê Na trong công trình nghiên cứu Chân trời của hình ảnh - Từ văn chương đến điện ảnh qua trương hợp Kurosawa Akina.
Theo tác giả, thuật ngữ này dù nghe không quen tai nhưng đây là thuật ngữ phản ánh chính xác nhất bản chất tác phẩm vốn dựa vào một tác phẩm gốc. Nếu Chuyển thể yêu cầu phải trung thành với văn bản gốc thì cải biên đã đặt lại chất liệu gốc trong bối cảnh phù hợp nghĩa là nó có sự thay đổi so với văn bản gốc.Vì thế, tác phẩm cải biên ít nhiều mang ý nghĩa thông điệp khác nhau. Như vậy khi dùng thuật ngữ cải biên sẽ tạo cơ hội cho các nhà làm phim được tự do thể hiện sự sáng tạo của mình. Và khi được công chiếu khán giả sẽ không còn phải xem xét tác phẩm điện ảnh ấy có trung thành với văn bản gốc hay không.
Hai khái niệm chuyển thể và cải biên hoàn toàn khác với khái niệm “nhái” hay “fake”. Nếu chuyển thể hay cải biên có mối quan hệ công khai và cụ thể với văn bản có trước và tác phẩm chuyển thể thường thẳng thắn tuyên bố về mối quan hệ này thì tác phẩm“nhái” hay “fake” lại tìm mọi cách thay đổi cái gốc, cái cũ thậm chí là phủ nhận hoặc loại bỏ hoàn toàn cái cũ, cái nguyên bản để thay thế một cái mới khác hoàn toàn. Rõ ràng “nhái” hay “fake” về bản 21 chất giống với một sự đánh cắp, tráo đổi cái cũ sang cái mới một cách có chủ đích của người thực hiện. Như vậy, có thể thấy rằng qua những quan điểm và ý kiến tranh luận trên thì vấn đề quan trọng nhất liên quan đến chuyển thể là: Chuyển thể là một quá trình sáng tạo dựa trên nền tảng của một tác phẩm gốc.
Mặt dù vậy, cần phải có tinh thần tôn trọng giá trị độc lập và bình đẳng khi xem xét mối quan hệ giữa tác phẩm gốc và tác phẩm được chuyển thể. Sự phổ biến của chuyển thể Có thể nói hiện tượng chuyển thể xuất hiện khá sớm với những tên gọi khác nhau. Ở Châu Âu, chuyển thể xuất hiện từ thế kỷ XVI khi Shakespeare đưa các câu chuyện của ông từ trang giấy lên sân khấu. Sau đó sang thời kỳ đầu của phim câm, các vở kịch của Shakespeare đã luôn được chuyển thể bởi các đạo diễn phim.
Có thể nói, làn sóng chuyển thể nhanh chóng lan rộng và phát triển ngày càng mạnh mẽ không chỉ ở Châu Âu mà trên khắp thế giới và trong đó có cả Việt Nam. Bằng chứng là Linda Hutcheon (2011), tác giả chuyên khảo Lí thuyết chuyên thể cho biết: theo số liệu thống kê năm 1992, 85% số tác phẩm đoạt giải Oscar phim hay nhất là các tác phẩm chuyển thể; tác phẩm chuyển thể chiếm tới 95% các phim truyền hình ít tập và 70% các phim truyền hình từng tuần đã giành giải Emmy. Những khán giả yêu thích điện ảnh không thể không biết đến những tác phẩm chuyển thể đình đám trong nền điện ảnh thế giới như: Chiến tranh và hòa bình; Những người khốn khổ; Tiếng chim hót trong bui mận gai… Điện ảnh Trung Quốc cũng góp mặt trong nền điện ảnh thế giới với hàng loạt các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng được chuyển thể từ tác phẩm văn học như: Tam quốc diễn nghĩa; Tây du ký; Hồng Lâu mộng; Thủy hử, được coi là tứ đại kì thư của Trung Quốc. 22 Tại Việt Nam, những bộ phim chuyển thể xuất hiện từ khá sớm vào năm 1923 với bộ phim Kim Vân Kiều và từ đó một trào lưu chuyển thể phát triển mạnh mẽ trên nền điện ảnh nước nhà.
Có thể kể đến những bộ phim điện ảnh như Chuyện của Pao chuyển thể từ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của nhà văn Đỗ Bích Thúy, Cánh đồng bất tận từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Mê Thảo thời vang bóng từ tác phẩm Chùa đàn của nhà văn Nguyễn Tuân, Thời xa vắng và Bến không chồng từ tác phẩm cùng tên của hai nhà văn Lê Lựu và Dương Hướng, Mùa len trâu từ Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, Hương Ga từ tiểu thuyết Phiên bản của nhà văn Nguyễn Đình Tú, Người trở về từ Người về bến sông Châu của Sương Nguyệt Minh, Nước 2030 từ truyện Nước như nước mắt, Khói của Nguyễn Ngọc Tư.Và một số bộ phim truyền hình như Đất phương Nam chuyển thể từ tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, Đất và người dựa theo tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, Đò dọc từ chùm truyện ngắn của nhà văn Bình Nguyên Lộc, Không có gì và không một ai được chính nhà văn Nguyễn Đông Thức chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của mình, Tơ hồng vương vấn, Hai khối tình, Lòng dạ đàn bà, Con nhà nghèo. chuyển thể từ các tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Tấn trò đời từ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm được chuyển thể nhiều lần bởi nhiều đạo diễn khác nhau như truyện ngắn Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Từ Chùa Đàn đạo diễn Dương Ngọc Đức và Lê Chức dựng thành vở cải lương cho nhà hát cải lương Trung Ương Cây đàn huyền thoại.
Đoàn chèo tổng cục Hậu Cần mới cho ra mắt vở chèo Tiếng đàn vùng Mê Thảo. Nhà hát kịch Hà Nội cũng vừa công diễn vở kịch Tiếng đàn vùng Mê Thảo và đặc biệt năm 2002 đạo diễn Việt Linh đã chuyển thể Chùa Đàn thành bộ phim truyện lộng lẫy, đậm màu bi kịch đó là bộ phim Mê Thảo thời vang bóng. Qua trường hợp chuyển thể Chùa Đàn cho thấy, tiềm năng chuyển thể từ tác phẩm là rất lớn, từ những góc nhìn khác nhau của đạo diễn, nhiều khía cạnh, phương diện chuyển 23 thể của tác phẩm văn học vẫn tiếp tục được khai thác đó cũng là yếu tố ghi nhận những thách thức và sáng tạo của các nhà làm phim.