CHƯƠNG 1 TANG THƯƠNG NGẪU LỤC TRONG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA, VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa với văn học 1. Khái niệm văn hóa “Văn hóa” là khái niệm được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng như trong ngôn ngữ sinh hoạt, báo chí. Vậy, “văn hóa” là gì và nội hàm của khái niệm này ra sao? Về mặt từ nguyên, “văn hóa” là một từ Hán Việt.
Trong đó, “văn” có nghĩa là cái vẻ bề ngoài, chẳng hạn: văn của trời là nhật nguyệt, mây mưa; văn của người là lời nói hay đẹp; văn của xã hội là điển chương, phong tục, đạo đức… Còn “hóa” có nghĩa là dạy dỗ, giáo hóa, sửa đổi phong tục. Ở Trung Quốc, Việt Nam thời cổ trung đại, “văn hóa” là dạng rút gọn của cụm từ “văn trị giáo hóa”, có thể hiểu là “dùng sự giáo hóa để trở thành có văn, tức đẹp đẽ hơn”. Tuy nhiên, đây không phải là nghĩa của từ “văn hóa” mà ta dùng hiện nay. Khái niệm “văn hóa” mà ta dùng hiện nay có nguồn gốc từ Nhật Bản.
Đầu thế kỷ XX, người Nhật đã mượn hai chữ “văn hóa” trong tiếng Hán để dịch từ “culture” trong ngôn ngữ phương Tây, rồi truyền ngược lại Trung Quốc. Sau đó, các nhà nho duy tân đã đọc sách tân văn, tân thư của Trung Hoa và đưa khái niệm này vào tiếng Việt. Như vậy, từ “văn hóa” trong tiếng Việt hiện nay vốn có nguồn gốc từ khái niệm “culture”. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ “culture” trong ngôn ngữ phương Tây bắt nguồn từ “cultura” trong tiếng Latinh.
Trong đó, “cultura” nghĩa gốc là “trồng trọt”, được dùng theo cả nghĩa đen chỉ việc trồng trọt ngoài đồng (cultura agri) lẫn nghĩa bóng “trồng trọt” tinh thần (cultura animi), tức việc 8 giáo dục, đồi đắp tâm hồn cho con người. Đây cũng chính là nghĩa gốc sâu xa của khái niệm “văn hóa” mà chúng ta sử dụng hiện nay. Hiện nay, “văn hóa” là một khái niệm hết sức phức tạp với nội hàm chưa được thống nhất triệt để. Mặc dù “nghĩa từ nguyên là như vậy, nhưng trong thực tiễn sử dụng, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa, do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa” [11; tr.
Theo thống kê của UNESCO, trên thế giới đã có hơn 600 định nghĩa về văn hóa và người ta vẫn chưa đồng tình với một khái niệm nào. Rõ ràng, tìm một định nghĩa thuyết phục nhất về văn hóa là một điều không hề dễ dàng. Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin dẫn ra một số khái niệm về “văn hóa” mà chúng tôi cho rằng, chúng phù hợp với hướng tiếp cận, nghiên cứu vấn đề của luận văn. Trong Từ điển tiếng Việt, các nhà biên soạn đã nêu ra 05 nét nghĩa của mục từ “văn hóa”.
“tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử”; 2. “những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát)”; 3. “tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát)”; 4. “trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh” và 5.
“nền văn hóa của một thời kì cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau” [48; tr. Có thể nói, những nét nghĩa mà Từ điển tiếng Việt dẫn ra đã bao quát đầy đủ các phạm vi nghĩa được sử dụng của từ “văn hóa” trong tiếng Việt hiện nay. Tuy nhiên, với tư cách là một thuật ngữ trong nghiên cứu khoa học, nội hàm của khái niệm “văn hóa” là gì? Ở đây, định nghĩa khoa học về văn hóa ra đời sớm nhất ở châu Âu của nhà văn hóa học người Anh E. Tylor rất đáng để suy nghĩ.
Năm 1971, trong công trình Văn hóa nguyên thủy (Primitive culture), ông định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc 9 người nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [55; tr. Đây là định nghĩa được nhiều nhà khoa học chấp nhận. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nêu ra một quan điểm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.
Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó do loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [11; tr. Có thể thấy, trong quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa được phân ra làm hai phương diện cơ bản là văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất. Và chúng tôi đã kế thừa quan điểm này trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn. Một trong những định nghĩa quan trọng về văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận là định nghĩa của Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor.
Trong bài viết “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa”, ông nêu ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [11; tr. Có thể nói, dù được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau nhưng các định nghĩa về văn hóa đều gặp nhau ở các phương diện chính, đó là “tổng thể sống động” những “phát sinh, sáng tạo” về cả vật chất lẫn tinh thần trong “quá trình lịch sử”, làm nên “một hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thẩm mĩ”, là những điều “xác lập đặc tính riêng của từng dân tộc”. Mối quan hệ giữa văn hóa với văn học Giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ gắn bó mật thiết.
Văn hóa là một hệ thống, một tổng thể bao gồm nhiều thành tố, trong đó có văn học. Còn văn học là một bộ phận làm nên chỉnh thể văn hóa. Tuy nhiên, văn học lại là một bộ phận đặc biệt của văn hóa. Do đó, mối quan hệ giữa văn hóa với văn học cũng đặc biệt hơn so với mối quan hệ giữa văn hóa với các thành tố khác của nó như tôn giáo, pháp luật, giáo dục,… Theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, sự đặc biệt trong mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là tính xung đột giữa chúng.“Văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận.
Đây là mối quan hệ bất khả kháng” [64]. Tuy nhiên, so với cách yếu tố khác như pháp luật, tôn giáo… vốn có tính ổn định thì văn học lại có tính năng động. Nói cách khác, văn học luôn có xu hướng vận động, phát triển theo xu hướng trượt ra ngoài hệ thống bằng những những cách tân, đổi mới không ngừng: “Trong khi đó thì hệ thống, nhất là hệ thống văn hóa luôn có xu hướng duy trì sự ổn định, như vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là không thể tránh khỏi. Nhưng nhờ thế mà văn học mới có sáng tạo.
Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ thống. Sáng tạo lớn thì có thể dẫn đến sự thay đổi của hệ thống” [64]. Chính sự vận động, sáng tạo, đổi mới không ngừng này mà văn học luôn là bộ phận phong phú, đa dạng và có vai trò quan trọng làm nên diện mạo của mỗi nền văn hóa. Theo Phan Ngọc, “nước nào cũng có những mối quan hệ gắn bó giữa văn chương và văn hóa”, trong đó, “văn chương làm nền tảng cho văn hóa”.
Điều này thể hiện rất tiêu biểu trong mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Việt Nam. Bên cạnh mối quan hệ “xung đột”, giữa văn hóa và văn học còn có mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Là một bộ phận cấu thành nên hệ thống văn 11 hóa, được chi phối bởi hệ thống văn hóa, văn học được thụ hưởng, tiếp thu, kế thừa các giá trị văn hóa để làm giàu cho bản thân. Đó là lí do tại sao trong mỗi tác phẩm văn chương, người ta đều tìm thấy nhiều giá trị văn hóa ẩn chứa, nhiều khi còn là đối tượng chính của những tác phẩm ấy.
Chẳng hạn, tiếp cận tác phẩm Tang thương ngẫu lục, người đọc sẽ bắt gặp nhiều vấn đề của văn hóa Việt Nam thời trung đại như phong tục tập quán, sinh hoạt nghệ thuật, học thuật, những di tích lịch sử, văn hóa,… Có thể nói, văn hóa chính là kho tàng chất liệu giàu có và sinh động cho văn học, là một trong những mạch nguồn giá trị làm nên bản sắc và sức sống cho tác phẩm văn chương. Đến lượt mình, văn học góp phần làm phong phú, giàu có cho văn hóa. Là bộ phận cấu thành của văn hóa, văn học phát triển, đạt được nhiều thành tựu, chắc chắn sẽ đóng góp vào hệ thống văn hóa những tác phẩm ưu tú, làm cho diện mạo nền văn hóa trở nên đa dạng và đặc sắc hơn. Qua nền văn học của một dân tộc, người ta có thể phần nào thấy được bản sắc và sự phát triển của nền văn hóa dân tộc ấy.
Trong hoạt động sáng tạo của văn chương, văn hóa là kho tàng chất liệu, nguồn cảm hứng, mạch nguồn giá trị, đôi lúc còn là đối tượng chính của văn học. Văn học, do đó, không thể tách rời văn hóa. Ngược lại, văn học còn tiếp cận, khai thác, miêu tả, tái hiện văn hóa trong tác phẩm qua chất liệu ngôn từ và những phương thức thể hiện độc đáo. Chính vì vậy, văn hóa hiện lên trong tác phẩm văn học không chỉ đa dạng trên mọi phương diện mà còn sinh động, lung linh, đầy chất nghệ thuật.
Có nhiều con đường chuyển tải văn hóa, trong đó, thông qua tác phẩm văn học được xem là con đường ngắn và hiệu quả nhất. Bởi vì, như chúng ta đã biết, văn học có sức lan tỏa và tác động rất lớn, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, dân tộc và các nền văn hóa khác nhau.