Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Nông thôn Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa 1. Khái niệm về “văn hóa” và “văn hóa nông thôn” Thế khỉ XXI, thế kỉ của sự hội nhập và phát triển về mọi mặt, sự đổi thay khiến con người ta thấy bất ngờ. Và trong sự vui mừng đón nhận nhịp điệu của cuộc sống mới, chúng ta vẫn luôn chạnh lòng khi những giá trị thuộc về văn hóa truyền thống đang dần bị mai một, đang dần bị lãng quên trong thế hệ trẻ mà sự ảnh hưởng của nó không chỉ ở các thành phố lớn, nó đang len lỏi vào sâu từng ngóc ngách ở nơi làng quê xưa vốn thanh bình.
Cũng chính bởi vậy mà khái niệm về “văn hóa” được nhắc đến nhiều hơn. “Văn hóa” vốn không còn là khái niệm xa lạ nhưng nó được biết nhiều hơn, được phổ biến rộng rãi hơn trong thế kỉ này. Có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa” được các nhà nghiên cứu đưa ra, mỗi định nghĩa đều đề cập đến những khía cạnh, những đặc trưng của văn hóa. UNESSCO đã đưa ra một khái niệm về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở Văn hóa Việt Nam cũng đưa ra nhận định của mình về “văn hóa”, theo ông “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn , trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Cũng theo đó Edouard Herriot, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp đã có câu nói bất hủ “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” [47, tr. 8 Có thể thấy rằng, trong quá trình phát triển của loài người, của một quốc gia, văn hóa có một vị trí vô cùng quan trọng, là yếu tố sống còn. Nhận thức được điều này, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh” [47, tr.i] Từ những nhận định của các nhà nghiên cứu có thể thấy : Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là sự tổng hòa của tất cả các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh.
Văn hóa tồn tại cả hữu thức và vô thức trong mỗi con người. Để hiểu về khái niệm “văn hóa nông thôn” trước hết chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm “nông thôn” Nông: là chỉ nghề nông nghiệp. Thôn: Là từ Hán Việt chỉ đơn vị hành chính cấp dưới xã, là một phần của làng hoặc tương đương với một làng nhỏ. Như vậy có thể thấy, nông thôn là khu vực hành chính mà ở đó cư dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, lấy sự phát triển nông nghiệp làm đầu.
Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, Việt Nam có nhiều vùng miền, nhiều dân tộc khác nhau bởi vậy mà nông thôn ở từng vùng , từng miền lại có những đặc điểm khác nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu nông thôn thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn là vùng nông thôn với những đặc điểm tiêu biểu nhất, rất ổn định và mang tính khái quát cao. Nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ mang những đặc trưng văn hóa của người Việt, đây cũng là nơi mà các sáng tác của Nam Cao tập trung hướng đến. Qua đó có thể thấy, văn hóa nông thôn là tất cả những giá trị thuộc về mặt vật chất cũng như tinh thần tồn tại trong không gian nông thôn , những giá trị ấy được bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đặc trưng cơ bản của văn hóa nông thôn Việt Nam 1. Tính cộng đồng Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên tính cộng đồng. Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại. Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là hình ảnh sân đình, bến nước, cây đa.
Làng nào cũng có một cái đình, đây chính là trung tâm văn hóa, chính trị của cả làng. Đây là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng từ hội họp, thu sưu thuế cho đến việc diễn ra các lễ hội văn hóa như diễn chèo, tuồng. Không chỉ vậy, đình còn là trung tâm về mặt tôn giáo, nơi đây thờ Thành Hoàng làng, bảo vệ cho cả làng. Chính vì giữ những vị trí quan trọng như vậy mà hình ảnh mái đình còn chi phối tình cảm của những con người nông thôn.
Nhắc đến nông thôn, đặc biệt là những ai đi xa khi nhớ về quê hương của mình họ thường nghĩ ngay đến mái đình chứ không phải ngôi nhà của mình: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu. Bên cạnh cái đình làng, hình ảnh cây đa, bến nước cũng là một biểu tượng quen thuộc ở nông thôn. Nếu bến nước là nơi hàng ngày những người phụ nữ giặt giũ, chuyện trò thì cây đa lại có quán nước, là nơi nghỉ chân của những người đi làm đồng, những khách qua đường. Nơi đây họ trò chuyện, giao lưu, gặp gỡ nhau để từ đó gắn kết hơn với mọi người trong làng và với cả thế giới bên ngoài.
Do đặc trưng lối sống của nông thôn là tính tập thể, bởi vậy con người nơi đây luôn đoàn kết gắn bó với nhau như anh em trong gia đình. Trong quan hệ ứng xử giữa con người với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọng tình. Do quá trình sản xuất nông nghiệp đòi hỏi con người phải sống gắn bó và lâu dài với nhau tạo ra một cuộc sống hòa 10 thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu. Cũng vì thế mà bên cạnh những mặt tích cực từ lối sống này tạo nên thì nó cũng nảy sinh không ít những tiêu cực.
Lối sống trọng tình đã dẫn đến cách ứng xử hết sức linh hoạt và thích ứng nhanh với điều kiện hoàn cảnh cụ thể: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. hay Đi với bụt mặc áo cà sa Đi với ma mặc áo giấy Với nhu cầu sống hòa thuận trên cơ sở cái gốc là tình cảm giữa con người với nhau trong làng xóm càng làm cho lối sống linh hoạt trở nên đậm nét và chính là cơ sở của tâm lý hiếu hòa trong các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tôn trọng và cư xử bình đẳng với nhau. Lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ là những đặc điểm tích cực, nhưng mặt trái của nó là đặc điểm tâm lý áp đặt, tuỳ tiện, tâm lý "hòa cả làng", coi thường phép nước: "Phép vua thua lệ làng". Sức mạnh của tính cộng đồng còn thể hiện hiện ở tinh thần đùm bọc, yêu thương nhau.
Mọi người có trách nhiệm cưu mang, hỗ trợ nhau nhau về vật chất, tinh thần và dìu dắt, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị (Một người làm quan cả họ được nhờ). Tuy nhiên, cũng vì sự đoàn kết gắn bó mà ý thức về cá nhân bị thủ tiêu dẫn đến thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông đưa đến tình trạng Cha chung không ai khóc là điều rất phổ biến. Cũng từ đó, một nhược điểm của của người nông dân là tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn cho ai hơn mình (để cho tất cả mọi người đồng nhất, như nhau) - Xấu đều hơn tốt lỏi. Như vậy có thể thấy, tính cộng đồng trong lối sống của người Việt có rất nhiều điểm tích cực.
Chính đặc trưng văn hóa này đã tạo nên truyền thống tốt đẹp, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết để đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, cũng không thể không nói đến những tiêu cực do đặc 11 trưng này tạo ra vì vậy cần phải điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.2 Tính tự trị Nông thôn Việt Nam với nét tiêu biểu là cấu trúc làng xã mà sản phẩm đặc trưng chính là tính tự trị: làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào biệt lập với triều đình phong kiến. Chính điều này tạo nên truyền thống Phép vua thua lệ làng. Đây là đặc trưng âm tính, hướng nội.
Biểu hiện rõ nhất của tính tự trị trong văn hóa nông thôn Việt Nam đó là hình ảnh lũy tre. Lũy tre bao kín làng tạo một thành trì kiên cố bất khả xâm phạm. Cũng giống như tính cộng đồng, tính tự trị cũng mang lại nhiều mặt tích cực. Đầu tiên đó là tính tự lập, mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc.
Bên cạnh đó, tính tự trị cũng tạo nên đức tính cần cù cho người nông dân Việt Nam. Sở dĩ có điều này vì mỗi làng phải tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình. Mặt khác, vì tính tự trị này mà người nông dân Việt Nam đã nảy sinh nhiều thói xấu. Mỗi người chỉ biết lo, biết giữ của riêng mình Ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ.
Vì làng nào biết làng ấy nên đã nảy sinh bè phái, địa phương cục bộ: Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn Một thói xấu nữa nảy sinh từ tính tự trị là óc gia trưởng tôn ti. Chính điều này trở thành một vật cản đáng sợ cho sự phát triển của xã hội. Nó càng trở nên nghiêm trọng hơn khi mà thói gia đình chủ nghĩa đang là một căn bệnh lan tràn. Những người đàn ông đứng đầu gia đình thường tự mình quyết định mọi việc, áp đặt tâm lý lên các thành viên khác, tạo nên những thứ bậc vô lý.
Đặc điểm môi trường sống đã quy định tính cách của con người Việt Nam, đặc biệt là những người ở nông thôn khi cuộc sống gắn liền với nông nghiệp lúa nước. Họ vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ lại có óc tư hữu ích kỉ và thói cào bằng.