CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 1. Diễn ngôn Khi nghiên cứu về diễn ngôn, người ta nghiên cứu cả mặt ngôn ngữ nói và viết. Ngôn ngữ viết hay văn bản là một thuật ngữ khoa học dùng để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp.
Văn bản là một dữ liệu in ấn khá quen thuộc dùng trong nghiên cứu văn học hay rất nhiều ngành khoa học khác. Một văn bản có thể được trình bày theo những hình thức khác nhau nhưng nội dung văn bản thì giống nhau. Văn bản và diễn ngôn là hai khái niệm cơ bản của phân tích diễn ngôn nhưng đôi khi hai khái niệm này vẫn được dùng thay thế cho nhau. Văn bản được hiểu theo hai phương diện: sản phẩm và quá trình.
Điều này là do các nghiên cứu coi văn bản là một sản phẩm thực thể có thể ghi lại được, có cấu trúc nhất định (sản phẩm); hay văn bản là sự lựa chọn nghĩa liên tục, một quá trình vận động qua các ngữ vực và mỗi loạt lựa chọn lại tạo môi trường cho các loạt lựa chọn khác (quá trình). Khái niệm diễn ngôn được nằm trong sự đối chiếu với khái niệm văn bản. Crystal định nghĩa: “Diễn ngôn là một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, hay một chuyện tiếu lâm hay chuyện kể”, còn “Văn bản là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích. Đây thường là một đơn vị ngôn ngữ có một chức năng giao tiếp có thể xác định được như một cuộc hội thoại hay tấm áp phích.” Theo Diệp Quang Ban [6, 212], có ba giai đoạn cơ bản trong sử dụng hai khái niệm này như sau: 10 “Giai đoạn 1: Văn bản (text) chỉ chung các sản phẩm ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc, liên kết.
Giai đoạn hai: vấn đề ngôn ngữ được quan tâm nhiều hơn, tạo thế cân bằng với sự kiện nói bằng ngôn ngữ. Hai thuật ngữ này được sử dụng song song. Tuy nhiên, có xu hướng sử dụng thuật ngữ “văn bản” để chỉ những sự kiện nói bằng chữ viết, khái niệm “diễn ngôn” chỉ sự kiện nói bằng miệng. Giai đoạn ba: nảy sinh khó khăn trong việc phân định rạch ròi giữa dạng nói và dạng viết.
Thuật ngữ “diễn ngôn” được sử dụng như thuật ngữ “văn bản” sử dụng trong giai đoạn đầu, chỉ chung cả sự kiện nói bằng miệng lẫn sự kiện nói bằng chữ viết”. Tiếp thu những quan điểm trên, Nguyễn Hòa [23, 32] phân biệt hai khái niệm diễn ngôn và văn bản như sau: “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn ảnh giao tiếp xã hội cụ thể.” “Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể.” “Diễn ngôn” - với tư cách là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh - phải có tính chủ đề. Chủ đề tạo nên tính thống nhất về mặt nội dung của diễn ngôn. Tính mạch lạc của diễn ngôn được tạo nên không chỉ bởi các yếu tố liên kết mà còn nhờ sự tổ chức các yếu tố ngôn ngữ sao cho hợp lý”.
33] Trên thực tế, rất khó phân định rạch ròi giữa hai khái niệm trên bởi lẽ chúng luôn có sự đan cài - trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái văn bản. Theo Nguyễn Hòa, các khía cạnh của “phân tích văn bản” bao gồm các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin, kiểu loại diễn ngôn, cấu trúc diễn ngôn. Còn các khía cạnh của diễn ngôn sẽ bao gồm mạch lạc, các hành động nói, sử dụng kiến thức nền… Trong các từ điển ngôn ngữ phổ thông, diễn ngôn thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, diễn ngôn là sự giao tiếp bằng tiếng nói (cuộc trò chuyện, 11 lời nói, bài phát biểu…).
Thứ hai, diễn ngôn là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, luận văn, các sản phẩm của suy luận…) Cả hai định nghĩa thông dụng này đều xem diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ. Trong hai trường hợp này diễn ngôn là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, được đồng nhất với văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết). Cũng chính từ cách hiểu phổ biến này mà hướng phân tích diễn ngôn thường bị nhầm lẫn về mặt bản chất với phân tích văn bản. Văn bản là khái niệm được khai thác sâu sắc bởi hướng tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc, trong tương quan phân biệt với tác phẩm.
Văn bản là hình thức tồn tại của tác phẩm, nhấn mạnh khái niệm văn bản là nhấn mạnh đến cấu trúc nội tại của tác phẩm, hệ thống tổ chức ngôn ngữ, tổ chức hình tượng nhằm chuyển tải được ý nghĩa. Văn bản chỉ là dạng thức tồn tại cụ thể của diễn ngôn mà thôi. Và một diễn ngôn không chỉ tồn tại trên một văn bản, diễn ngôn là hiện tượng xuyên văn bản, liên văn bản, thậm chí siêu văn bản. Để nhận diện một diễn ngôn, cần có cái nhìn xuyên qua, kết nối các văn bản có cùng một nội dung biểu đạt, cùng hướng tiếp cận đối tượng, sử dụng cùng một hệ biểu tượng… Sự kết nối này cũng không phải là một phép cộng giản đơn cho ra kết quả là diễn ngôn bằng các văn bản cộng lại.
Đó phải là sự nhìn nhận văn bản trong tính liên kết và liên tục tương tác với nhau và tương tác với các yếu tố ngoài văn bản có liên quan đến quá trình tạo lập văn bản. Trong bài biết Quan niệm diễn ngôn như là yếu tố siêu ngôn ngữ của nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Juri Rudnev đã trích lại ý được diễn giải trong từ điển của Arutiunova: “diễn ngôn là văn bản có tính liên kết trong tổng hòa với các nhân tố ngoài ngôn ngữ, xã hội học, tâm lí học… và các nhân tố khác, còn văn bản được xem xét về phương diện sự kiện.” Diễn ngôn không là một kiểu cấu trúc văn bản, một công thức biểu đạt cụ thể mà là một cơ chế văn hóa tinh thần trừu tượng thống nhất các văn bản và chi phối đến quá trình tạo lập và sự tồn tại của văn bản. Diễn ngôn là sự tổng hòa các mối quan hệ của bối cảnh lịch sử, môi trường xã hội, tâm lí chủ thể, những giới hạn ngôn ngữ, định kiến văn hóa,… đến văn bản và quan hệ giữa các văn 12 bản trong sự tương tác, ảnh hưởng, chi phối, giới hạn lẫn nhau. Như vậy diễn ngôn không phải là văn bản nhưng luôn luôn có mặt trong văn bản, nó là một siêu văn bản.
Phân tích diễn ngôn 1. Phân tích diễn ngôn Diệp Quang Ban quan niệm: Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc) [6, tr. Các yếu tố đặc trưng trong phân tích diễn ngôn Trong phân tích diễn ngôn có trường (field), không khí (tenor) và cách thức (mode). Cả ba yếu tố này đều có tác động chi phối lớn đến đặc điểm của diễn ngôn.
Trường của diễn ngôn Theo M.A Halliday, “trường phản ánh chức năng xã hội, là những gì đang thực sự xảy ra trong diễn ngôn, là tính chủ động xã hội được thực hiện, là sự kiện tổng quát mà các tham thể dự phần vào với một mục đích nhất định. Trường thể hiện bản chất tương tác xã hội thông qua đề tài - chủ đề nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, không nên lẫn lộn trường diễn ngôn với đề tài- chủ đề của văn bản, bởi trường có tầm bao quát hơn nhiều”. Trong một diễn ngôn, nếu trường thay đổi thì sẽ kéo theo các yếu tố khác cũng có những điểm cần chú ý khi phân tích diễn ngôn đó. Chẳng hạn, cùng là ngữ vực văn hoá, nhưng trường ẩm thực, về mặt tương tác xã hội sẽ rất khác biệt với trường y phục.
Tuy chúng có chung không khí diễn ngôn là mối quan hệ giữa người viết với đại đa số công chúng bạn đọc mà mục đích chung, là đọc văn bản là để hiểu biết. Và cũng có thể có cùng thức diễn ngôn, đó là 13 hình thức viết nhưng chúng không nhất quán. Điều làm nên sự khác biệt là chính là ở trường diễn ngôn. Không khí của diễn ngôn Không khí của diễn ngôn chỉ ra các vai tham gia, vị thế xã hội, trạng thái tâm sinh lí, mối quan hệ, các kiểu quan hệ của những người tham gia giao tiếp.
Thực chất, đó chính là các nhân vật tham gia giao tiếp và mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp. Dựa vào các vai quan hệ xã hội được xác lập này, chúng ta có thể đánh giá ngôn ngữ là trang trọng, lịch sự hay thân mật, suồng sã,. Không khí chính là nơi hiện thực hóa các quyết định lựa chọn về chức năng liên nhân của người sử dụng ngôn ngữ. Khi không khí thay đổi thì một số yếu tố trong diễn ngôn cũng thay đổi.
Cùng chung ngữ vực thị hiếu thẩm mỹ, trường diễn ngôn được hạn định trong việc ăn mặc, thức là trình bày trực tiếp thông qua hình thức diễn ngôn nói nhưng rõ ràng sự góp ý của người ái mộ với một ca sĩ, với người mẫu; sự góp ý của thầy cô giáo với các đối tượng học trò của mình; sự góp ý của các bậc phụ huynh với con em mình, là hoàn toàn khác nhau. Đó không gì khác là do quan hệ liên nhân quy định hay nói cách khác là do không khí quy định. Hiển nhiên, xuất phát từ những ngữ vực khác nhau, dựa vào trường (field), cách thức (mode) và không khí (tenor), chúng ta không những có thể chỉ ra một số đặc điểm của diễn ngôn mà còn có thể giải thích được, thậm chí có thể cung cấp một số thủ pháp quan yếu để tạo lập cũng như nhận hiểu diễn ngôn cho người bản ngữ cũng như người học ngoại ngữ.