Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Dương Thị Thúy Vinh, chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số 92 201 02) tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Bùi Minh Toán và PGS.TS Nguyễn Văn Lộc (hoàn thành năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lí thuyết hành động ngôn ngữ (speech act) do nhà triết học John Langshaw Austin khởi xướng và được John Searle cùng nhiều nhà ngôn ngữ học phát triển đã xác lập quan điểm "nói tức là làm", chuyển trọng tâm nghiên cứu ngôn ngữ từ cấu trúc hình thức sang mặt chức năng, ý nghĩa gắn với mục đích của người nói và ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương ngày càng được chú trọng, đặc biệt là trong việc hỗ trợ giảng dạy môn Ngữ văn và Ngữ dụng học.
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một kiệt tác văn học đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ ngôn ngữ và thi pháp học. Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ ra rằng trước đây chỉ mới có một số luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học khảo sát từng khía cạnh riêng lẻ (như hành vi cầu khiến, hành vi cảm thán, hoặc một kiểu câu cụ thể), mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về toàn bộ hệ thống hành động ngôn ngữ (cả trực tiếp và gián tiếp) trong toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều. Việc thực hiện luận án nhằm khỏa lấp khoảng trống này, làm sáng tỏ đặc trưng sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Du và bổ sung cơ sở thực nghiệm cho lí thuyết ngữ dụng học trên cứ liệu truyện thơ tiếng Việt.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ đặc điểm của hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều trên các phương diện: tính chất, phương thức biểu hiện, các tiểu loại, mối liên hệ với phân loại câu theo mục đích nói, cùng vai trò của chúng trong việc khắc họa tính cách nhân vật và thể hiện tư tưởng tác giả; đồng thời đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện để làm nổi bật sáng tạo riêng của Nguyễn Du.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 5 nội dung đánh số:
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài (làm rõ các khái niệm, khung lí thuyết liên quan) nhằm tạo tiền đề nhận diện, phân loại và miêu tả các hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều.
- Thống kê và phân loại các hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du theo các tiêu chí xác định.
- Miêu tả các nhóm hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều theo cách thể hiện trực tiếp và gián tiếp, phân biệt trong lời kể chuyện của tác giả và lời hội thoại của nhân vật.
- Phân tích vai trò của các hành động ngôn ngữ đối với việc khắc họa tính cách nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.
- So sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân về phương thức thể hiện gián tiếp các hành động ngôn ngữ, qua đó chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai văn bản, hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống hành động ngôn ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Phạm vi nghiên cứu: Các hành động ngôn ngữ ở lời (bao gồm hành động trực tiếp và hành động gián tiếp) xuất hiện trong văn bản.
- Nguồn ngữ liệu khảo sát: Văn bản Truyện Kiều của Nguyễn Du theo ấn bản do Đào Duy Anh khảo cứu trong công trình Từ điển Truyện Kiều (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974).
- Ngữ liệu đối chiếu: Tác phẩm văn xuôi chữ Hán Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thông qua bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh, do Nguyễn Đăng Na hiệu đính (Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:
Các nghiên cứu lí thuyết về hành động ngôn ngữ ở nước ngoài
- John Langshaw Austin (1962): Đặt nền móng với tác phẩm How to Do Things with Words (bản dịch tiếng Pháp: Quand dire, c'est faire), phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi; xác lập 3 loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời/tại lời (illocutionary act), hành vi mượn lời (perlocutionary act). Austin đề xuất 5 lớp hành vi tại lời: Phán xét, Hành xử, Cam kết, Ứng xử, Bày tỏ.
- John Searle (1969, 1975, 1979): Hoàn thiện và chuẩn hóa lí thuyết với 3 tiêu chí phân loại hành vi ở lời (hướng ăn khớp giữa lời nói và hiện thực, trạng thái tâm lí được biểu hiện, mục đích của phát ngôn). Searle phân chia thành 5 lớp: Lớp biểu hiện/trình bày (assertives/representatives), Lớp chi phối/điều khiển (directives), Lớp cam kết (commissives), Lớp biểu cảm (expressives), Lớp tuyên bố (declarations). Searle cũng là người đề xuất khung lí thuyết về hành vi tại lời gián tiếp (indirect speech acts), phân định hành vi tại lời chính yếu (primary illocutionary act) và hành vi tại lời thứ yếu (secondary illocutionary act), cùng 5 điều kiện sử dụng hành vi ở lời.
- George Yule (1996), François Recanati (1981): Luận giải cơ chế hành động trực tiếp (khi có tương ứng 1-1 giữa cấu trúc và chức năng) và gián tiếp (khi cấu trúc và chức năng lệch pha), phân tích vai trò của động từ ngôn hành (performative verbs - Vp) và quy tắc ngữ dụng hội thoại.
- Dieter Wunderlich (1979), Kent Bach và Robert M. Harnish (1979): Đưa ra các mô hình phân loại bổ sung về hành vi ngôn ngữ.
Các nghiên cứu về lí thuyết và hành động ngôn ngữ cụ thể tại Việt Nam
- Về lí thuyết chung và phân loại câu:
- Cao Xuân Hảo (2004, 2007): Trong Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng và Câu trong tiếng Việt, tác giả tiếp thu Austin và Searle, phân loại câu tiếng Việt theo lực ngôn trung thành câu trình bày, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, khẳng định/phủ định.
- Đỗ Hữu Châu (2003): Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập hai - Ngữ dụng học, tác giả phân tích khái niệm phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi, cấu trúc nghĩa của phát ngôn (lực ở lời + nội dung mệnh đề), và chỉ ra 6 vấn đề tồn tại của lí thuyết hành vi ở lời.
- Nguyễn Đức Dân (2000): Trong Ngữ dụng học, tập một, tác giả hệ thống hóa 3 bậc hành vi, phân tích sâu cơ chế hành vi gián tiếp với tính hai mặt giữa hành vi chính yếu và thứ yếu.
- Nguyễn Thiện Giáp (2000, 2016, 2018): Trong Dụng học Việt ngữ, Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, Ngữ dụng học - Từ lí thuyết đến thực tiễn tiếng Việt, tác giả sử dụng các thuật ngữ hành động tại lời, ngoài lời, sau lời; phân tích ranh giới giữa động từ ngôn hành và động từ trình bày.
- Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương (2010): Nghiên cứu về ngữ dụng học và cấu trúc ngữ nghĩa ngữ dụng của câu.
- Về các hành động ngôn ngữ chuyên biệt:
- Hà Thị Hải Yến (2006): Luận án tiến sĩ Hành vi cảm thán và sự kiện nói cảm thán trong tiếng Việt.
- Hà Thị Hồng Mai (2013): Luận án tiến sĩ Hành động hỏi trong ca dao người Việt.
- Nguyễn Thị Hài (2013): Luận án tiến sĩ Hành động cầu khiến trong ca dao người Việt.
- Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016): Chuyên khảo Các hành động cầu khiến tiếng Việt (phân loại chi tiết cầu khiến thiên lí trí, thiên tình cảm, trung hòa, đặc biệt).
Các nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều
- Quách Thị Bình Thơ (2005): Luận văn thạc sĩ Cách sử dụng trực tiếp và gián tiếp các kiểu câu trong Truyện Kiều, bước đầu phân loại các kiểu câu theo hành vi ngôn ngữ nhưng chủ yếu tập trung vào câu hỏi, ba kiểu câu còn lại chỉ đề cập sơ lược.
- Đặng Thị Thu Hương (2006): Luận văn thạc sĩ Tìm hiểu các phương tiện thể hiện hành động cầu khiến trong "Truyện Kiều", tập trung khảo sát các phương tiện biểu đạt hành động cầu khiến.
- Phạm Kim Thoa (2009): Luận văn thạc sĩ Hành động cảm thán trong Truyện Kiều, phân loại hành vi cảm thán trực tiếp, gián tiếp và phương tiện từ ngữ cảm thán.
- Bùi Minh Toán (2010): Bài báo khoa học Lí thuyết "hành động ngữ" với đoạn thơ "Trao duyên" trong Truyện Kiều, phân tích hệ thống hành động ngôn ngữ của nhân vật Thúy Kiều (thỉnh cầu, bộc bạch, trần thuật, xin lỗi, tự lên án...).
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Luận án định vị việc nghiên cứu toàn diện cả 6 nhóm hành động ở lời (trực tiếp và gián tiếp), phân lập rành mạch giữa lời tác giả và lời nhân vật, giải quyết mối quan hệ giữa phân loại hành động ở lời với phân loại câu theo mục đích nói truyền thống, đồng thời tiến hành đối chiếu liên văn bản với nguyên tác văn xuôi chữ Hán Kim Vân Kiều truyện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lí thuyết và khái niệm công cụ
- Khái niệm hành động ngôn ngữ: Được xác định là hành động thực hiện bằng lời nói (speech act). Bao gồm ba bậc hành động theo Austin: hành động tạo lời, hành động ở lời (tại lời) và hành động mượn lời. Trọng tâm nghiên cứu là hành động ở lời.
- Khung phân loại 6 nhóm hành động ở lời: Luận án kế thừa mô hình 5 lớp của J. Searle nhưng có sự điều chỉnh quan trọng: tách nhóm "chi phối/điều khiển" thành hai nhóm độc lập là hành động cầu khiến và hành động hỏi để tương thích với đặc trưng ngữ pháp tiếng Việt. Hệ thống 6 nhóm gồm:
- Nhóm hành động trình bày (biểu hiện): Khẳng định, phủ định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích, nhận định, dự báo...
- Nhóm hành động hỏi: Tìm kiếm thông tin, xác nhận, nghi vấn...
- Nhóm hành động cầu khiến: Ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, cấm, khuyên, mời, nhờ, thách, cho phép, van xin...
- Nhóm hành động biểu cảm: Cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, than vãn, bộc lộ trạng thái cảm xúc...
- Nhóm hành động cam kết: Hứa hẹn, cam đoan, thề bồi, giao ước...
- Nhóm hành động tuyên bố: Tuyên bố, kết tội, tuyên án, tuyên xử...
- Phân định trực tiếp và gián tiếp:
- Hành động trực tiếp: Có sự tương ứng đơn vị 1-1 giữa hình thức ngữ pháp (cấu trúc câu, biểu thức ngôn hành) và chức năng (đích ở lời).
- Hành động gián tiếp: Được thực hiện thông qua một hành động ở lời khác; tồn tại đồng thời hành động ở lời thứ yếu (bề mặt cấu trúc) và hành động ở lời chính yếu (đích thực tế).
- Điều kiện sử dụng hành vi ở lời của J. Searle: Điều kiện chung, điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện ban đầu (chuẩn bị), điều kiện chân thực (chân thành), điều kiện thiết yếu (cơ bản).
- Tiêu chí nhận diện vị từ ngôn hành và câu ngữ vi:
- Chủ ngữ thuộc ngôi thứ nhất;
- Bổ ngữ của vị từ ngôn hành thuộc ngôi thứ hai;
- Động từ thể hiện hành động diễn ra tại thời điểm phát ngôn, không đi kèm các phụ từ chỉ thời gian/thể (đã, sẽ, đang, vừa, mới, rồi...).
- Mối quan hệ với phân loại câu truyền thống: Luận án chứng minh rằng cách phân loại câu theo mục đích nói trong ngữ pháp truyền thống (câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán) thực chất dựa trên đích phát ngôn điển hình, có sự tương ứng căn bản với các lớp hành động ở lời trong ngữ dụng học.
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt phát ngôn vào chỉnh thể văn bản, liên kết mạch lạc, ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để xác định đích ở lời.
- Phương pháp miêu tả: Thống kê số lượng, xác lập đặc điểm cấu tạo, phân loại tiểu nhóm và phân tích chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức ngôn ngữ học kết hợp với thi pháp học văn học, văn hóa học và bối cảnh lịch sử.
- Phương pháp đối chiếu: Sử dụng như phương pháp bổ trợ nhằm so sánh cách thức biểu hiện hành động gián tiếp giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện.
- Thủ pháp nghiên cứu: Thống kê phân loại, hệ thống hóa, tổng hợp.
Nguồn tư liệu và quy ước xử lí dữ liệu
Văn bản Truyện Kiều được phân đoạn thành các phát ngôn (PN) dựa trên dấu hiệu ngữ pháp kết thúc câu (dấu chấm, dấu chấm than, dấu chấm hỏi). Mỗi phát ngôn được quy ước tương ứng với một hành động ngôn ngữ chính yếu để thống kê, phân tích.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn
Chương này dành cho việc tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu lí thuyết hành vi ngôn ngữ ở phương Tây và Việt Nam, các nghiên cứu chuyên biệt về từng hành vi ngôn ngữ và các nghiên cứu ứng dụng trên văn bản Truyện Kiều. Tác giả xác lập khung lí luận ngữ dụng học (Austin, Searle, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hảo...), phân tích các yếu tố lịch sử, văn hóa thời đại tác động đến ngôn ngữ tác phẩm, đồng thời khảo sát vị trí của Truyện Kiều và nội dung dạy học hành động ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
Chương 2: Hành động ngôn ngữ trực tiếp trong Truyện Kiều
Chương 2 tập trung phân loại, miêu tả cấu trúc và phân tích giá trị biểu đạt của các nhóm hành động ngôn ngữ trực tiếp:
- Khái quát và phân loại: Khảo sát các phát ngôn trực tiếp thông qua các dấu hiệu hình thức ngữ pháp, vị từ ngôn hành và hư từ chuyên dụng.
- Các nhóm hành động trực tiếp được khảo sát:
- Nhóm hành động trình bày: Miêu tả bối cảnh, tự sự diễn biến sự kiện, nhận định tính cách.
- Nhóm hành động điều khiển (cầu khiến và hỏi): Khảo sát các phát ngôn cầu khiến mang vị từ ngôn hành, phụ từ mệnh lệnh (hãy, đi, đừng, chớ...), cùng các phát ngôn hỏi trực tiếp trong lời tác giả và nhân vật.
- Nhóm hành động biểu cảm: Bộc lộ trực tiếp trạng thái cảm xúc, than thở, trách móc.
- Nhóm hành động cam kết: Lời thề nguyền, hẹn ước giữa các nhân vật (Kim - Kiều, Thúc Sinh - Kiều...).
- Nhóm hành động tuyên bố: Xuất hiện trong các bối cảnh xét xử, định đoạt số phận (đoạn Từ Hải xử án, quan lại xét xử).
- Vai trò nghệ thuật: Thể hiện thái độ, tư tưởng nhân đạo của tác giả Nguyễn Du; tham gia trực tiếp vào việc cá tính hóa ngôn ngữ và xây dựng hình tượng nhân vật (Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân, Hoạn Thư, Từ Hải, Mã Giám Sinh...).
Chương 3: Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong Truyện Kiều
Chương 3 là phần trọng tâm phân tích cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn và tính đa tầng của ngôn ngữ nghệ thuật:
- Xác định và phân loại: Phân tích cơ chế chuyển giao giữa hành vi thứ yếu (bề mặt hình thức) và hành vi chính yếu (đích thực tế) dựa trên quan hệ cấu trúc - chức năng và ngữ cảnh.
- Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong lời tác giả:
- Qua hành động trình bày: Tác giả trần thuật sự việc để gián tiếp bộc lộ sự đồng cảm, xót thương hoặc phê phán hiện thực.
- Qua hành động hỏi: Sử dụng câu hỏi tu từ để gián tiếp khẳng định, phủ định, cảm thán hoặc chất vấn định mệnh, xã hội bất công.
- Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong lời nhân vật:
- Gián tiếp qua hành động trình bày: Nhân vật giãi bày hoàn cảnh để gián tiếp cầu xin, từ chối hoặc nhắc nhở.
- Gián tiếp qua hành động hỏi: Nhân vật hỏi để bộc lộ nỗi đau đớn, trách móc, khuyên nhủ hoặc biểu lộ tình cảm.
- Gián tiếp qua hành động cầu khiến và biểu cảm: Lời cầu khiến nhằm mục đích gián tiếp bày tỏ sự tự ti, cam chịu hoặc thăm dò.
- Vai trò của hành động gián tiếp: Tăng cường tính hàm súc, tinh tế cho thi phẩm, làm nổi bật chiều sâu nội tâm phức cảm của nhân vật.
- Đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân:
- So sánh tỷ lệ và cách thức sử dụng hành động gián tiếp trong thể loại văn xuôi tự sự chữ Hán với thể loại truyện thơ lục bát chữ Nôm.
- Chỉ ra điểm giống nhau về cốt truyện nhưng khác biệt sâu sắc về phương thức thể hiện gián tiếp: Nguyễn Du chuyển hóa nhiều đoạn đối thoại dài, trực diện của tiểu thuyết chương hồi thành các cấu trúc phát ngôn gián tiếp giàu nhạc điệu, đậm chất trữ tình và hàm súc văn hóa Việt.
Tổng hợp danh mục bảng thống kê trong luận án
Luận án thiết lập hệ thống bảng biểu định danh cụ thể để phân loại ngữ liệu:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng thống kê trong văn bản luận án |
| Bảng 1 |
Sự thể hiện các hành động ở lời qua các loại câu |
| Bảng 2 |
Phân loại HĐNN theo kiểu phát ngôn |
| Bảng 3 |
Phân loại HĐNN trực tiếp theo lời tác giả trùng với suy nghĩ nhân vật |
| Bảng 4 |
Phân loại HĐ cầu khiến có phụ từ, động từ |
| Bảng 5 |
Phân loại HĐNN cầu khiến theo vị từ ngôn hành |
| Bảng 6 |
Hành động hỏi trực tiếp trong lời tác giả và lời nhân vật |
| Bảng 7 |
Phân loại HĐNN theo hình thức ngữ pháp |
| Bảng 8 |
Phân loại HĐNN GT theo chủ thể phát ngôn |
| Bảng 9 |
Phân loại HĐNN GT trong lời tác giả qua HĐ trình bày |
| Bảng 10 |
Phân loại HĐNN GT qua HĐ hỏi có dấu hỏi cuối câu |
| Bảng 11 |
Phân loại HĐNN GT qua HĐ hỏi có dấu hỏi cuối câu theo chủ thể phát ngôn |
| Bảng 12 |
Phân loại HĐNN GT qua HĐ hỏi không có dấu hỏi cuối câu |
| Bảng 13 |
Phân loại PN thể hiện HĐNN GT trong hai tác phẩm |
| Bảng 14 |
Phân loại HĐNN GT qua HĐ trình bày trong hai tác phẩm |
| Bảng 15 |
Phân loại HĐNN GT qua HĐ hỏi trong hai tác phẩm |
| Bảng 16 |
Phân loại HĐNN GT theo chủ thể phát ngôn trong hai tác phẩm |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Bổ sung lí thuyết hành động ngôn ngữ trên ngữ liệu truyện thơ: Hệ thống hóa và làm rõ ranh giới giữa các loại hành động ở lời, tiêu chí phân loại và nhận diện hành động ngôn ngữ trong phát ngôn thơ ca – vốn có đặc thù gò bó về thi luật và tính hàm súc cao hơn văn xuôi.
- Làm rõ mối quan hệ giữa Ngữ dụng học và Ngữ pháp truyền thống: Chứng minh mối liên hệ tương ứng có căn cứ khoa học giữa phân loại hành động ở lời (Searle) với phân loại 4 kiểu câu theo mục đích nói truyền thống, giải tỏa các quan điểm phê phán cực đoan trước đó.
- Phân định ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật: Xác lập phương pháp phân tích sự đan xen giữa lời kể tác giả, lời độc thoại nội tâm và đối thoại nhân vật qua lăng kính hành động trực tiếp và gián tiếp.
- Cung cấp góc nhìn mới qua đối chiếu liên văn bản: Làm rõ quy luật chuyển đổi hành động ngôn ngữ từ tiểu thuyết chương hồi chữ Hán (Kim Vân Kiều truyện) sang truyện thơ lục bát Nôm (Truyện Kiều).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp minh chứng ngôn ngữ học cho giá trị tác phẩm: Làm sáng tỏ cụ thể nghệ thuật sử dụng từ ngữ, tổ chức đối thoại và khắc họa tâm lí nhân vật của Nguyễn Du qua các cứ liệu định lượng và miêu tả định tính.
- Ứng dụng phương pháp phân tích văn học: Đóng góp khung phương pháp tiếp cận ngữ dụng học có thể áp dụng cho việc nghiên cứu các tác phẩm truyện thơ và tác phẩm văn học khác.
- Tài liệu tham khảo chuyên ngành: Cung cấp tư liệu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên các ngành Ngôn ngữ Việt Nam, Văn học Việt Nam và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất các nhà quản lí giáo dục, tác giả biên soạn sách giáo khoa và sách tham khảo môn Ngữ văn chương trình giáo dục phổ thông tích hợp sâu hơn kiến thức Ngữ dụng học (đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn ngữ) vào việc phân tích tác phẩm văn học.
- Sử dụng các kết quả phân loại, thống kê của luận án để thiết kế các bài tập thực hành ngôn ngữ, trích đoạn phân tích tác phẩm Truyện Kiều và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ngữ văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được xác định từ phạm vi nghiên cứu
- Luận án tập trung chuyên sâu vào hành động ở lời (illocutionary act), chưa mở rộng khảo sát chi tiết toàn bộ các hành động mượn lời (perlocutionary act) và hiệu quả ngoài ngôn ngữ tương ứng.
- Ngữ liệu khảo sát giới hạn trong bản Truyện Kiều do Đào Duy Anh khảo cứu (1974); ngữ liệu đối chiếu giới hạn ở bản dịch tiếng Việt của Kim Vân Kiều truyện (2008).
- Phương pháp đối chiếu liên văn bản chỉ được áp dụng như một phương pháp bổ trợ đối với hành động gián tiếp, chưa mở rộng so sánh toàn diện tất cả các bình diện ngữ pháp và phong cách học.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mô hình phân tích hành động ngôn ngữ sang các tác phẩm truyện thơ Nôm khác trong văn học trung đại Việt Nam (như Lục Vân Tiên, Hoa tiên, Sơ kính tân trang).
- Khảo sát sâu hơn cơ chế tiếp nhận và hành vi mượn lời của độc giả qua các thời kì lịch sử đối với ngôn ngữ Truyện Kiều.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng học thuật và sư phạm:
-
Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học:
- Tham khảo Chương 1 về phương pháp tổng quan tài liệu và khung lí thuyết phân loại 6 nhóm hành động ở lời.
- Tham khảo phương pháp phân tích phát ngôn, tiêu chí xác định vị từ ngôn hành và cơ chế hành vi gián tiếp.
-
Nhà nghiên cứu văn học và giảng viên ngành Văn học Việt Nam:
- Tham khảo Chương 2 và Chương 3 để có thêm dẫn chứng ngôn ngữ học phục vụ phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và thi pháp Truyện Kiều.
- Khảo sát mục đối chiếu giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện nhằm đánh giá tài năng cải biên của Nguyễn Du.
-
Tác giả biên soạn chương trình, sách giáo khoa và giáo viên Ngữ văn phổ thông:
- Vận dụng các bảng thống kê và phân tích hành động hỏi, cầu khiến, biểu cảm làm ngữ liệu minh họa cho phần thực hành tiếng Việt (Ngữ dụng học) trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia hệ thống hành động ở lời trong Truyện Kiều thành mấy nhóm và có điểm gì điều chỉnh so với mô hình của John Searle?
Luận án phân chia thành 6 nhóm hành động ở lời: (1) Nhóm hành động trình bày, (2) Nhóm hành động hỏi, (3) Nhóm hành động cầu khiến, (4) Nhóm hành động biểu cảm, (5) Nhóm hành động cam kết, (6) Nhóm hành động tuyên bố. Điểm điều chỉnh so với mô hình 5 lớp gốc của J. Searle là tác giả đã chủ động tách lớp "Chi phối/Điều khiển" (directives) thành hai nhóm riêng biệt là hành động cầu khiến và hành động hỏi để tương thích với đặc trưng phân loại câu theo mục đích nói trong tiếng Việt.
2. Tác giả luận án căn cứ vào tiêu chí nào để nhận diện và phân lập đơn vị phát ngôn trong văn bản thơ lục bát?
Tác giả xem tác phẩm Truyện Kiều là sản phẩm của một quá trình giao tiếp nghệ thuật. Đơn vị phát ngôn được phân lập dựa trên dấu hiệu hình thức ngữ pháp kết thúc câu (gồm dấu chấm, dấu chấm than và dấu chấm hỏi). Luận án quy ước mỗi phát ngôn tương ứng với một hành động ngôn ngữ chính yếu (hành động có hiệu lực ở lời rõ nét nhất) để tiến hành thống kê và miêu tả.
3. Luận án giải quyết vấn đề tranh luận giữa phân loại hành động ở lời và phân loại câu theo mục đích nói như thế nào?
Luận án bảo vệ tính hợp lí của việc phân loại câu truyền thống (chia thành câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán), chứng minh rằng phân loại này thực chất dựa trên mục đích phát ngôn điển hình. Tác giả khẳng định giữa phân loại hành động ở lời trong ngữ dụng học và phân loại câu truyền thống có sự tương ứng căn bản, không hoàn toàn mâu thuẫn hay triệt tiêu lẫn nhau như một số quan điểm phê phán trước đó từng nêu.
4. Cơ chế phân biệt hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp được luận án vận dụng ra sao?
Cơ chế phân biệt dựa trên tính tương ứng giữa cấu trúc ngữ pháp và chức năng biểu đạt. Hành động trực tiếp có sự ăn khớp tuyệt đối giữa hình thức phát ngôn và đích ở lời. Hành động gián tiếp xuất hiện khi một hành vi ở lời được thực hiện thông qua một hành vi ở lời khác; trong đó tồn tại cấu trúc hai mặt gồm hành động ở lời thứ yếu (thể hiện ở cấu trúc bề mặt) và hành động ở lời chính yếu (mục đích giao tiếp thực tế cần đạt tới).
5. Việc đối chiếu Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện nhằm giải quyết mục đích gì trong luận án?
Việc đối chiếu văn bản chữ Nôm của Nguyễn Du với tác phẩm văn xuôi chữ Hán của Thanh Tâm Tài Nhân được thực hiện như một phương pháp bổ trợ tại Chương 3, tập trung vào phương thức thể hiện gián tiếp các hành động ngôn ngữ. Kết quả đối chiếu làm rõ sự khác biệt về thể loại (truyện thơ so với văn xuôi chương hồi) và khẳng định những sáng tạo riêng của Nguyễn Du trong việc Việt hóa, tinh giản đối thoại và tăng cường chất biểu cảm, hàm súc cho ngôn ngữ tác phẩm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hành động ngôn ngữ trong Truyện Kiều" của tác giả Dương Thị Thúy Vinh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về toàn bộ mạng lưới hành động ngôn ngữ ở lời trong kiệt tác của Nguyễn Du. Dựa trên khung lí thuyết ngữ dụng học kết hợp miêu tả định lượng và phân tích diễn ngôn, công trình đã làm rõ đặc điểm cấu tạo, phương thức biểu hiện trực tiếp – gián tiếp của 6 nhóm hành động ngôn ngữ trong lời tác giả và lời nhân vật. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cứ liệu truyện thơ cho lí thuyết hành động ngôn ngữ, làm sáng tỏ thêm giá trị nghệ thuật ngôn từ của Truyện Kiều, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn.