phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Vai trò ngữ pháp của quan hệ từ trong tác phẩm “Bỉ vỏ” của nhà văn Nguyên Hồng Chƣơng 3: Vai trò ngữ nghĩa, ngữ dụng của quan hệ từ trong tác phẩm “Bỉ vỏ” của nhà văn Nguyên Hồng. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Một số vấn đề về ngữ pháp chức năng và vấn đề ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng 1. Khái quát về ngữ pháp chức năng Trƣớc đây, với ngữ pháp học truyền thống, “ngôn ngữ được xem là một đối tượng trừu tượng, gồm tập hợp các câu, và ngữ pháp được hiểu như là cố gắng để đặc trưng hóa đối tượng này dưới dạng các quy tắc hình thức cú pháp độc lập với nghĩa và cách sử dụng” [S.Dik(2005) Ngữ pháp chức năng (Bản dịch của nhóm tác giả: Nguyễn Vân Phổ, Trần Thuỷ Vịnh, Nguyễn Hoàng Trung, Đào Mục Đích, Nguyễn Thanh Phong), Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, [tr.
Hệ luận là, với cách tiếp cận hình thức, ngữ pháp đƣợc xem là các quy tắc nội tại của ngôn ngữ, “võ đoán” với nghĩa và cách sử dụng. Để khắc phục những bất cập đó, ngữ pháp chức năng ra đời. Với cách tiếp cận chức năng, ngôn ngữ đƣợc xem nhƣ công cụ tƣơng tác xã hội, với mục đích tối hậu là thiết lập mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời để tổ chức xã hội. Những ngƣời theo quan điểm chức năng tự đặt cho mình nhiệm vụ hàng đầu là khám phá tính chất công cụ của ngôn ngữ nhƣ ở dạng nó đƣợc sử dụng trong giao tiếp.
Họ ƣu tiên chức năng giao tiếp và cố gắng giải thích mọi biểu hiện của ngôn ngữ nhƣ là các phƣơng tiện để biểu nghĩa, để thực hiện chức năng nào đó trong giao tiếp. Theo đƣờng hƣớng chung này, các nhà ngữ pháp chức năng đã đề xuất những quan điểm riêng của mình. Phải kể đến các tác giả tiêu biểu nhƣ L.Tesnière với lí thuyết diễn trị (valence); C.Fillmore với lí thuyết về hình thái cách (case forms), Van Valin với lí thuyết ngữ pháp vai và quy chiếu (Role and Reference grammar); S.C Dik với lí thuyết vị từ - tham thể, 9 Halliday với lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống …Tuy nhiên trong số này, S. K Halliday đƣợc coi là hai đại diện tiêu biểu và cũng là hai tác giả có tác động và ảnh hƣởng lớn đến các nhà nghiên cứu ngôn ngữ theo đƣờng hƣớng ngữ pháp chức năng ở Việt Nam.
Quan niệm của Dik và Halliday dù có những điểm khác nhau nhƣng tựu trung lại, cả hai ông đều quan niệm: ngữ pháp chức năng là một lí thuyết và một hệ phƣơng pháp đƣợc xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ nhƣ một công cụ thực hiện sự tƣơng tác xã hội giữa ngƣời với ngƣời. Ngữ pháp chức năng đã tỏ rõ ƣu thế so với ngữ pháp hình thức khi không chỉ chú ý đến mặt hình thức mà còn chú ý đến mặt chức năng của ngôn ngữ. Với ngữ pháp chức năng, các hiện tƣợng ngôn ngữ đã đƣợc xem xét trên cả ba bình diện vừa độc lập vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau là ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Ngữ pháp chức năng đã nhanh chóng đƣợc các nhà ngôn ngữ học vận dụng vào nghiên cứu các hiện tƣợng, đơn vị ngôn ngữ cụ thể.
Khái quát về ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Để có đƣợc những thành tựu to lớn nhƣ ngày hôm nay, ngôn ngữ học đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, liên tục và vô cùng mạnh mẽ. Nếu nhƣ trƣớc đây, ngành khoa học này chỉ nghiên cứu các đơn vị của ngôn ngữ ở bình diện ngữ pháp mà cụ thể là mới chỉ chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa các tín hiệu với nhau trong hệ thống ngôn ngữ thì vào nửa giữa của thế kỉ XX, ngữ pháp hiện đại đã có thêm những khám phá tiến bộ và vô cùng thú vị. Ở đó, ngƣời ta đã chỉ ra đƣợc mối quan hệ qua lại, ràng buộc, chi phối lẫn nhau giữa các bình diện ngôn ngữ: bình diện kết học, nghĩa học, dụng học. Ngƣời đƣa ra những lí thuyết ban đầu về mô hình ba bình diện là Ch.
Quan điểm của ông nhƣ sau: Kết học (syntactics) (hay cú pháp nhƣ đã quen dùng đối với hệ thống kí hiệu ngôn ngữ): nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ kết hợp với các kí hiệu khác. 10 Nghĩa học (simantics): nghiên cứu các kí hiệu trong những mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu. Dụng học (pragmatics): nghiên cứu kí hiệu trong những mối quan hệ với ngƣời sử dụng nó. Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào trình bày những nội dung liên quan đến lí thuyết ba bình diện theo quan điểm của ngữ pháp chức năng.
Bình diện kết học Bình diện kết học là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngữ pháp trong câu. Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học (2001), NXB Giáo dục, Hà Nội, GS.TS Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Kết học là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu trong một thông điệp.9] “Kết học là lĩnh vực của các quy tắc hình thức kết hợp tín hiệu thành một thông điệp (có thể là các quy tắc tuyến tính hay quy tắc đồng thời tùy theo thể chất của từng hệ thống tín hiệu). Nói vắn tắt, kết học là lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu”.10] Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng đây là bình diện nghiên cứu mặt hình thức của ngôn ngữ. Ở bình diện này, những vấn đề thƣờng đƣợc quan tâm nghiên cứu là các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ (cú pháp cụm từ) và thành các câu (cú pháp câu).
Cú pháp cụm từ: nghiên cứu tổ chức hình thức của từ theo quan hệ cú pháp: quan hệ đẳng lập, quan hệ chủ vị, quan hệ chính phụ. Cú pháp câu: nghiên cứu cách tổ chức của các kiểu câu khác nhau trong một ngôn ngữ cụ thể, nó thuộc về cấu trúc nội tại của hệ thống ngôn ngữ. Cú pháp câu tập trung vào hai vấn đề chính: các thành phần câu và các kiểu câu theo cấu tạo ngữ pháp. Cấu trúc cú pháp sẽ phân biệt với cấu trúc nghĩa biểu hiện trên bình diện nghĩa và cấu trúc đề thuyết trên bình diện ngữ dụng.
Tóm lại, bình diện ngữ pháp là bình diện quan trọng. Nó cho ta biết 11 mặt hình thức của ngôn ngữ. Bình diện nghĩa học Trong ngôn ngữ học hiện đại bình diện nghĩa học của từ đƣợc đặc biệt quan tâm. Nghiên cứu bình diện nghĩa học, ngƣời ta đã chú ý tới hai thành phần nghĩa cơ bản: nghĩa biểu hiện (còn gọi là nghĩa miêu tả, nghĩa sự vật, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm) và nghĩa tình thái của câu.
Nghĩa tình thái Nghĩa tình thái là thành phần nghĩa vô cùng phức tạp. Chính sự phức tạp này đã dẫn đến rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chúng. Nhìn chung, các định nghĩa đều đề cập tới quan hệ giữa thực tế đƣợc phản ánh với ngƣời phát ngôn và nội dung đƣợc miêu tả trong phát ngôn. Trong các định nghĩa, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Hiệp về nghĩa tình thái: “Phạm trù ngữ nghĩa này bao gồm những quan điểm, thái độ khác nhau của người nói, được biểu hiện như là những thông tin kèm theo, có tác dụng định tính cho nội dung được miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp”.84] Không chỉ có các quan niệm khác nhau về nghĩa tình thái mà trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, ta thấy cũng xuất hiện những ý kiến không đồng nhất về cách phân loại loại nghĩa này.
Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với cách phân loại của tác giả Nguyễn Thị Lƣơng trong cuốn Câu tiếng Việt (2013). Theo tác giả, có bốn loại nghĩa tình thái thƣờng gặp sau đây: - Tình thái khách quan: nêu nhận xét, đánh giá về sự việc đƣợc phản ánh trong câu nhƣng ở góc độ khách quan (có thể kiểm tra tính đúng / sai của sự đánh giá). Ví dụ: Đúng là có chuyện đó. (khẳng định) Tôi đâu có đến muộn.
(phủ định bác bỏ) 12 - Tình thái chủ quan: thể hiện thái độ, cách đánh giá của ngƣời nói đối với sự việc đƣợc nêu trong câu. Đây là loại tình thái phong phú về ý nghĩa, đa dạng về phƣơng tiện biểu hiện. Ví dụ: Chắc chắn tôi làm đƣợc. (thái độ tin cậy cao đƣợc thể hiện qua quán ngữ tình thái chắc chắn) Hình như thu đã về.
(thái độ chƣa chắc chắn thể hiện qua tiểu từ tình thái hình như) - Tình thái của hành động nói Hành động nói là một hoạt động nói năng, được thực hiện bằng cách nói ra câu nói biểu thị mục đích / ý định của người nói [16, tr. Do đƣợc dùng để thể hiện thái độ, mục đích, ý định của ngƣời nói nên hành động nói chính là một loại ý nghĩa của câu - ý nghĩa tình thái. Ví dụ: Tôi nhất định không lùi bước trước khó khăn. (hành động khẳng định) Tôi có nói điều đó đâu.
(hành động phủ định - bác bỏ) - Tình thái liên cá nhân: thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ giữa ngƣời nói với ngƣời nghe. Nó thƣờng đƣợc thể hiện qua cách dùng các đại từ nhân xƣng, các từ hô gọi và các tình thái từ… Ví dụ: Mình ơi, lấy hộ em cái mũ. (dùng từ hô gọi để biểu thị thái độ thân mật) Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, nghĩa tình thái là một loại nghĩa quan trọng, không thể thiếu đƣợc trong câu. Nó biểu thị thái độ, quan hệ, cách đánh giá của ngƣời nói đối với ngƣời nghe hay của ngƣời nói đối với hiện thực đƣợc phản ánh trong câu.
Tuy nhiên, trong một câu nói, ở nhiều trƣờng hợp, điều ngƣời ta quan tâm đến là nội dung biểu hiện có tính chất cốt lơi về ngữ nghĩa của câu. Dƣới đây chúng tôi xin trình bày thành phần nghĩa biểu 13 hiện của câu. Nghĩa miêu tả * Khái niệm nghĩa miêu tả Nghĩa miêu tả còn đƣợc gọi là nghĩa sự vật, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề.149] Câu là đơn vị cơ bản và tối thiểu có thể sử dụng vào việc giao tiếp. Thƣờng khi hiện thực hóa một câu, ngƣời nói muốn trao đổi hoặc truyền đạt đến ngƣời nghe một thông tin nào đó về một sự vật, sự việc, hiện tƣợng (gọi là sự tình hay sự thể) đang diễn ra trong thực tế khách quan bên ngoài ngôn ngữ.