Luận án tiến sĩ: So sánh tục ngữ Việt Nam và Lào

Luận án tiến sĩ văn học phân tích văn học so sánh tục ngữ việt và tục ngữ lào, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2009

220
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

0.3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VĂN HOÁ - XÃ HỘI VIỆT NAM - LÀO

1.1. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào

1.1.1. Sơ lược lịch sử - xã hội nước Lào

1.1.2. Mối quan hệ lịch sử - xã hội Việt Nam - Lào

1.1.3. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á

1.1.3.1. Về địa lý và tự nhiên
1.1.3.2. Văn hoá - tộc người
1.1.3.2.1. Mối quan hệ giữa các tộc người
1.1.3.3. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á
1.1.3.3.1. Về ngôn ngữ
1.1.3.3.2. Về chữ viết
1.1.3.3.3. Phật giáo ở Việt Nam và Lào

2. CHƯƠNG 2: SO SÁNH NỘI DUNG TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO

2.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau

2.1.1. Tục ngữ Việt, Lào thể hiện nhận thức, trí thức về tự nhiên, thiên nhiên

2.1.2. Phản ánh quê hương, đất nước

2.1.3. Đúc kết kinh nghiệm về sản xuất, chăn nuôi

2.1.3.1. Đúc kết kinh nghiệm về sản xuất
2.1.3.2. Đúc kết kinh nghiệm về chăn nuôi

2.1.4. Phản ánh các mối quan hệ gia đình, xã hội

2.1.5. Phê phán giai cấp thống trị và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, chế giễu những thói hư, tật xấu

2.1.5.1. Phê phán giai cấp thống trị
2.1.5.2. Khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, lối sống trọng tình
2.1.5.3. Chế giễu những thói hư, tật xấu

2.1.6. Phản ánh văn hoá ẩm thực của nhân dân

2.1.7. Tục ngữ Việt phản ánh thực tế người Việt chịu ảnh hưởng Nho giáo

2.1.8. Tục ngữ Lào phản ánh thực tế người Lào chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo

2.1.9. Hiện tượng trai nghĩa trong tục ngữ Việt

2.1.10. Giải thích sự giống nhau và khác nhau

2.1.10.1. Sự giống nhau
2.1.10.2. Sự khác nhau

3. CHƯƠNG 3: SO SÁNH NGHỆ THUẬT TỤC NGỮ VIỆT VÀ TỤC NGỮ LÀO

3.1. Trình bày sự giống nhau và khác nhau

3.1.1. Lối tỉnh lược

3.1.2. Các hình thức tu từ trong tục ngữ

3.1.3. Hiện tượng “nói ngược” trong tục ngữ Lào

3.1.4. Tục ngữ Việt sử dụng nhiều phương ngữ

3.1.5. Tục ngữ Việt ảnh hưởng của tiếng Hán và văn hoá Hán

3.1.6. Tục ngữ Lào sử dụng nhiều tiếng Pali - Sanskrit

3.1.7. Giải thích sự giống nhau và khác nhau

3.1.7.1. Sự giống nhau
3.1.7.2. Sự khác nhau

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan văn hóa xã hội Việt Nam Lào

Chương này cung cấp cái nhìn tổng quát về mối quan hệ lịch sử và xã hội giữa Việt Nam và Lào. Tục ngữ Việt Namtục ngữ Lào không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa riêng biệt mà còn thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc. Mối quan hệ lịch sử giữa hai nước đã hình thành nên những điểm tương đồng trong ngôn ngữ và văn hóa. Đặc biệt, sự tương đồng này được thể hiện qua các câu tục ngữ, nơi mà những tri thức dân gian được lưu giữ và truyền lại qua các thế hệ. Việc nghiên cứu nghiên cứu văn học trong bối cảnh này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa dân gian mà còn làm nổi bật những giá trị văn hóa chung trong khu vực Đông Nam Á.

1.1 Mối quan hệ lịch sử xã hội

Mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Lào đã kéo dài hàng thế kỷ, với nhiều giai đoạn thăng trầm. Sự tương đồng trong truyền thống văn họcdi sản văn hóa giữa hai nước là minh chứng cho sự gắn kết này. Các câu tục ngữ của người Lào thường mang đậm ảnh hưởng của Phật giáo, trong khi tục ngữ Việt Nam lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Nho giáo. Điều này không chỉ thể hiện trong nội dung mà còn trong hình thức nghệ thuật của các câu tục ngữ. Việc so sánh này giúp làm rõ hơn về bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, đồng thời khẳng định sự độc lập và giá trị riêng của từng nền văn hóa.

II. So sánh nội dung tục ngữ Việt và tục ngữ Lào

Chương này tập trung vào việc phân tích nội dung của tục ngữ Việt Namtục ngữ Lào. Các câu tục ngữ không chỉ phản ánh nhận thức về thiên nhiên mà còn thể hiện những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất và chăn nuôi của mỗi dân tộc. Sự tương đồng trong nội dung cho thấy những trải nghiệm chung của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt rõ rệt, ví dụ như tục ngữ Việt Nam thường nhấn mạnh đến văn hóa ẩm thực, trong khi tục ngữ Lào lại phản ánh sâu sắc hơn về tâm linhtín ngưỡng. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ý nghĩa tục ngữ mà còn làm nổi bật những giá trị văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc.

2.1 Sự giống nhau và khác nhau

Sự giống nhau giữa tục ngữ Việt Namtục ngữ Lào thể hiện qua những chủ đề chung như tình yêu quê hương, gia đình và các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, sự khác nhau lại thể hiện rõ nét qua cách diễn đạt và hình thức nghệ thuật. Tục ngữ Việt Nam thường sử dụng hình ảnh cụ thể và sinh động, trong khi tục ngữ Lào lại có xu hướng trừu tượng hơn. Điều này phản ánh sự khác biệt trong tâm thức dân tộc và cách nhìn nhận thế giới của mỗi dân tộc. Việc phân tích này không chỉ giúp làm rõ hơn về nghệ thuật văn học mà còn góp phần khẳng định giá trị của di sản văn hóa mỗi nước.

III. So sánh nghệ thuật tục ngữ Việt và tục ngữ Lào

Chương này phân tích các yếu tố nghệ thuật trong tục ngữ Việt Namtục ngữ Lào. Các hình thức tu từ, cấu trúc ngữ nghĩa và cách sử dụng ngôn ngữ trong tục ngữ là những điểm nổi bật trong nghiên cứu này. Tục ngữ Việt Nam thường sử dụng nhiều phương ngữ và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Hán. Ngược lại, tục ngữ Lào lại mang đậm ảnh hưởng của tiếng PaliSanskrit. Sự khác biệt này không chỉ thể hiện trong ngôn ngữ mà còn trong cách thức truyền tải ý nghĩa và cảm xúc. Việc so sánh này giúp làm nổi bật những giá trị nghệ thuật độc đáo của mỗi nền văn hóa.

3.1 Các hình thức tu từ trong tục ngữ

Các hình thức tu từ trong tục ngữ Việt Namtục ngữ Lào rất đa dạng. Tục ngữ Việt Nam thường sử dụng biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh và nhân hóa để tạo ra hình ảnh sinh động. Trong khi đó, tục ngữ Lào lại thường sử dụng các hình thức như điệp ngữ và đối lập để nhấn mạnh ý nghĩa. Sự khác biệt này không chỉ phản ánh cách thức tư duy mà còn thể hiện bản sắc văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc. Việc phân tích các hình thức tu từ này giúp làm rõ hơn về nghệ thuật văn học và giá trị của di sản văn hóa.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự xác lập mối bang giao giữa hai nước. Lê Thái Tổ đã cử nhiều tướng lĩnh, nghĩa quân thông thạo tiếng Lào sang Lào mua sắm voi, ngựa, lương thực dé tiễn hành cuộc kháng chiến chống quân Minh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các tù trưởng và nhân dân Lao vùng biên giới truy đuôi quân Minh trốn chạy sang Lào. Vua Lào còn sai tù trưởng Mãn Sat cùng nghĩa quân và voi chiến sang giúp Lê Lợi chống lại quân Minh. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim cùng nhiều triều thần khác đã chạy sang trú ngụ trên đất Lào (Sầm Nưa).

Đến thời vua Sệt Tha Thi Rat (1534 - 1572) mối quan hệ hữu hảo giữa Lạn Xạng với Đại Việt vẫn tiếp tục được duy trì thông qua cuộc hôn nhân giữa nhà vua với công chúa Ngọc Hoa (con vua Lê Anh Tôn) năm 1564. Nhờ chính sách đối ngoại khôn khéo này, Vương quốc Lạn Xạng trong suốt nửa sau thế kỷ XVI đã ba lần đánh bại quân A Vạ (Miến Điện) xâm lược. Sang thế kỷ XVII, dưới triều vua Sou Ri Na Vông Xa (1637 - 1694), quan hệ Lan Xạng với Đại Việt không ngừng được củng có. Khi nhà vua băng hà, Lạn Xạng xảy ra rỗi ren, cháu nội của nhà vua đang cư trú ở Việt Nam đã đề nghị vua Đại Việt giúp đỡ, kéo về Viêng Chăn 6n định trật tự.

Đến 1713, Lạn Xạng bị chia cắt thành ba mường lớn thì nhân dân đã vùng dậy chống lại áp bức xã hội và liên kết với Đại Việt dé tăng cường sức mạnh. Nhưng sự kiện quan trọng nhất trong quan hệ Việt - Lào đầu thế kỷ XIX phải nói đến những hoạt động của nhà yêu nước Chậu A Nụ (Chiêu A No) trên dat Việt Nam gan liên với cuộc kháng chiên chong quân Xiém của 17 nhân dân Lào. Ngay sau khi lên ngôi (1805), Chậu A Nụ, quốc vương Viêng Chăn đã nối lại mối bang giao thân thiện với Việt Nam. Nhân dân vùng mường Xiéng Kôm (nay thuộc Kỳ Sơn, Nghệ An) còn lưu truyền nhiều câu chuyện về những hoạt động của ông và sự tiếp tế của nhân dân Việt Nam cho nghĩa quân Lạn Xạng.

Qua nghiên cứu những tai liệu và sự kiện lịch sử trên đây, cho phép di tới một số nhận định dưới đây về quan hệ Việt - Lào thời kỳ cô trung đại: a) Do điều kiện tự nhiên và quan hệ láng giềng gần gũi, quan hệ Việt Nam - Lào hình thành từ rất sớm, có thể nói ngay từ khi xuất hiện những cư dân Việt Nam và Lào trên khu vực địa lý lịch sử này; b) Trong qúa trình dựng nước và giữ nước của từng dân tộc cũng như trong giao lưu về kinh tế và văn hoá, không chỉ các nhà nước phong kiến hai nước quan hệ với nhau mà nhân dân hai nước cũng thường xuyên liên hệ với nhau, ủng hộ và giúp đỡ nhau một cách tự phát, nhất là những cư dân khu vực vùng giáp biên giới hai nước. c) Trong quá trình phát triển mở mang bờ cõi, người Việt không có hướng di chuyền về phía Tây ma Nam tiến. Day Trường Son trở thành biên giới tự nhiên, nên nhìn chung trong quan hệ Việt Nam - Lào không có vấn đề chiếm đất. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á Khi nghiên cứu nền văn hoá các nước Đông - Nam Á nói chung, tục ngữ Việt và tục ngữ Lào nói riêng với tư cách là những sản phẩm văn hoá tỉnh thần của các dân tộc đang cư trú ở các quốc gia, chúng tôi phân tích một số thành tố của văn hoá Việt Nam và Lào như: địa lý, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, nhà cửa, nghệ thuật,.

Về địa lý và tự nhiên Xét về mặt địa ly, Việt Nam va Lào cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam châu A (Lào năm ở 13°55’- 22°30’ vi Bắc, 100°05’- 107°37’ kinh Đông; Việt Nam năm ở 8°27’- 23°23’vi Bac, 10298'- 109°27' kinh Đông). Lào có đường biên giới chung với Trung Quốc (505 km) và Myanma (236 km) ở phía Tây Bắc, với Campuchia (435 km) ở phía Đông Nam, với Việt Nam (2130 km) ở phía Đông, với Thái Lan (1835 km) ở phía Tây. Còn Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc về phía Bắc (1281 km), với Campuchia về phía Tây Nam (1120 km), với Vịnh Thái Lan về phía Nam, với Vịnh Bắc Bộ và biển Đông về phía Đông (3260 km), với Lào về phía Tây (2130 km). Diện tích tự nhiên của Việt Nam lớn gần gấp rưỡi Lào (Việt Nam: 329.

Địa hình hai nước rất đa dạng, đều có đồng bằng, rừng núi và cao nguyên (rừng núi và cao nguyên chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ mỗi nước). Theo sự phân chia của các nhà dân tộc học thì Đông Nam Á có năm cảnh quan: - Một là, cảnh quan sườn núi cao với mô hình canh tác rẫy dốc; - Hai là, cảnh quan cao nguyên với mô hình canh tác ray bang; - Ba là, cảnh quan thung lũng với mô hình canh tác ruộng- rẫy; - Bốn là, cảnh quan đồng bằng châu thổ với mô hình canh tác ruộng - vuon; - Năm là, cảnh quan duyên hải va dao với mô hình kết hợp và khai thác biền. Ở Lào có ba cảnh quan đầu, còn Việt Nam có đủ cả năm cảnh quan nói trên. Nói cách khác, Việt Nam và Lào cùng có chung ba cảnh quan đầu nhưng khác nhau là Lào không có hai cảnh quan cuối.

Mô hình tiêu biểu của người Lào là mô hình thung lũng với những cánh đồng đọc theo sông Mê 19 Kông như: Viêng Chăn, Luông Nặm Thà, Chăm Pa Xắc, Khăm Muộn. Mô hình tiêu biểu của người Việt là vùng đồng bằng châu thé với hai châu thé lớn: đồng bằng châu thé sông Hồng và đồng bằng châu thé sông Cửu Long. Cao nguyên vùng Tây Nguyên bạt ngàn cây cà phê, cao su, chè; vùng Trung du phía Bắc Việt Nam cũng mênh mông rừng cọ, đồi chè. Ở Lào, có cao nguyên Mường Phuôn, Bô Lô Ven.

Lào là một nước dường như bị khép kín, không có biển, nhưng Việt Nam có tới 3.260 km bờ biển và hơn 3. Cuộc sống của một bộ phận cư dân vùng biển va hải đảo Việt Nam gắn liền với biển khơi với những hoạt động đánh bắt hải sản và vận tải biển. Vì vậy, con người ở đây ưa phóng tầm mắt nhìn ra khơi xa không có bến bờ nên đã kích thích các giác quan của họ, nhất là thị giác và thính giác. Người vùng biển thích màu sắc, âm thanh.

Trái lại, Lào lại là ngã tư đường của mọi cuộc tiếp xúc giao lưu với các nước trong khu vực trên đất liền một cách thuận lợi. Việt Nam và Lào đều có mạng lưới sông ngòi day đặc gắn cư dân hai nước với những hoạt động ở vùng sông nước và nghề chài lưới. Đây không chỉ là nguồn lợi lớn về kinh tế mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ thuận tiện. Hệ thống sông ngòi chằng chịt đó đã góp phần hình thành ở mỗi nước những đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ.

Sông Đà, sông Đa Nhim của Việt Nam, sông Phà Ngừm của Lào và một số sông suối khác còn mang lại cho mỗi nước trữ năng thuỷ điện đáng ké*. Dòng Mê Kông" không chỉ tạo nên những vựa lúa, vựa cá cho người dân các nước mà nó chảy qua mà còn là nơi * Việt Nam 20 triệu kw, Lào 12,4 triệu kw (dẫn theo Mai ngọc Chr [13, tr. ” Dòng Mê Kông (dai 4350 km) bắt nguồn từ Trung Quốc (đoạn chảy trong Trung Quốc chiếm gần một nửa độ dài, 1650 km), chảy qua Myanma và Thái Lan (dài 1.864 km), chảy đọc theo nước Lào, qua Campuchia (dài 453 km), chảy vào miền Nam Việt Nam (dai 231 km) gọi là sông Cửu Long, tiếng Lào gọi là Mé Nam Khoỏng, có nghĩa là sông Mẹ rồi đi ra biên Đông. 20 kết nối, giao thoa giữa các nền văn hoá trong khu vực; đồng thời tạo cho khu vực này những đặc trưng của nền văn hoá sông Mê Kông.

Qua bao đời nay, tầm quan trọng hàng đầu của sông Mê Kông vẫn luôn luôn được khăng định, bởi nó đưa lại nguồn lợi kinh tế và tạo nên trục giao lưu kinh tế - văn hoá chủ yếu của cả nước Lào và vùng Nam bộ Việt Nam. Các dòng sông, ngọn suối của hai nước không chỉ là nguồn nước tự nhiên cần thiết đối với đời sống hàng ngày của các cư dân mỗi nước ngay từ buổi đầu tiền sử của ho mà còn đã từng đưa những đoàn người đông đúc di khai phá bản mường và lánh nạn trong các cuộc chiến tranh trước đây. Sông suối, kênh rạch cũng là những yếu tố tạo cho hai nước Việt Nam - Lào những nét văn hoá rất đặc trưng của vùng sông nước. Tục cầu mưa, lễ cầu Mẹ nước, tục té nước, tục lay nước thờ của người Thái, người Lao và một số dân tộc ở Việt Nam cũng bắt nguồn từ mục đích chính là xin nước cho cây cối dé mùa màng bội thu.

Vi vậy, theo các nhà khảo cô học, việc đóng bè mang và thuyền dé đi lại trên sông suối, kênh rạch có từ rất sớm. Sông suối còn là nơi diễn ra những ngày hội bơi thuyền (bơi chải) ở cả hai nước đầy hào hứng và sôi nổi. Theo Nguyễn Năm, “người Lào đã sinh sống trên một vùng đất tạo nên do sự đối lập thống nhất: sông suối - núi rừng. Đặc điểm này đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong nền văn hoá van học dân tộc” [140, tr.

Day Trường Sơn, người Lào gọi là dãy Phu Luéng (dài 1100 km) không chỉ là chiến luỹ của nhân dân Lào và Việt Nam trong các cuộc chiến tranh chống kẻ thù mà còn là biên giới tự nhiên vững chãi, tạo ra hai vùng khí hậu khác biệt giữa hai nước. Dai Trường Sơn chắn ngang biên giới phía Đông của nước Lào có tác dụng ngăn cản cũng như điều hoà ảnh hưởng của các trận cuồng phong từ biển Thái Bình Dương đồ vào Lào nên khác với Việt Nam, Lào không bị những trận bão biển khủng khiếp như Việt Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng âm của Lào mang tính lục địa với hai mùa 21 tương phản nhau rất rõ rệt (mùa mưa và mùa khô). Còn ở Việt Nam, cạnh khí hậu nóng, âm, gió mùa, một điều kiện tự nhiên thuận lợi, lại luôn bị đe doa bởi thiên tai và khí hậu khốc liệt, không bị bão lụt thì cũng hạn hán hoặc những đợt gió Lào nắng, nóng gần như suốt mùa hè hàng năm từ sườn Tây Trường Sơn (Lào) thối sang khu vực các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "So sánh tục ngữ Việt Nam và Lào: Nghiên cứu luận án tiến sĩ văn học" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa tục ngữ của hai nền văn hóa Việt Nam và Lào. Tác giả không chỉ phân tích ngữ nghĩa và hình thức của các tục ngữ mà còn khám phá vai trò của chúng trong việc phản ánh tư tưởng, phong tục tập quán của mỗi dân tộc. Qua đó, bài viết giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và ngôn ngữ của hai quốc gia, từ đó nâng cao nhận thức về sự giao thoa văn hóa trong khu vực Đông Nam Á.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về văn học Việt Nam, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ văn học so sánh việc thể hiện xã hội trong kim vân kiều truyện thanh tâm tài nhân và truyện kiều nguyễn du, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về cách thể hiện xã hội trong các tác phẩm văn học cổ điển. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ văn học thơ trẻ việt nam đương đại qua ba tác phẩm vi thùy linh phan huyền thư và ly hoàng ly sẽ giúp bạn khám phá những xu hướng mới trong thơ ca hiện đại. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ văn học vấn đề thân phận người phụ nữ trong văn học việt nam cuối thế kỷ xviii đầu thế kỷ xix qua một số tác phẩm tiêu biểu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thân phận người phụ nữ trong văn học Việt Nam qua các thời kỳ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị của văn học và văn hóa Việt Nam.