mở đầu cho sự xác lập mối bang giao giữa hai nước. Lê Thái Tổ đã cử nhiều tướng lĩnh, nghĩa quân thông thạo tiếng Lào sang Lào mua sắm voi, ngựa, lương thực dé tiễn hành cuộc kháng chiến chống quân Minh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các tù trưởng và nhân dân Lao vùng biên giới truy đuôi quân Minh trốn chạy sang Lào. Vua Lào còn sai tù trưởng Mãn Sat cùng nghĩa quân và voi chiến sang giúp Lê Lợi chống lại quân Minh. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim cùng nhiều triều thần khác đã chạy sang trú ngụ trên đất Lào (Sầm Nưa).
Đến thời vua Sệt Tha Thi Rat (1534 - 1572) mối quan hệ hữu hảo giữa Lạn Xạng với Đại Việt vẫn tiếp tục được duy trì thông qua cuộc hôn nhân giữa nhà vua với công chúa Ngọc Hoa (con vua Lê Anh Tôn) năm 1564. Nhờ chính sách đối ngoại khôn khéo này, Vương quốc Lạn Xạng trong suốt nửa sau thế kỷ XVI đã ba lần đánh bại quân A Vạ (Miến Điện) xâm lược. Sang thế kỷ XVII, dưới triều vua Sou Ri Na Vông Xa (1637 - 1694), quan hệ Lan Xạng với Đại Việt không ngừng được củng có. Khi nhà vua băng hà, Lạn Xạng xảy ra rỗi ren, cháu nội của nhà vua đang cư trú ở Việt Nam đã đề nghị vua Đại Việt giúp đỡ, kéo về Viêng Chăn 6n định trật tự.
Đến 1713, Lạn Xạng bị chia cắt thành ba mường lớn thì nhân dân đã vùng dậy chống lại áp bức xã hội và liên kết với Đại Việt dé tăng cường sức mạnh. Nhưng sự kiện quan trọng nhất trong quan hệ Việt - Lào đầu thế kỷ XIX phải nói đến những hoạt động của nhà yêu nước Chậu A Nụ (Chiêu A No) trên dat Việt Nam gan liên với cuộc kháng chiên chong quân Xiém của 17 nhân dân Lào. Ngay sau khi lên ngôi (1805), Chậu A Nụ, quốc vương Viêng Chăn đã nối lại mối bang giao thân thiện với Việt Nam. Nhân dân vùng mường Xiéng Kôm (nay thuộc Kỳ Sơn, Nghệ An) còn lưu truyền nhiều câu chuyện về những hoạt động của ông và sự tiếp tế của nhân dân Việt Nam cho nghĩa quân Lạn Xạng.
Qua nghiên cứu những tai liệu và sự kiện lịch sử trên đây, cho phép di tới một số nhận định dưới đây về quan hệ Việt - Lào thời kỳ cô trung đại: a) Do điều kiện tự nhiên và quan hệ láng giềng gần gũi, quan hệ Việt Nam - Lào hình thành từ rất sớm, có thể nói ngay từ khi xuất hiện những cư dân Việt Nam và Lào trên khu vực địa lý lịch sử này; b) Trong qúa trình dựng nước và giữ nước của từng dân tộc cũng như trong giao lưu về kinh tế và văn hoá, không chỉ các nhà nước phong kiến hai nước quan hệ với nhau mà nhân dân hai nước cũng thường xuyên liên hệ với nhau, ủng hộ và giúp đỡ nhau một cách tự phát, nhất là những cư dân khu vực vùng giáp biên giới hai nước. c) Trong quá trình phát triển mở mang bờ cõi, người Việt không có hướng di chuyền về phía Tây ma Nam tiến. Day Trường Son trở thành biên giới tự nhiên, nên nhìn chung trong quan hệ Việt Nam - Lào không có vấn đề chiếm đất. Mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam Á Khi nghiên cứu nền văn hoá các nước Đông - Nam Á nói chung, tục ngữ Việt và tục ngữ Lào nói riêng với tư cách là những sản phẩm văn hoá tỉnh thần của các dân tộc đang cư trú ở các quốc gia, chúng tôi phân tích một số thành tố của văn hoá Việt Nam và Lào như: địa lý, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, nhà cửa, nghệ thuật,.
Về địa lý và tự nhiên Xét về mặt địa ly, Việt Nam va Lào cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam châu A (Lào năm ở 13°55’- 22°30’ vi Bắc, 100°05’- 107°37’ kinh Đông; Việt Nam năm ở 8°27’- 23°23’vi Bac, 10298'- 109°27' kinh Đông). Lào có đường biên giới chung với Trung Quốc (505 km) và Myanma (236 km) ở phía Tây Bắc, với Campuchia (435 km) ở phía Đông Nam, với Việt Nam (2130 km) ở phía Đông, với Thái Lan (1835 km) ở phía Tây. Còn Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc về phía Bắc (1281 km), với Campuchia về phía Tây Nam (1120 km), với Vịnh Thái Lan về phía Nam, với Vịnh Bắc Bộ và biển Đông về phía Đông (3260 km), với Lào về phía Tây (2130 km). Diện tích tự nhiên của Việt Nam lớn gần gấp rưỡi Lào (Việt Nam: 329.
Địa hình hai nước rất đa dạng, đều có đồng bằng, rừng núi và cao nguyên (rừng núi và cao nguyên chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ mỗi nước). Theo sự phân chia của các nhà dân tộc học thì Đông Nam Á có năm cảnh quan: - Một là, cảnh quan sườn núi cao với mô hình canh tác rẫy dốc; - Hai là, cảnh quan cao nguyên với mô hình canh tác ray bang; - Ba là, cảnh quan thung lũng với mô hình canh tác ruộng- rẫy; - Bốn là, cảnh quan đồng bằng châu thổ với mô hình canh tác ruộng - vuon; - Năm là, cảnh quan duyên hải va dao với mô hình kết hợp và khai thác biền. Ở Lào có ba cảnh quan đầu, còn Việt Nam có đủ cả năm cảnh quan nói trên. Nói cách khác, Việt Nam và Lào cùng có chung ba cảnh quan đầu nhưng khác nhau là Lào không có hai cảnh quan cuối.
Mô hình tiêu biểu của người Lào là mô hình thung lũng với những cánh đồng đọc theo sông Mê 19 Kông như: Viêng Chăn, Luông Nặm Thà, Chăm Pa Xắc, Khăm Muộn. Mô hình tiêu biểu của người Việt là vùng đồng bằng châu thé với hai châu thé lớn: đồng bằng châu thé sông Hồng và đồng bằng châu thé sông Cửu Long. Cao nguyên vùng Tây Nguyên bạt ngàn cây cà phê, cao su, chè; vùng Trung du phía Bắc Việt Nam cũng mênh mông rừng cọ, đồi chè. Ở Lào, có cao nguyên Mường Phuôn, Bô Lô Ven.
Lào là một nước dường như bị khép kín, không có biển, nhưng Việt Nam có tới 3.260 km bờ biển và hơn 3. Cuộc sống của một bộ phận cư dân vùng biển va hải đảo Việt Nam gắn liền với biển khơi với những hoạt động đánh bắt hải sản và vận tải biển. Vì vậy, con người ở đây ưa phóng tầm mắt nhìn ra khơi xa không có bến bờ nên đã kích thích các giác quan của họ, nhất là thị giác và thính giác. Người vùng biển thích màu sắc, âm thanh.
Trái lại, Lào lại là ngã tư đường của mọi cuộc tiếp xúc giao lưu với các nước trong khu vực trên đất liền một cách thuận lợi. Việt Nam và Lào đều có mạng lưới sông ngòi day đặc gắn cư dân hai nước với những hoạt động ở vùng sông nước và nghề chài lưới. Đây không chỉ là nguồn lợi lớn về kinh tế mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ thuận tiện. Hệ thống sông ngòi chằng chịt đó đã góp phần hình thành ở mỗi nước những đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ.
Sông Đà, sông Đa Nhim của Việt Nam, sông Phà Ngừm của Lào và một số sông suối khác còn mang lại cho mỗi nước trữ năng thuỷ điện đáng ké*. Dòng Mê Kông" không chỉ tạo nên những vựa lúa, vựa cá cho người dân các nước mà nó chảy qua mà còn là nơi * Việt Nam 20 triệu kw, Lào 12,4 triệu kw (dẫn theo Mai ngọc Chr [13, tr. ” Dòng Mê Kông (dai 4350 km) bắt nguồn từ Trung Quốc (đoạn chảy trong Trung Quốc chiếm gần một nửa độ dài, 1650 km), chảy qua Myanma và Thái Lan (dài 1.864 km), chảy đọc theo nước Lào, qua Campuchia (dài 453 km), chảy vào miền Nam Việt Nam (dai 231 km) gọi là sông Cửu Long, tiếng Lào gọi là Mé Nam Khoỏng, có nghĩa là sông Mẹ rồi đi ra biên Đông. 20 kết nối, giao thoa giữa các nền văn hoá trong khu vực; đồng thời tạo cho khu vực này những đặc trưng của nền văn hoá sông Mê Kông.
Qua bao đời nay, tầm quan trọng hàng đầu của sông Mê Kông vẫn luôn luôn được khăng định, bởi nó đưa lại nguồn lợi kinh tế và tạo nên trục giao lưu kinh tế - văn hoá chủ yếu của cả nước Lào và vùng Nam bộ Việt Nam. Các dòng sông, ngọn suối của hai nước không chỉ là nguồn nước tự nhiên cần thiết đối với đời sống hàng ngày của các cư dân mỗi nước ngay từ buổi đầu tiền sử của ho mà còn đã từng đưa những đoàn người đông đúc di khai phá bản mường và lánh nạn trong các cuộc chiến tranh trước đây. Sông suối, kênh rạch cũng là những yếu tố tạo cho hai nước Việt Nam - Lào những nét văn hoá rất đặc trưng của vùng sông nước. Tục cầu mưa, lễ cầu Mẹ nước, tục té nước, tục lay nước thờ của người Thái, người Lao và một số dân tộc ở Việt Nam cũng bắt nguồn từ mục đích chính là xin nước cho cây cối dé mùa màng bội thu.
Vi vậy, theo các nhà khảo cô học, việc đóng bè mang và thuyền dé đi lại trên sông suối, kênh rạch có từ rất sớm. Sông suối còn là nơi diễn ra những ngày hội bơi thuyền (bơi chải) ở cả hai nước đầy hào hứng và sôi nổi. Theo Nguyễn Năm, “người Lào đã sinh sống trên một vùng đất tạo nên do sự đối lập thống nhất: sông suối - núi rừng. Đặc điểm này đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong nền văn hoá van học dân tộc” [140, tr.
Day Trường Sơn, người Lào gọi là dãy Phu Luéng (dài 1100 km) không chỉ là chiến luỹ của nhân dân Lào và Việt Nam trong các cuộc chiến tranh chống kẻ thù mà còn là biên giới tự nhiên vững chãi, tạo ra hai vùng khí hậu khác biệt giữa hai nước. Dai Trường Sơn chắn ngang biên giới phía Đông của nước Lào có tác dụng ngăn cản cũng như điều hoà ảnh hưởng của các trận cuồng phong từ biển Thái Bình Dương đồ vào Lào nên khác với Việt Nam, Lào không bị những trận bão biển khủng khiếp như Việt Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng âm của Lào mang tính lục địa với hai mùa 21 tương phản nhau rất rõ rệt (mùa mưa và mùa khô). Còn ở Việt Nam, cạnh khí hậu nóng, âm, gió mùa, một điều kiện tự nhiên thuận lợi, lại luôn bị đe doa bởi thiên tai và khí hậu khốc liệt, không bị bão lụt thì cũng hạn hán hoặc những đợt gió Lào nắng, nóng gần như suốt mùa hè hàng năm từ sườn Tây Trường Sơn (Lào) thối sang khu vực các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.