CHƯƠNG I SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC DIEM CUA TANG LỚP DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG KET CAU XA HỌI- GIAI CAP THƠI KY DOI MOI 1.1 Sự hình thành tang lớp doanh nhân Việt Nam 1.1 Quan niệm về tang lớp doanh nhân Việt Nam Từ “doanh nhân” theo tiếng Pháp, có nguồn gốc và nghĩa ban đầu là người tổ chức về giải trí ca nhạc hoặc các hình thức giải trí khác. Từ điển tiếng Anh (xuất bản năm 1879) cũng định nghĩa doanh nhân theo ý nghĩa tương tự là giám đốc hoặc người quản lý một tổ chức ca nhạc công cộng có năng khiếu trong lĩnh vực giải trí đặc biệt là khả năng trình diễn ca nhạc. Đầu thế kỷ XVI, từ “doanh nhân” được áp dụng vào lĩnh vực quân sự, cụ thể là những người được tuyên chọn cho những đội quân viễn chinh. Khái niệm này cũng được mở rộng cho các hoạt động xây dựng dân dụng và xây dựng trong quân sự ở thế ky XVII.
Cho đến đầu thế kỷ XVIII, khái niệm doanh nhân sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. Như vậy, sự phát trién của khái niệm doanh nhân kéo dài hơn bốn thế kỷ, được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Richard Cantillon- Người Ai- len sinh sống tại Pháp lần đầu tiên giới thiệu thuật ngữ đoanh nhân và hàm sỐ chấp nhận rủi ro độc đáo trong kinh tẾ học của ông ngay từ dau thé ky XVIII. Ông ta định nghĩa doanh nhân là người mua các yếu tố sản xuất với một giá cả nhất định đề kết hợp chúng trong sản xuất sản phẩm và bán với giá không chắc chắn trong tương lai.
Ông miêu tả rằng, một người chủ trang trại trả tiền theo hợp đồng đã ký cho người chủ đất và người làm công theo một giá đã biết nhưng lại bán những sản phẩm theo giá “không chắc chắn”. Ông nói thêm rằng, những nhà buôn cũng làm như vậy bang việc tra tiền trước và mong đợi thu về khoản tiền chưa được xác định. Vì vậy, họ cũng được gọi là doanh nhân chấp nhận rủi ro. Knight- Người sáng lập trường phái kinh tế học Chicago đã mô tả doanh nhân là một nhóm người được chuyên môn hoá mà gánh lay những điều không chắc chắn.
Khái niệm không chắc chắn được định nghĩa như là rủi ro mà không thé bảo đảm và không thé tính toán được. Vì vậy, ông ta rút ra một điểm khác biệt giữa rủi ro thông thường và điều không chắc chan. Một rủi ro có thé được giảm thiêu thông qua các nguyên tắc bảo đảm, nơi mà sự phân bố kết quả của một nhóm đã được biết. Ngược lại, điều không chắc chắn là những rủi ro không tính toán được.
Người doanh nhân, cũng theo ý kiến của Knight, là người làm việc trong lĩnh vực kinh tế mà thực hiện các trách nhiệm về điều không chắc chắn mà tự nó không có bảo đảm, không được cấp vốn và trả lương. Jean Baptiste Say- Nhà kinh tế người Pháp đã phát triển khái niệm về doanh nhân hơn một chút mà đã tồn tại suốt hai thế kỷ. Ông quan niệm: “Chính doanh nhân là người phán đoán những nhu cầu và nhất là những phương tiện; vì vậy đức tính chủ yếu của người đó là đầu óc phán đoán. Về phương diện cá nhân, người đó có thể không cần đến sự am hiểu của mình băng cách sử dụng một cách đúng đắn sự am hiểu của những người khác; người đó có thê tránh không tự mình bắt tay vào việc bằng cách sử dụng bàn tay của người khác; nhưng người đó không thê thiếu đầu óc phán đoán; bởi vì nếu như vây, người đó có thé tiêu tốn rất nhiều dé làm ra những cái chăng có giá trị gì" [Theo 88, 19].
Theo định nghĩa nay, Jean Baptiste Say đã gắn khái niệm doanh nhân với các chức năng điều phối, tổ chức và giám sát. Schumpeter- Nhà kinh tế người Áo, lần đầu tiên vào năm 1934, đã gắn vai trò cốt lõi của “cải cách” cho doanh nhân trong tác phẩm chính của mình là “Lý thuyết về Phát triển kinh tế”. Schumpeter đã coi phát triển kinh tế như là sự thay đổi năng động riêng biệt là do doanh nhân mang đên băng cách xây dựng các kêt hợp mới vê các yêu tô sản xuât (như: cải 11 cách, đổi mới). Ong cũng làm rõ sự khác nhau giữa nhà phát minh và nhà cải cách.
Một nhà phát minh là người khám phá các phương pháp mới và vật liệu mới. Nhưng đối với nhà cải cách thì tận dụng các phát minh mới và khám phá mới dé tạo ra những sự kết hợp mới. Casson- Nhà kinh tế người Pháp đã ghiên cứu toàn diện hơn về doanh nhân. Ông nêu ra 2 phương pháp định nghĩa doanh nhân: Theo chức năng và theo hình thức biểu thị hay còn gọi là địa vị pháp lý.
Phương pháp định nghĩa theo chức năng chỉ ra chức năng nhất định và những ai thực hiện chức năng này sẽ được coi là doanh nhân. Phương pháp xác định theo hình thức biéu thị đưa ra sự mô tả cách nhận ra doanh nhân theo cách mà anh ta được thừa nhận. Không giống như định nghĩa theo chức năng, định nghĩa theo hình thức biểu thị mô tả doanh nhân theo địa vị của anh ta có thé là về pháp lý hoặc xác định theo quan hệ hợp đồng với các bên khác, địa vị của anh ta trong xã hội. Hai phương pháp tiếp cận của H.
Casson về doanh nhân đã được sử dụng làm co sở dé hiểu về doanh nhân một cách khách quan. Redlich đã tìm cách mô tả các chức năng nhất định cua doanh nhân và không phải của doanh nhân. Ông chia chức năng doanh nhân làm 3 phan: 1. Nhà tu bản: Người cung cấp tư bản (vốn) và các nguồn lực không phải là con người; 2.
Nhà quản lý: Người giám sát và điều phối các hoạt động sản xuất; 3. Doanh nhân: Người lập kế hoạch, người ra quyết định cuối cùng trong doanh nghiệp sản xuất. ở đây doanh nhân được hiéu là người tham gia riêng vào quá trình sản xuất. Vai trò chịu trách nhiệm rủi ro tài chính, tổ chức nguồn lực và chịu trách nhiệm về các hoạt động quản lý được coi không phải là vai trò doanh nhân.
Khái niệm doanh nhân gắn liền với ba thành phan là: chấp nhận rủi ro, tổ chức và cải cách. Một doanh nhân có thé được xác định như là một người đang cố gắng tạo ra những giá tri mới, tô chức sản xuât và chap nhận các rủi ro mạo hiém 12 và xử lý các yếu tố không chắc chắn mang tính kinh tế liên quan đến doanh nghiép. Ở Việt Nam, giáo su Hoang Phê quan niệm rang, doanh nhân là “người làm nghề kinh doanh” [75, 218]. Bách khoa toàn thư tiếng Việt định nghĩa: "Doanh nhân được hiểu là những người chủ chốt trong việc quản trị, điều hành một doanh nghiệp.
Đó có thé là những người đại diện cho các cô đông, cho các chủ sở hữu (thành viên Hội đồng Thành viên, Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát) hoặc trực tiếp điều hành các doanh nghiệp (thành viên Ban Giám đốc). Theo nghĩa rộng thì doanh nhân là những người có vị trí trong một doanh nghiệp va làm công việc quan tri trong doanh nghiệp” [110]. Có quan điểm cho rằng, doanh nhân là người làm nghề kinh doanh (buôn bán) có nghĩa là kinh doanh đồng nhất với thương nghiệp và doanh nhân đồng nhất với thương nhân. Thực tế thì, kinh doanh là khái niệm có nội dung rộng hơn thương nghiệp và doanh nhân là khái niệm có nội hàm rộng hơn thương nhân.
Chữ doanh cũng có nghĩa là quản lý, còn kinh doanh là quản lý kinh tế. Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 giải thích: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [57, 22]. Pháp luật thuế hiện hành ở nước ta quy hệ thống các hoạt động kinh doanh trong xã hội vào sáu ngành lớn: sản xuất, thương nghiệp, ngành ăn uống, dịch vụ, xây dựng và vận tải. Kinh doanh là khái nệm bao trùm cả ba lĩnh vực là sản xuất hàng hoá, buôn bán và dịch vụ.
Doanh nhân hay nhà kinh doanh là đối tượng tham gia một hoặc nhiều ngành hoạt động nói trên trong nên kinh tê nhắm mục đích cơ ban là tìm kiêm lợi nhuận. 13 Hiện nay ở nước ta, có nhiều khái niệm liên quan đến khái niệm doanh nhân. Nhìn nhận dưới góc độ triết học, có thé thấy, nội dung của khái niệm doanh nhân có sự tương đồng cũng như đan xen với một số khái niệm sau: Thương nhân là từ Hán Việt, trong đó: tương là thương nghiệp, trao đổi và mua bán hang hoá và nhân là người. Như vây, thong nhân là khái niệm chỉ một lớp người hoạt động trong lĩnh vực trao đối, mua bán hàng hoá, xúc tiễn thương mại, đầu tư và cung ứng dịch vụ.
Hoạt động của lớp người này nhìn chung là tách khỏi hoạt động sản xuất. Luật Thương mại quy định: “Thương nhân bao gồm tô chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [58, 9]. Người sử dụng lao động, trong Điều 6 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tô chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động” [12, 7]. Người sử dụng lao động có thé là doanh nhân nếu họ là cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, được cấp giấy phép hành nghề kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động theo quy định của pháp luật.
Chủ doanh nghiệp thường được hiểu là người đứng đầu doanh nghiệp, tự bỏ vốn, thuê (hay huy động) các nguồn lực dé thực hiện công việc sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ nhằm thu lợi nhuận. Giám đốc doanh nghiệp là khái niệm không dùng để phân biệt tính chất sở hữu. Giám đốc doanh nghiệp có thé hoạt động trong doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hay doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước. Giám đốc doanh nghiệp có thể là chủ sở hữu doanh nghiệp hay là người được chủ sở hữu doanh nghiệp uỷ quyền để hoạch định, quản lý, điều hành 14 một doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp, pháp luật, xã hội về các quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.