Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIEN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT BẰNG TỪ NỔI 1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Câu, phát ngôn, ngôn bản, văn bản: Câu, phát ngôn, văn bản có những mối quan hệ lồng chéo, tập hợp, đa dạng. Gọi là lồng chéo, vì câu là cơ sở ngôn ngữ để hình thành phát ngôn và văn ban, v cả ba đều phải tạo ra quan hệ lồng chéo này để thực hiện chức năng thông báo của ngôn ngữ. Có lẽ vì vậy mà Cao Xuân Hạo [28,14] nói: “ Lời nói (hay ngôn từ hay phát ngôn, hay văn bản) ngắn nhất là câu.” Gọi là có quan hệ tập hợp vì cả ba không phải lúc nào cũng cùng nằm trong một hệ thống tầng bậc, mà thường là tạo ra mối quan hệ đặc biệt và cần thiết cho hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ.
Hoàng Trọng Phiến [12, 316] khi lưu ý tính tập hợp khó phân biệt này, viết: "Cau là đơn vị của ngôn ngữ hay lời nói?". Da dạng, vì không phải có câu là có phát ngôn; hoặc một câu cũng có thể tạo ra những phát ngôn có nghĩa khác nhau: và không phải văn bản nào cũng có thể dựa vào phát ngôn để xác định đặc tính của mình. Tuy có những mối quan hệ như vậy, câu, phát ngôn và văn bản không đồng nhất.Trái lại, chúng có những đặc tính và cương vị riêng làm đường nét sinh động cho ngôn ngữ hành chức. Vậy, tìm hiểu mối quan hệ đó, nhất là câu và phát ngôn cấu thành văn bản thế nào, văn bản được tổ chức qua câu, phát ngôn bằng con đường nào, phải tìm hiểu bản chất của chúng.
Câu: Câu thường là điểm “nóng' trong giới nghiên cứu ngôn ngữ. Vì câu có tầm quan trọng nên việc nghiên cứu câu cũng phong phú và phức tạp. Trong ngôn ngữ học, đến nay, có ít nhất là ba quan điểm lớn về câu, tác 12 động tích cực đến nghiên cứu và ứng dụng ngôn ngữ. Ngữ pháp truyền thống cho rằng câu là đơn vị ngữ pháp dùng để diễn đạt tư tưởng, là phương tiện bày tỏ sản phẩm tư duy.
Ngữ pháp tao sinh cho rằng câu là một công thức trừu tượng của ngôn ngữ, từ đó các yếu tố khác của ngôn ngữ có thể xác lập mối quan hệ thích hợp để tạo ra hàng loạt nội dung hay ý nghĩa khác nhau. Thuyết hành vi lời nói cho rằng câu là đơn vị ngôn ngữ được hiện thực hoá thông qua lời nói. Do có nhiều quan niệm, nên có nhiều định nghĩa khác nhau về câu. Đại thé có những xu hướng: Một là, dự vào tiêu chí hình thức-ngữ pháp, cho rằng câu là đơn vị ngữ pháp như trong [102,176], [70,1479], [111, 37],.
Điều nay có thể dẫn đến chỗ đặt câu trong hệ thống cấp độ tôn ty của các don vị ngữ pháp thường là Ainh vi, nt, cum từ, mệnh dé và câu, từ đó mặc nhiên cho rằng câu bao gồm từ một đến nhiều mệnh đề [53, 233-235],. Hai là, dựa vào tiêu chí chúc năng, cho rằng câu căn bản có hai thành phần là cụm danh từ làm chủ ngữ, và cụm động từ làm vị ngữ. Ba là, dựa vào tiêu chí ý nghĩa, cho rằng câu diễn đạt một tư tưởng trọn vẹn. Hoặc dựa vào cả hai, ba tiêu chí trên.
Chẳng hạn định nghĩa sau của Frank [92, 220]: “ Câu là một sự vị ngữ hoá ddy dit hàm chứa một chủ ngữ cộng với một vị ngữ có động từ đã chia”. Những xu hướng như vậy rõ ràng đã góp phần rất lớn vào việc vạch ra những vấn dé thuộc ban chất và chức năng của ngôn ngữ như tính hệ thống, giao tiếp, v.Tuy nhiên, chưa ai có thể thoả mãn được về những cách định nghĩa câu như vậy. Chẳng hạn, nếu cho rằng câu thuộc đơn vị ngữ pháp lớn nhất trong tầng bậc các đơn vị ngôn ngữ thì vẫn còn điều chưa ổn; Cao Xuân Hao [28,15] viết: “ Các đơn vị của ngôn ngữ làm thành những hệ đối vị (paradigm) có thành phdn hữu hạn về số lượng. Câu không nằm trong một hệ đối vị nào, và chính vì thế mà nó cũng không nằm trong tôn ty các hệ thống ngôn ngữ.
{2 13 Có lẽ vì vậy mà có khuynh hướng dua câu vào don vị lời, và, xem xét câu là “ đơn vi lời nhỏ nhất ` [40, 60], và thế là xem câu và văn bản cùng trong tôn ty hệ thống của lời. Hồ Lê [40, 61] ‘thiét lập 2 cực của lời" như sau: LỜI: CÂU ( lời nhỏ nhất VĂN BẢN/ NGÔN BẢN( lời lớn nhất) Đây là khuynh hướng mới, đưa câu gần với văn bản và hoạt động ngôn từ. Tuy nhiên, có đôi điều còn phải thảo luận. Chẳng hạn, khó mà hình dung rằng câu là đơn vị cùng hệ thống với văn bản hay ngôn bản.
Bởi vì, tập hợp các câu lại với nhau, dù có hợp lý ở mức độ nào đấy, chưa chắc đã làm nên một văn ban, hay một lời lớn hơn. Halliday [95, 7] chỉ rõ: “ Văn bản thường vượt ra khỏi tâm những quan hệ cấu trúc, bởi vì những quan hệ cấu trúc thì thường được phân giải. Còn văn bản thì hội kết; vì thế liên kết trong phạm vi mot văn bản - tức là mạng văn bản - lại dựa vào một cái gì đó khác với cấu trúc. Có những quan hệ tạo lập văn bản chuyên biệt nào đó không thể xét dưới các phương thức cấu trúc; các quan hệ này là những đặc trưng của văn bản vốn nhu bản thân nó, và không phải như bất kỳ một don vị cấu trúc nào nhàt thể mệnh dé hay câu.” Còn nếu cho rằng câu phản ảnh một tư tưởng trọn vẹn thì quả nhiên không rõ; bởi lẽ “tư tưởng trọn ven’ không thể xác định được giữa các bên giao tiếp nếu không có tình huống, ngữ cảnh, và không tính đến ý định nói năng.
Bên cạnh các quan niệm khác nhau, ta cũng thường thấy các phương pháp nghiên cứu câu khác nhau, Quan điểm truyền thống nghiên cứu câu ở dang tinh tại, thường ở bể mặt cấu trúc. Quan điểm tạo sinh thì nghiên cứu câu ở dạng biến động. Dụng học nghiên cứu câu ở dạng hoạt động cụ thể. Dẫu quan niệm câu là đơn vị cú pháp lớn nhất, hay câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất, thì ai cũng công nhận điều cơ bản là câu tồn tại khách quan và câu làm nền tảng cho thực hiện hóa chức năng của ngôn ngữ.
lộ 14 Đối với chúng tôi, điều quan trọng là tìm một định nghĩa kha di có thể bao gồm được các đặc trưng về câu, cho phép công trình nghiên cứu khai thác tốt đối tượng nghiên cứu. Nhất là một quan niệm về câu không xa lạ với cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, chứa đựng được các suy nghĩ về câu của các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt, phù hợp với đặc trưng của câu nói chung. Đó là định nghĩa câu của Hoàng Trọng Phiến [12, 316]: “Cau là don vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang mot tứ tưởng tương đổi trọn vẹn có kèm theo thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu lriện, truyền đạt tit tưởng, tinh cảm với ut cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất." Chúng tôi hiểu định nghĩa này như sau: khi nói "câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc cú pháp (bên trong và bên ngoài), tự lập" là nói đến tổ chức kết cấu tĩnh của câu (bên trong ở đây chúng tôi hiểu là kết cấu ngữ pháp của các đơn vị ngôn ngữ như từ, chẳng hạn, trong nội bộ của câu, bên ngoài ở đây chúng tôi hiểu là những khả năng kết hợp về nghĩa cũng như khả năng liên kết văn bản của câu đối với những đơn vị câu khác, đối với đoạn văn hay toàn bộ van ban, một khi câu thực hiện chúc năng thông báo), khi nói "mang một tw tưởng trọn vẹn, có kèm theo thái độ của người nói" là nói đến chức năng cơ ban của câu. Và khi nói "giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tổng, tình cảm” là nói đến quá trình thực hiện hoá chức năng sinh động va cơ bản của ngôn ngữ, của câu, tư duy, giao tiếp.
Chúng tôi hiểu câu không phải ở mô hình cú pháp tĩnh mà là mô hình có tiém năng dao động lớn, sẵn sàng ứng hợp mọi yêu cầu giao tiếp. Cao Xuân Hạo [28, 73] nói: “Câu không phải là một tên gọi, mà là một hành động ngôn ngit diễn đạt một sự nhận định dang được thực hiện hoá trong khi được diễn dat nhự vậy." Hồ Lê [3§, 141] định nghĩa: “Câu là từ hoặc chuối từ được tình thái hoá thành một đơn vị phát ngôn có tính độc lap”. I4 15 Nghĩa của câu cũng là vấn đề lớn. Lyon [102,165] cho rằng nghĩa của câu là sản phẩm của cả nghĩa từ vựng và ngữ pháp.
Ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một ví dụ minh họa rằng nghĩa của câu, nếu chỉ nhìn ở góc độ phi tình huống, sẽ không đủ sức làm chức năng thông báo đích thực của ngôn ngữ. Phân tích bài ca dưới đây chúng ta thấy rằng sự quan hệ giữa tính tình huống và tính chủ để quan trọng như thế nào đối với nghĩa của câu trong văn bản. Bài ca này có lúc đã trở thành mục tiêu cho dư luận nguyén ria, thậm chí bị đưa ra toà vì người ta cho rằng nó làm cho nhiều người phạm tội. Chẳng hạn, em "bé" Bran Basset (Mỹ), 16 tuổi, sau khi nghe và hát bài ca này nhiều lần, hiểu sai chủ dé, nội dung bài hát, đã giết chết cả bố lẫn mẹ và đứa em 5 tuổi của mình (The AGE, Thursday, Jan.
1996, Australia): {1:1} ISRAEL'S SON Hate is what I feel for you. 1 want you to know that I want you dead 1 hate you and your apathy. You can leave, you can leave. I don’t want you here.
Hate and excution. Vi tách bài này khỏi mục dich thông báo chính của nó, nên nghĩa của các câu còn lại là hận thù phan ánh một tâm lý căm hận một ai đó trước mặt mình. Thậm chí từ you ở đây khi không có tình huống giao tiếp thì hiểu là người mình đang nói tới, là ngôi thứ hai.