Luận án tiến sĩ về lý luận ngôn ngữ và phương tiện liên kết trong đối chiếu ngữ liệu Anh-Việt

Chuyên đề ngôn ngữ: Phương tiện liên kết và đối chiếu ..., tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong chuyên ngành

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ ngữ văn
212
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT BẰNG TỪ NỐI

1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.2. ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT BẰNG TỪ NỐI

1.3. XÁC ĐỊNH CÁC MỐI QUAN HỆ LOGIC-NGỮ NGHĨA

2. CHƯƠNG 2: YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ ĐỒNG HƯỚNG VÀ QUAN HỆ NGƯỢC HƯỚNG

2.1. YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ ĐỒNG HƯỚNG

2.2. YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ NGƯỢC HƯỚNG

2.2.1. Các phương thức liên kết của but/nhưng

2.2.2. But/nhưng trong liên kết phát ngôn, đoạn văn

2.2.3. But/nhưng và các yếu tố khác là kết tử chỉ dẫn lập luận

3. CHƯƠNG 3: YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ NHÂN - QUẢ VÀ QUAN HỆ THỜI GIAN TRÌNH TỰ

3.1. YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ NHÂN - QUẢ

3.1.1. Các yếu tố chỉ nhân - quả trong phát ngôn

3.1.2. Các yếu tố nối chỉ nguyên nhân trong phát ngôn và lập luận

3.1.3. Phương thức chuyển đổi cấu trúc nối và đặc tính của yếu tố nối chỉ nhân - quả

3.1.4. Các yếu tố nối khác chỉ nguyên nhân

3.2. YẾU TỐ NỐI TRONG QUAN HỆ THỜI GIAN VÀ TRÌNH TỰ

3.2.1. Các khái niệm liên quan đến thời gian

3.2.2. Các kiểu quan hệ thời gian

3.2.3. Các yếu tố nối chỉ quan hệ thời gian

3.2.4. Quan hệ thời gian giữa các phát ngôn, đoạn văn

3.2.5. YẾU TỐ NỐI TRONG HỆ THỐNG TRÌNH TỰ

3.2.6. Yếu tố nối trong hệ thống trình tự liệt kê

3.2.7. Hệ thống trình tự đánh dấu tầm quan trọng

TÀI LIỆU PHÂN TÍCH VÀ THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu ngôn ngữ

Nghiên cứu ngôn ngữ là một lĩnh vực quan trọng trong khoa học ngôn ngữ, đặc biệt là trong việc phân tích các phương tiện liên kết và đối chiếu dữ liệu giữa hai ngôn ngữ khác nhau, như ngôn ngữ Anhngôn ngữ Việt. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố nối trong phát ngôn và đoạn văn, từ đó làm rõ mối quan hệ logic-ngữ nghĩa giữa chúng. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của ngôn ngữ mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ. Theo đó, các phương tiện liên kết như 'and', 'but', 'because' trong tiếng Anh và 'và', 'nhưng', 'bởi vì' trong tiếng Việt sẽ được khảo sát để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng.

1.1. Đặc điểm của phương tiện liên kết

Phương tiện liên kết trong ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra mối liên hệ giữa các câu, đoạn văn. Chúng không chỉ đơn thuần là từ nối mà còn thể hiện các mối quan hệ ngữ nghĩa như đồng hướng, ngược hướng, nhân-qua và thời gian-trình tự. Việc phân tích các yếu tố này giúp nhận diện được cách thức mà ngôn ngữ phản ánh tư duy và văn hóa của mỗi dân tộc. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, từ 'but' thường được sử dụng để thể hiện sự đối lập, trong khi đó, từ 'nhưng' trong tiếng Việt cũng có chức năng tương tự nhưng có thể mang sắc thái khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh.

II. Đối chiếu dữ liệu Anh Việt

Đối chiếu dữ liệu giữa ngôn ngữ Anhngôn ngữ Việt là một phương pháp hữu ích để phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ. Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát các yếu tố nối trong các phát ngôn, từ đó phân tích chức năng và ý nghĩa của chúng trong từng ngữ cảnh cụ thể. Việc đối chiếu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp mà còn phản ánh cách thức tư duy và văn hóa của người nói. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, câu 'He didn’t kill his wife because he loved her' có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh, điều này cho thấy sự phức tạp trong việc diễn đạt ý nghĩa qua các yếu tố nối.

2.1. Các phương thức liên kết trong phát ngôn

Các phương thức liên kết trong phát ngôn được thể hiện qua các yếu tố nối như 'and', 'but', 'because', 'therefore'. Những yếu tố này không chỉ giúp kết nối các mệnh đề mà còn thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng. Việc phân tích các yếu tố này trong cả hai ngôn ngữ sẽ giúp nhận diện được cách thức mà người nói sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý tưởng và cảm xúc. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, từ 'bởi vì' thường được sử dụng để chỉ nguyên nhân, tương tự như 'because' trong tiếng Anh, nhưng cách sử dụng và ngữ cảnh có thể khác nhau, điều này cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu trong luận án này được xây dựng dựa trên góc độ giao tiếp và chức năng của ngôn ngữ. Nghiên cứu sẽ sử dụng các văn bản khác nhau để khảo sát các yếu tố nối và mối quan hệ giữa chúng. Việc phân tích sẽ được thực hiện trên cả hai ngôn ngữ, từ đó rút ra những kết luận về sự tương ứng và khác biệt trong cách sử dụng. Các phương pháp như phân tích ngữ nghĩa, đối chiếu văn bản và khảo sát thực địa sẽ được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa và đối chiếu văn bản

Phân tích ngữ nghĩa là một phần quan trọng trong nghiên cứu này, giúp làm rõ chức năng và ý nghĩa của các yếu tố nối trong ngữ cảnh cụ thể. Đối chiếu văn bản giữa ngôn ngữ Anhngôn ngữ Việt sẽ giúp phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch thuật mà còn góp phần vào việc giảng dạy ngôn ngữ hiệu quả hơn. Chẳng hạn, việc so sánh cách sử dụng từ nối trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Việt sẽ giúp người học nhận diện được cách thức mà ngôn ngữ phản ánh tư duy và văn hóa của mỗi dân tộc.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cao trong việc giảng dạy và dịch thuật. Việc hiểu rõ các phương tiện liên kết và mối quan hệ giữa chúng sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Hơn nữa, nghiên cứu cũng góp phần vào việc phát triển các phương pháp giảng dạy mới, giúp người học tiếp cận ngôn ngữ một cách hiệu quả hơn. Chẳng hạn, việc áp dụng các yếu tố nối trong các bài giảng sẽ giúp học viên hiểu rõ hơn về cách thức diễn đạt ý tưởng và cảm xúc trong ngôn ngữ.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy và dịch thuật

Ứng dụng của nghiên cứu này trong giảng dạy và dịch thuật là rất rõ ràng. Việc hiểu rõ các yếu tố nối và cách thức chúng hoạt động trong ngữ cảnh sẽ giúp giáo viên và người dịch có thể truyền đạt ý tưởng một cách chính xác và hiệu quả hơn. Hơn nữa, nghiên cứu cũng có thể được sử dụng để phát triển các tài liệu giảng dạy mới, giúp người học tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên và sinh động hơn. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn giúp người học cảm thấy hứng thú hơn với việc học ngôn ngữ.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM LIEN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA PHƯƠNG THỨC LIÊN KẾT BẰNG TỪ NỔI 1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Câu, phát ngôn, ngôn bản, văn bản: Câu, phát ngôn, văn bản có những mối quan hệ lồng chéo, tập hợp, đa dạng. Gọi là lồng chéo, vì câu là cơ sở ngôn ngữ để hình thành phát ngôn và văn ban, v cả ba đều phải tạo ra quan hệ lồng chéo này để thực hiện chức năng thông báo của ngôn ngữ. Có lẽ vì vậy mà Cao Xuân Hạo [28,14] nói: “ Lời nói (hay ngôn từ hay phát ngôn, hay văn bản) ngắn nhất là câu.” Gọi là có quan hệ tập hợp vì cả ba không phải lúc nào cũng cùng nằm trong một hệ thống tầng bậc, mà thường là tạo ra mối quan hệ đặc biệt và cần thiết cho hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ.

Hoàng Trọng Phiến [12, 316] khi lưu ý tính tập hợp khó phân biệt này, viết: "Cau là đơn vị của ngôn ngữ hay lời nói?". Da dạng, vì không phải có câu là có phát ngôn; hoặc một câu cũng có thể tạo ra những phát ngôn có nghĩa khác nhau: và không phải văn bản nào cũng có thể dựa vào phát ngôn để xác định đặc tính của mình. Tuy có những mối quan hệ như vậy, câu, phát ngôn và văn bản không đồng nhất.Trái lại, chúng có những đặc tính và cương vị riêng làm đường nét sinh động cho ngôn ngữ hành chức. Vậy, tìm hiểu mối quan hệ đó, nhất là câu và phát ngôn cấu thành văn bản thế nào, văn bản được tổ chức qua câu, phát ngôn bằng con đường nào, phải tìm hiểu bản chất của chúng.

Câu: Câu thường là điểm “nóng' trong giới nghiên cứu ngôn ngữ. Vì câu có tầm quan trọng nên việc nghiên cứu câu cũng phong phú và phức tạp. Trong ngôn ngữ học, đến nay, có ít nhất là ba quan điểm lớn về câu, tác 12 động tích cực đến nghiên cứu và ứng dụng ngôn ngữ. Ngữ pháp truyền thống cho rằng câu là đơn vị ngữ pháp dùng để diễn đạt tư tưởng, là phương tiện bày tỏ sản phẩm tư duy.

Ngữ pháp tao sinh cho rằng câu là một công thức trừu tượng của ngôn ngữ, từ đó các yếu tố khác của ngôn ngữ có thể xác lập mối quan hệ thích hợp để tạo ra hàng loạt nội dung hay ý nghĩa khác nhau. Thuyết hành vi lời nói cho rằng câu là đơn vị ngôn ngữ được hiện thực hoá thông qua lời nói. Do có nhiều quan niệm, nên có nhiều định nghĩa khác nhau về câu. Đại thé có những xu hướng: Một là, dự vào tiêu chí hình thức-ngữ pháp, cho rằng câu là đơn vị ngữ pháp như trong [102,176], [70,1479], [111, 37],.

Điều nay có thể dẫn đến chỗ đặt câu trong hệ thống cấp độ tôn ty của các don vị ngữ pháp thường là Ainh vi, nt, cum từ, mệnh dé và câu, từ đó mặc nhiên cho rằng câu bao gồm từ một đến nhiều mệnh đề [53, 233-235],. Hai là, dựa vào tiêu chí chúc năng, cho rằng câu căn bản có hai thành phần là cụm danh từ làm chủ ngữ, và cụm động từ làm vị ngữ. Ba là, dựa vào tiêu chí ý nghĩa, cho rằng câu diễn đạt một tư tưởng trọn vẹn. Hoặc dựa vào cả hai, ba tiêu chí trên.

Chẳng hạn định nghĩa sau của Frank [92, 220]: “ Câu là một sự vị ngữ hoá ddy dit hàm chứa một chủ ngữ cộng với một vị ngữ có động từ đã chia”. Những xu hướng như vậy rõ ràng đã góp phần rất lớn vào việc vạch ra những vấn dé thuộc ban chất và chức năng của ngôn ngữ như tính hệ thống, giao tiếp, v.Tuy nhiên, chưa ai có thể thoả mãn được về những cách định nghĩa câu như vậy. Chẳng hạn, nếu cho rằng câu thuộc đơn vị ngữ pháp lớn nhất trong tầng bậc các đơn vị ngôn ngữ thì vẫn còn điều chưa ổn; Cao Xuân Hao [28,15] viết: “ Các đơn vị của ngôn ngữ làm thành những hệ đối vị (paradigm) có thành phdn hữu hạn về số lượng. Câu không nằm trong một hệ đối vị nào, và chính vì thế mà nó cũng không nằm trong tôn ty các hệ thống ngôn ngữ.

{2 13 Có lẽ vì vậy mà có khuynh hướng dua câu vào don vị lời, và, xem xét câu là “ đơn vi lời nhỏ nhất ` [40, 60], và thế là xem câu và văn bản cùng trong tôn ty hệ thống của lời. Hồ Lê [40, 61] ‘thiét lập 2 cực của lời" như sau: LỜI: CÂU ( lời nhỏ nhất VĂN BẢN/ NGÔN BẢN( lời lớn nhất) Đây là khuynh hướng mới, đưa câu gần với văn bản và hoạt động ngôn từ. Tuy nhiên, có đôi điều còn phải thảo luận. Chẳng hạn, khó mà hình dung rằng câu là đơn vị cùng hệ thống với văn bản hay ngôn bản.

Bởi vì, tập hợp các câu lại với nhau, dù có hợp lý ở mức độ nào đấy, chưa chắc đã làm nên một văn ban, hay một lời lớn hơn. Halliday [95, 7] chỉ rõ: “ Văn bản thường vượt ra khỏi tâm những quan hệ cấu trúc, bởi vì những quan hệ cấu trúc thì thường được phân giải. Còn văn bản thì hội kết; vì thế liên kết trong phạm vi mot văn bản - tức là mạng văn bản - lại dựa vào một cái gì đó khác với cấu trúc. Có những quan hệ tạo lập văn bản chuyên biệt nào đó không thể xét dưới các phương thức cấu trúc; các quan hệ này là những đặc trưng của văn bản vốn nhu bản thân nó, và không phải như bất kỳ một don vị cấu trúc nào nhàt thể mệnh dé hay câu.” Còn nếu cho rằng câu phản ảnh một tư tưởng trọn vẹn thì quả nhiên không rõ; bởi lẽ “tư tưởng trọn ven’ không thể xác định được giữa các bên giao tiếp nếu không có tình huống, ngữ cảnh, và không tính đến ý định nói năng.

Bên cạnh các quan niệm khác nhau, ta cũng thường thấy các phương pháp nghiên cứu câu khác nhau, Quan điểm truyền thống nghiên cứu câu ở dang tinh tại, thường ở bể mặt cấu trúc. Quan điểm tạo sinh thì nghiên cứu câu ở dạng biến động. Dụng học nghiên cứu câu ở dạng hoạt động cụ thể. Dẫu quan niệm câu là đơn vị cú pháp lớn nhất, hay câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất, thì ai cũng công nhận điều cơ bản là câu tồn tại khách quan và câu làm nền tảng cho thực hiện hóa chức năng của ngôn ngữ.

lộ 14 Đối với chúng tôi, điều quan trọng là tìm một định nghĩa kha di có thể bao gồm được các đặc trưng về câu, cho phép công trình nghiên cứu khai thác tốt đối tượng nghiên cứu. Nhất là một quan niệm về câu không xa lạ với cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, chứa đựng được các suy nghĩ về câu của các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt, phù hợp với đặc trưng của câu nói chung. Đó là định nghĩa câu của Hoàng Trọng Phiến [12, 316]: “Cau là don vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang mot tứ tưởng tương đổi trọn vẹn có kèm theo thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu lriện, truyền đạt tit tưởng, tinh cảm với ut cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất." Chúng tôi hiểu định nghĩa này như sau: khi nói "câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc cú pháp (bên trong và bên ngoài), tự lập" là nói đến tổ chức kết cấu tĩnh của câu (bên trong ở đây chúng tôi hiểu là kết cấu ngữ pháp của các đơn vị ngôn ngữ như từ, chẳng hạn, trong nội bộ của câu, bên ngoài ở đây chúng tôi hiểu là những khả năng kết hợp về nghĩa cũng như khả năng liên kết văn bản của câu đối với những đơn vị câu khác, đối với đoạn văn hay toàn bộ van ban, một khi câu thực hiện chúc năng thông báo), khi nói "mang một tw tưởng trọn vẹn, có kèm theo thái độ của người nói" là nói đến chức năng cơ ban của câu. Và khi nói "giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tổng, tình cảm” là nói đến quá trình thực hiện hoá chức năng sinh động va cơ bản của ngôn ngữ, của câu, tư duy, giao tiếp.

Chúng tôi hiểu câu không phải ở mô hình cú pháp tĩnh mà là mô hình có tiém năng dao động lớn, sẵn sàng ứng hợp mọi yêu cầu giao tiếp. Cao Xuân Hạo [28, 73] nói: “Câu không phải là một tên gọi, mà là một hành động ngôn ngit diễn đạt một sự nhận định dang được thực hiện hoá trong khi được diễn dat nhự vậy." Hồ Lê [3§, 141] định nghĩa: “Câu là từ hoặc chuối từ được tình thái hoá thành một đơn vị phát ngôn có tính độc lap”. I4 15 Nghĩa của câu cũng là vấn đề lớn. Lyon [102,165] cho rằng nghĩa của câu là sản phẩm của cả nghĩa từ vựng và ngữ pháp.

Ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một ví dụ minh họa rằng nghĩa của câu, nếu chỉ nhìn ở góc độ phi tình huống, sẽ không đủ sức làm chức năng thông báo đích thực của ngôn ngữ. Phân tích bài ca dưới đây chúng ta thấy rằng sự quan hệ giữa tính tình huống và tính chủ để quan trọng như thế nào đối với nghĩa của câu trong văn bản. Bài ca này có lúc đã trở thành mục tiêu cho dư luận nguyén ria, thậm chí bị đưa ra toà vì người ta cho rằng nó làm cho nhiều người phạm tội. Chẳng hạn, em "bé" Bran Basset (Mỹ), 16 tuổi, sau khi nghe và hát bài ca này nhiều lần, hiểu sai chủ dé, nội dung bài hát, đã giết chết cả bố lẫn mẹ và đứa em 5 tuổi của mình (The AGE, Thursday, Jan.

1996, Australia): {1:1} ISRAEL'S SON Hate is what I feel for you. 1 want you to know that I want you dead 1 hate you and your apathy. You can leave, you can leave. I don’t want you here.

Hate and excution. Vi tách bài này khỏi mục dich thông báo chính của nó, nên nghĩa của các câu còn lại là hận thù phan ánh một tâm lý căm hận một ai đó trước mặt mình. Thậm chí từ you ở đây khi không có tình huống giao tiếp thì hiểu là người mình đang nói tới, là ngôi thứ hai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ngôn ngữ: Phương tiện liên kết và đối chiếu dữ liệu Anh-Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp liên kết và đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt. Tác giả phân tích các yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức mà ngôn ngữ tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau. Bài viết không chỉ mang lại kiến thức lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn cho những ai đang nghiên cứu hoặc làm việc trong lĩnh vực ngôn ngữ học, dịch thuật và giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đối chiếu nhóm từ tâm lý tình cảm trong tiếng hán và tiếng việt luận án ts ngôn ngữ văn học và văn hoá nước ngoài 92202, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về ngữ nghĩa trong hai ngôn ngữ này. Ngoài ra, bài viết Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn nghiên cứu đối chiếu trật tự từ anh việt trên một số cấu trúc cú pháp cơ bản sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc cú pháp và cách thức mà ngôn ngữ Anh và Việt tương tác. Cuối cùng, bạn cũng có thể khám phá Luận án nghiên cứu văn bản kham dư hán nôm việt nam tại viện nghiên cứu hán nôm để có cái nhìn tổng quát hơn về văn bản Hán Nôm và sự ảnh hưởng của nó đến ngôn ngữ Việt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về lĩnh vực ngôn ngữ học.