mở đầu cho thiên hướng này là Mathezius (1945) với những luận điểm về phân đoạn thực tại câu theo cái lý rằng trật tự từ ngoài việc thuần tuý phan ánh hay biểu thị trật tự ngữ pháp còn biểu hiện cả những khía cạnh thông tin của câu nằm trong những mối liên hệ với thực tại. Việc này đã thu hút tâm tư của rất nhiều nhà lý thuyết ngôn ngữ học. Những quan niệm về ngữ pháp chức năng từ Mathezius đến Austin, Searle, Dik, Halliday, những sự quan tâm đến bình diện tam từ. Thậm chí xa hơn nữa, quan niệm của N.
Chomsky vẻ cấu trúc nổi và cấu trúc chim (surface and deep structures) không phải hoàn toàn là chi bắt nguồn từ cấu trúc hình thức của ngôn ngữ, mà cũng có liên hệ đến một loại "trật tự ngữ nghĩa” mà tác gia cảm nhận dược. - Như vay, khái niệm trật tự từ cho đến nay đã được nhìn nhận một cách da diện về cả nội dung và hình thức trong khi phân tích ngôn ngữ. Tuy nhiên, trong luận án của chúng tôi, do những giới han dã được dat ra, việc khảo sát trật tự từ trong các cấu trúc ngữ pháp Anh-Việt không thể bao hàm sự phân tích cả ba phương diện đó. Những cố gắng phân tích của chúng tôi chủ yếu nhằm vào những trật tự cấu trúc.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sự phân tích này chúng tôi không hoàn toàn tách rời suy nghĩ ra khỏi sự tương tác với những bình diện trật tự ngữ nghĩa và trật tự thông tin. Một ví dụ điển hình là nếu phân tích trật tự từ dé- thuyết của mệnh đề thi cũng tức là đã động chạm tới thông tin của câu don. Mac dù vậy, do khuôn khổ một luận án, như đã nói ở trên chúng tôi không có đủ diều kiện để miêu tả và dối chiếu dược trật tự thông tin của mệnh đề trên phương diện chức năng. Như trong phần 1.1, chúng tôi đã có dịp nhận xét rằng trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt đã có rất nhiều nghiên cứu đề cập tới trật tự từ như một nội dung tất yếu của việc miêu tả ngữ pháp.
Tuy nhiên, công việc của chúng tôi có khác, chúng tôi cố gắng tách vấn đề trật tự từ ra khỏi hệ thống mô tả ngữ pháp nói chung và coi nó như là một đối tượng riêng để xem xét trong luận án này, giới hạn trong phạm vi trật tự của các kiểu cấu trúc cơ bản thường gặp trong cả hai ngôn ngữ. Tức là một vài cấu trúc doan ngữ tiêu biểu cũng như một vài kiểu kết cấu mệnh dé thường gặp. Về vấn đề đối chiếu trật tự từ trong luận an: các cấu trúc ngữ pháp cơ bản của tiếng Anh và tiếng Việt. Như vậy, xét về mat lý luận, sau khi đã dé cập đến các khái niệm về cấu trúc ngữ pháp và khái niệm ve trật tự từ, chúng tôi trên nguyên tac phải dé cập đến vấn dé đối chiếu như là một phương pháp và cũng là mục dích của luận án.
Trong lý thuyết ngôn ngữ học thì vấn dé lý thuyết về đối chiếu là một lý thuyết được hình thành và xây dựng vào hậu kỳ của ngôn ngữ học so sánh. Nó vừa xuất phát từ yêu cầu về mặt lý luận đồng thời cũng xuất phát từ yêu cầu rất thời sự của thực tiễn, ví dụ để phục vụ cho vấn đề giảng dạy ngoại ngữ, giảng dạy dịch làm chủ điểm. Trước ngôn ngữ học đối chiếu đã có ngôn ngữ học so sánh các ngôn ngữ Ấn - Âu với phương pháp so sánh lịch sử, là một thành công nổi bật của ngôn ngữ học thế ky 19 và thế ky 20, với những tên tuổi như là Bopp, Rusk, Meillet, Sherba, Martinet. Nhờ ngôn ngữ học so sánh mà người ta đã phát hiện được họ hàng của nhiều ngữ hệ, dòng tộc, nghiên cứu các phương ngữ, lập ban đồ của các tuyến đồng ngữ.
Tuy nhiên, ngôn ngữ học so sánh chủ yếu là tiến hành các bước so sánh, đối chiếu cấu trúc của các ngôn ngữ cùng loại hình hoặc hẹp hơn là cùng ngữ hệ. Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời đã khắc phục những ra ranh giới hạn chế và mở rộng địa bàn hoạt động của các phép đối chiếu, dua lý luận đối chiếu đến các ngôn ngữ khác loại hình, khác ngữ hệ và nhờ đó người ta có thể phát hiện được thêm những quy luật hoạt động mới, những nét đặc thù của cấu trúc. Lý luận về đối chiếu cũng dã từng bước được xây dựng và mở rộng, dã được ứng dụng trong nhiều địa hạt (Lê Quang Thiêm, 1986,1989). Vi dụ, đối chiếu trên các cấp độ âm được những cơ sở của phép dối chiếu cũng như là những thao tác cơ bản ứng dụng cho từng địa hạt ngôn ngữ.
Nhờ ngôn ngữ học đối chiếu, nhãn quan của các nhà ngôn ngữ học lý thuyết và thực hành được mở rộng, việc xác định các phổ niệm (universal) của ngôn ngữ cũng dược mở rộng hơn và nhìn xa hơn. Trong mot tinh hình như vậy, chúng tôi có được cơ sở lý luận để lấy tiếng Anh và tiếng Việt là những ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng thân thuộc. Chúng cũng không cùng loại hình hẹp với nhau (tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập) da rằng xét về mat phương thức ngữ pháp thì tiếng Anh và tiếng Việt có những nét gần nhau trong việc sử 16 dụng một số phương thức ngữ pháp như phương thức hư từ, phương thức trật tự từ. Những nét giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ này không đi quá xa về mat cấu trúc mà cũng không quá gần về mat loại hình, khiến ta không những có thể tiến hành đối chiếu dược chúng mà còn sẽ có lợi thế cả cho việc đóng góp vào lý luận đại cương cũng như mo ra kha năng ứng dụng trong phạm vi các ngôn ngữ Trên nguyên tắc của việc đối chiếu, như đã nói ta có thể có nhiều giải pháp: (a) Lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai để dối chiếu; (b) Lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Anh làm ngôn ngữ để dối chiếu; (c) Coi hai ngôn ngữ đối chiếu ngang hàng với nhau.
Nếu coi một ngôn ngữ làm trọng thi cố nhiên những cấu trúc ngữ pháp, những trật tự ngữ pháp tiêu biểu nhất phải xuất phát từ ngôn ngữ dó. Đối với chúng tôi, thuận lợi lớn là kha năng am hiểu cấu trúc tiếng Anh và khả năng thực hành tiếng Anh, cho nên xuất phát điểm của chúng tôi là tiếng Anh, nghiên cứu những trật tự cơ bản trong một số cấu trúc ngữ pháp tiêu biểu sau đó là sẽ đối chiếu với tiếng Việt. Trong quá trình thực hiện luận án, nhờ khả năng thâm nhập tiếng Việt được tăng lên, do đó chúng tôi đã mạnh dạn đi sâu vào tiếng Việt trong quá trình đối chiếu và kết quả là một số đối chiếu của chúng tôi cũng dược nâng cao hơn so với mức thông thường. Cũng nhờ đó, chúng tôi có điều kiện hiểu thêm các cấu trúc tiếng Anh.
Trong khi tiến hành các phép nghiên cứu đối chiếu trật tự từ chúng tôi luôn tuân thủ các giới han đã định : chỉ nghiên cứu đối chiếu trật tự từ trên binh diện cấu trúc. Các phương diện khác như đối chiếu trên bình diện ngữ nghĩa, thông tin đều chưa có điều kiện được dé cập đến trong ban luận án này. NoMa bey Danh từ được xem là loại từ loại quan trọng và vi vậy dược các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Danh từ có một số lượng rất lớn trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ và có một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu ngữ pháp, đặc biệt là trong quan hệ với động từ (R.
Palmer, 1974; Nguyên Tài Cẩn, 1975; F. Frank Palmer, 1978; Dinh Văn Đức, 1986; R. Trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu va khảo sắt trật tự trong: (i) cấu trúc danh ngữ và các biến thể; va (ii) các ý nghĩa ngữ pháp và các vị trí của các thành tố phụ trong danh ngữ Anh - Việt với hy vọng tìm ra những nét khác biệt và tương đồng giữa trật tự của hai loại danh ngữ này. Trật tự trong cấu trúc chung và các biến thể của danh ngữ tiếng Anh: - Danh ngữ là một tổ hợp từ tự do có danh từ làm trung tâm chung quanh có các thành tố phụ.
Danh ngữ có mấy dac diểm chính sau: (i). Danh ngữ cấu trúc theo nguyên tắc bao gồm một thành tố chính (trung tâm) và các thành tố phụ phan bố trước và sau nó thành các vị trí; (ii). Quan hệ giữa trung tâm và các thành tố phụ là quan hệ chính phụ. Vi vậy số lượng vị trí của các thành tố phụ là có giới hạn và trật tự của các thành tố này trong cấu trúc danh ngữ cũng rất chặt chẽ và chỉ có trung tâm mới có quan hệ với các yếu tố khác nằm ngoài cấu trúc của doan ngữ.
Danh ngữ có cấu trúc như sau: - Thành tố trung tâm: do danh từ đảm nhận; - Các thành tố phụ: gọi chung là định tố được chia làm hai bộ phan: một số được phân bố ở trước trung tâm: thành tố phụ phía trước, và một số nữa thi được 18 all books, all ink books on sale, ink in the pot The privilege of nowing everything the three books on the sale, the little ink in the pot All the books on sale All the ink in the pot three good books on sale, little bad ink in the pot rT) |p. Danh ngữ có 3 từ ở vị trí phụ ES ea TA a eeJmmmam—m— Es a HA B= ator Es A T Y ee .--) The Tour good tables oF =i The interesting books on the shelf [zmmmsr | nsmm — PT TaD Lap [anor 23 ola eal lal a 31 + + + + 55 The three : good fans on sale F15 Danh ngữ có đủ từ ở cả 5 vị trí 25| alienate Rte -ề All the three good books on sale, All the little bad ink in the pot Tất cả 32 dang cấu trúc của danh ngữ tiếng Anh trên đây mới được xem xét có thể thấy : (i) Dạng cấu trúc | là dang cấu trúc don giản nhất, trùng với từ : doan ngữ thu gọn chi còn trung tâm, còn các thành tố phụ khác đều vắng mat. Ví dụ : Women only know how to wound so. Thackeray, 1979) (Chi có phụ nữ mới biết làm tổn thương như thế.) Losing money to the husband.
Thackeray, 1979) (Mất tiền cho chồng.) , (ii) Dạng cấu trúc 32 là dạng cấu trúc đầy đủ của danh ngữ. Trong thực tế ngôn ngữ, chúng ta rất ít gặp dạng cấu trúc đầy đủ này.