Tổng quan luận án
Luận án "Truyện Nôm bình dân của người Việt - Lịch sử hình thành và bản chất thể loại" do nghiên cứu sinh Kiều Thu Hoạch thực hiện, bảo vệ năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 50407), hướng tới học vị Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trước Cách mạng tháng Tám, nhiều truyện Nôm bình dân của người Việt (như Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Công - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa...) đã được phiên âm và xuất bản, nhưng việc nghiên cứu thể loại này chưa được chú ý đúng mức. Từ sau năm 1945, đặc biệt là từ năm 1954 trở đi, giới nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn, song phần lớn các bài viết chủ yếu tập trung bình giá ý nghĩa tư tưởng của từng tác phẩm cụ thể. Việc nghiên cứu truyện Nôm bình dân một cách tổng thể trên bình diện thể loại vẫn chưa có công trình chuyên khảo độc lập. Tình trạng này dẫn đến sự thiếu thống nhất kéo dài về định danh thuật ngữ ("bình dân" hay "khuyết danh") cũng như về bản chất thể loại ("văn học viết" hay "văn học dân gian").
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu lịch sử hình thành và bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân, từ đó làm sáng tỏ câu hỏi: truyện Nôm bình dân là văn học hay văn học dân gian. Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra ba nhiệm vụ cụ thể:
- Khảo sát quá trình hình thành và phát triển của truyện Nôm bình dân trong bối cảnh lịch sử - xã hội thời trung đại.
- Nghiên cứu trực tiếp các văn bản truyện Nôm bình dân hiện còn nhằm xác định những đặc trưng thi pháp, cấu trúc thể loại và chức năng tư tưởng - thẩm mỹ.
- Xác định bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân là sáng tác folklore hay sáng tác văn học viết.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể loại truyện Nôm bình dân của người Việt. Phạm vi tư liệu bao gồm hơn 100 văn bản truyện Nôm cổ (trong đó phần phụ lục thống kê danh mục 105 truyện Nôm hiện còn) lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội, tập trung vào các văn bản xuất hiện từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 trong không gian văn hóa Việt Nam thời trung đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trước đó và phân chia thành các nhóm tư liệu chính:
-
Các bài viết nghiên cứu chuyên đề:
- Bùi Văn Nguyên (1960), "Truyện Nôm khuyết danh, một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam" (Tập san Nghiên cứu văn học, số 7).
- Đặng Thanh Lê (1968), "Nhân vật phụ nữ qua một số truyện Nôm" (Tạp chí Văn học, số 2-3).
- Nguyễn Lộc (1969), "Những vấn đề xã hội trong truyện Nôm bình dân" (Tạp chí Văn học, số 4).
- Vũ Tố Hảo (1980), "Mối quan hệ giữa truyện Nôm bình dân và văn học dân gian" (Tạp chí Văn học, số 4).
-
Các giáo trình và công trình văn học sử:
- Nhóm Lê Quý Đôn (1957) trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam giới thiệu các truyện Nôm vô danh (Vương Tường, Trê Cóc, Trinh Thử, Thạch Sanh) vào thời kỳ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15; các truyện Nôm có tác giả (Hoa tiên, Sơ kính tân trang, Truyện Kiều) và truyện vô danh khác (Nhị độ mai, Phan Trần, Bích Câu kỳ ngộ, Quan Âm Thị Kính, Phạm Công - Cúc Hoa...) được xếp vào thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20.
- Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam (1965) trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập III, giới thiệu truyện Nôm vào giai đoạn giữa thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19 qua chương "Truyện Nôm khuyết danh" của Lê Hoài Nam.
- Nguyễn Lộc (1978) trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Tập II, trình bày vấn đề nguồn gốc, phân loại, nội dung xã hội và đặc điểm nghệ thuật trong chương "Truyện Nôm bình dân".
- Đặng Thanh Lê (1979) với chuyên khảo Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm.
-
Các công trình nghiên cứu văn học dân gian:
- Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, Tập I.
- Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam.
- Đỗ Bình Trị (1978), Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam.
Tác giả luận án nhận định rằng các công trình văn học sử trước đây có xu hướng quy kết toàn bộ truyện Nôm vào diện mạo văn học viết và khoanh vùng thời gian xuất hiện chủ yếu từ giữa thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19 (thậm chí có quan điểm đẩy lùi về thế kỷ 13-15 mà thiếu căn cứ ngôn ngữ, văn bản học). Đồng thời, giới nghiên cứu tồn tại một nhận định mang tính "lưỡng phân": chưa thừa nhận truyện Nôm là văn học dân gian, nhưng cũng không thể phủ nhận những đặc điểm dân gian đậm nét của thể loại (như nhận định của Lê Trí Viễn và Đinh Gia Khánh).
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: tiếp cận truyện Nôm bình dân trên quy mô một đề tài độc lập, khảo sát toàn diện từ góc độ folklore học kết hợp với cứ liệu văn bản học Hán Nôm và ngôn ngữ học lịch sử để chứng minh bản chất thể loại và xác định lịch sử hình thành của truyện Nôm bình dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác lập khung lý thuyết dựa trên các nguyên lý của folklore học và thi pháp học thể loại tự sự dân gian, trong đó vận dụng quan niệm về môi trường diễn xướng sinh hoạt văn hóa dân gian và khái niệm "thực tại cổ tích" (theo thuật ngữ của V. Propp).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án vận dụng tổng hợp các phương pháp liên ngành:
- Phương pháp tiếp cận folklore học: Xem xét truyện Nôm không chỉ ở dạng văn bản tĩnh tại mà đặt trong môi trường vận động của các sinh hoạt folklore (hát đối đáp, diễn xướng sân khấu chèo, tuồng).
- Phương pháp so sánh loại hình - lịch sử: So sánh đối chiếu truyện Nôm bình dân với truyện cổ tích dân gian; so sánh truyện Nôm bình dân với truyện Nôm bác học; so sánh với truyện thơ của các dân tộc thiểu số (Tày, Thái, Nùng) và dân ca Chăm.
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm và giám định tự dạng chữ Nôm: Khảo sát tự dạng chữ Nôm cổ, niên đại khắc in, đối chiếu các dị bản nhằm xác định thời điểm hình thành văn bản.
- Phương pháp ngôn ngữ học lịch sử và thi luật học: Phân tích quy luật biến thể bằng trắc, vị trí gieo vần của thể thơ lục bát qua các thời kỳ (vận dụng kết quả nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Tài Cẩn và Vũ Bình).
Nguồn tư liệu thực tế của luận án gồm:
- Khảo sát trực tiếp trên 100 văn bản truyện Nôm cổ viết bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học Xã hội.
- Các bộ thư tịch cổ và sử sách lịch sử: Lê triều chiếu lệnh thiện chính, Lịch triều tạp kỷ, Nam phong giải trào (Trần Danh Án), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Đại Nam quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái), Đại Nam kỳ nhân liệt truyện, Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn)...
Nội dung chính theo từng chương
Chương Một: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển thể loại truyện Nôm bình dân
Chương này trình bày bối cảnh lịch sử - xã hội, các tiền đề kinh tế - văn hóa và diễn trình phát triển của văn học chữ Nôm, từ đó xác lập thời điểm ra đời của truyện Nôm bình dân.
-
Bối cảnh lịch sử và tiền đề kinh tế - xã hội:
- Thế kỷ 16-18 chứng kiến sự khủng hoảng của chế độ quân chủ chuyên chế nhà Lê sơ, triều Mạc lên thay, dẫn đến cục diện chia cắt đất nước và nội chiến phong kiến kéo dài (Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn). Đến giữa thế kỷ 18, các phong trào khởi nghĩa nông dân bùng nổ rộng khắp, tạo tiền đề cho sự nảy sinh trào lưu tư tưởng nhân văn.
- Thủ công nghiệp phát triển, đặc biệt là nghề làm giấy Yên Thái (Thăng Long) và nghề khắc ván in tại Liễu Tràng (Hải Dương), tạo cơ sở kỹ thuật cho việc ấn hành và truyền bá truyện Nôm.
- Sự phát triển của kinh tế hàng hóa và các đô thị lớn ở Đàng Ngoài (Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến) và Đàng Trong (Hội An, Thanh Hà, Gia Định), cùng với sự giao thương quốc tế (thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp).
- Nghệ thuật tranh khắc gỗ dân gian (Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng) phát triển, trong đó nhiều bức tranh dân gian (Hứng dừa, Đánh ghen) có đề những câu thơ Nôm lục bát mộc mạc.
-
Diễn trình văn học chữ Nôm và sự phát triển của thể thơ lục bát:
- Khởi phát từ thời Trần (Hàn Thuyên, Chu Văn An, Hồ Quý Ly), phát triển ở thế kỷ 15 thời Lê (Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông), văn học Nôm bước sang thế kỷ 16-17 với sự đa dạng về thể loại (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Trịnh Căn...).
- Quá trình định hình thơ lục bát: Bài hát cửa đình Sát hải đại vương đào văn của Lê Đức Mao (cuối thế kỷ 15 - đầu thế kỷ 16, dài 128 câu), Nam phong giải trào của Trần Danh Án; Lâm tuyền vãn của Phùng Khắc Khoan (cuối thế kỷ 16, gần 90 câu lục bát); Ngọa long cương vãn (140 câu) và Tư Dung vãn (236 câu) của Đào Duy Từ; Tứ thời khúc của Hoàng Sĩ Khải (trên 300 câu song thất lục bát); tác phẩm diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục (cuối thế kỷ 17, gồm 8.136 câu lục bát).
-
Xác lập mô hình lục bát cổ thế kỷ 17:
Khảo sát Thiên Nam ngữ lục, Lâm tuyền vãn và truyện Nôm Lý Công, tác giả luận án chỉ ra mô hình lục bát cổ có quy tắc gieo vần ở chữ thứ tư của câu bát (thay vì chữ thứ sáu như mô hình lục bát hoàn chỉnh từ thế kỷ 18).
| Tiêu chí |
Mô hình lục bát cổ (Thế kỷ 17) |
Mô hình lục bát hoàn chỉnh (Từ thế kỷ 18) |
| Vị trí gieo vần ở câu bát |
Chữ thứ 4 của câu bát hiệp vần với chữ thứ 6 của câu lục. |
Chữ thứ 6 của câu bát hiệp vần với chữ thứ 6 của câu lục. |
| Công thức bằng trắc câu lục |
b b b b b b hoặc biến thể t t b b b b |
b b b b b b (chuẩn hóa bằng - trắc) |
| Công thức bằng trắc câu bát |
t t b b t b b b (chữ thứ 4 mang thanh bằng làm tiếng vần) |
b b b b b b b b (chữ thứ 6 mang thanh bằng làm tiếng vần) |
| Phạm vi xuất hiện tiêu biểu |
Thiên Nam ngữ lục, Lý Công, ca dao Lê - Mạc trong Vũ trung tùy bút, dân ca Chăm (To anit tare). |
Truyện Kiều, Quan Âm Thị Kính (bản tu chỉnh), các truyện Nôm giai đoạn sau. |
- Các dòng truyện Nôm sớm thế kỷ 17 và cứ liệu lịch sử:
- Dòng truyện tôn giáo - lịch sử (chiếm đa số): Quan Âm tống tử bản hạnh, Địa Tạng bản hạnh, Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Minh Không kệ dẫn diễn âm (thoát thai từ các bài kể hạnh ở chùa Keo), Đông Các Nguyễn đại vương bản truyện, Ông Ninh cổ truyện, Chúa Thao cổ truyện, Tây du truyện...
- Dòng truyện Nôm xã hội sớm: Hữu Kế truyện, Lý Công truyện, Thoại Khanh - Châu Tuấn.
- Các lệnh cấm của chính quyền chúa Trịnh:
- Năm Canh Trị thứ 1 (1663) đời Lê Huyền Tông: Trịnh Tạc ban hành 47 điều lệ giáo hóa (Phạm Công Trứ soạn), điều 35 cấm khắc in, lưu hành các loại "quốc ngữ chư truyện cập thi ca".
- Năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718) đời Lê Dụ Tông: Trịnh Cương ra lệnh cấm khắc gỗ in các "tạp truyện và bỉ ngữ bằng quốc âm".
- Năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) và Cảnh Hưng thứ 21 (1760) đời Lê Hiển Tông: Trịnh Doanh tiếp tục nhắc nhở lệnh cấm; sai Nhữ Đình Toản diễn Nôm 47 điều giáo hóa ra thơ lục bát để phổ biến (nhắc lại lệnh cấm "truyện cũ nôm na").
Các tư liệu này khẳng định truyện Nôm bình dân đã phát triển liên tục trong suốt hai thế kỷ 17 và 18, hình thành từ thế kỷ 17 chứ không phải từ thế kỷ 13-15.
Chương Hai: Thi pháp truyện Nôm bình dân
Chương này đi sâu khảo sát các đặc trưng nghệ thuật tạo nên bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân:
-
Nguồn gốc đề tài và cốt truyện:
- Phần lớn cốt truyện truyện Nôm bình dân bắt nguồn trực tiếp từ kho tàng truyện kể dân gian và truyện cổ tích.
- Tống Trân - Cúc Hoa bắt nguồn từ truyện cổ tích về Trạng Gầu (Dạ sử quan Trạng Gầu do Nguyễn Thức Khiêm công bố; ghi chép trong Tây sử tạp biên, Bắc Thành địa chí lược và thơ của Đoàn Nguyên Tuấn).
- Mộng Hiền truyện bắt nguồn từ truyện cổ tích Anh chàng họ Đào trong Đại Nam kỳ nhân liệt truyện.
- Chàng Chuối là sự kết hợp giữa mô-típ truyện cổ tích Lấy chồng dê, Sọ Dừa với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh.
-
Phương thức phản ánh và quan niệm hiện thực:
Truyện Nôm bình dân không phản ánh trực tiếp hiện thực đời sống đương thời mà tái hiện "hiện thực cổ tích" (khái niệm của V. Propp). Các tác giả dân gian sử dụng thủ pháp cải biên, chỉnh lý, lắp ghép các mô-típ có sẵn trong kho tàng truyện cổ để xây dựng tác phẩm.
-
Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Luận án phản biện ý kiến cho rằng nhân vật truyện Nôm bình dân đã được cá tính hóa; qua khảo sát cho thấy nhân vật truyện Nôm bình dân vẫn giữ đậm tính chất loại hình và xu hướng phiếm chỉ hóa (nhân vật đại diện cho mẫu người đạo đức, chung thủy hoặc gian ác, xảo trá).
- Tên gọi nhân vật thường phiếm chỉ hoặc giữ nguyên tên gọi từ truyện dân gian; không gian và thời gian nghệ thuật mang tính phiếm chỉ, ước lệ (như sự mập mờ về không gian Nguỵ vương - Triệu vương trong Phạm Công - Cúc Hoa).
-
Mô hình kết cấu cốt truyện:
Truyện Nôm bình dân vận hành theo mô hình ba chặng cố định:
$$\text{Gặp gỡ (Hội ngộ)} \longrightarrow \text{Tai biến (Lưu lạc / Thử thách)} \longrightarrow \text{Đoàn tụ (Hội ngộ / Kết thúc có hậu)}$$
Mô hình này phản ánh trọn vẹn kết cấu của truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt, trong đó cái thiện luôn chiến thắng cái ác.
-
Thủ pháp nghệ thuật và ngôn ngữ:
- Tác phẩm sử dụng các công thức mở đầu và kết thúc mang tính khuôn mẫu ("Thuở ấy...", "Lược bày truyện cũ đời xưa...", "Nôm na chép truyện mà chơi...").
- Ngôn ngữ mang phong cách nôm na, mộc mạc, đậm chất khẩu ngữ, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân.
- Phương thức sáng tác và lưu truyền mang tính tập thể, truyền miệng và gắn liền với diễn xướng dân gian.
Chương Ba: Chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của truyện Nôm bình dân
Chương Ba làm rõ giá trị xã hội, tính chất nhân văn và sự lan tỏa của truyện Nôm bình dân trong đời sống văn hóa:
-
Khát vọng tự do, dân chủ và tinh thần phản kháng xã hội:
Truyện Nôm bình dân phản ánh cuộc đấu tranh vì công lý và công bằng xã hội; phê phán gay gắt những bất công, thối nát của giai cấp thống trị phong kiến (Lý Công, Phạm Tải - Ngọc Hoa lên án sự hoang dâm, tàn bạo của vua Trang Vương bức hại người lành).
-
Đề cao thân phận và phẩm giá người phụ nữ:
- Khẳng định quyền sống, quyền tự do yêu đương và hôn nhân chung thủy (Lý Công, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Quan Âm Thị Kính).
- Ca ngợi tài trí thông minh, bản lĩnh chủ động của người phụ nữ qua các nhân vật nữ cải trang nam nhi đi thi đỗ đạt để cứu gia đình: nàng Phương Hoa trong Phương Hoa giả trai tên Cảnh Yên thi đỗ Tiến sĩ; nàng Phi Nga trong Nữ tú tài giả trai tên Tuấn Khanh thi đỗ Tú tài.
- Tôn vinh tinh thần nữ hiệp, khí phách kiên cường chống lại bạo quyền trong Lưu nữ tướng truyện, Quân trung đối truyện.
-
Mối quan hệ với các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian:
- Truyện Nôm bình dân thâm nhập sâu sắc vào sân khấu truyền thống, được chuyển thể thành tuồng đồ (Phụng Xuân Hương, Lâm Sanh - Xuân Nương) và chèo cổ (Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ với các màn chèo nổi tiếng như Thị Mầu lên chùa, Hoàng Trừu giả đui).
- Đi vào các hình thức sinh hoạt ca hát dân gian: bài ca Trống quân truyền thống liệt kê tên của 36 truyện Nôm; điệu hát chèo tàu Đan Phượng nhắc đến hàng loạt nhân vật truyện Nôm (Thoại Khanh - Châu Tuấn, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Hoàng Trừu...).
-
Ảnh hưởng giao lưu văn hóa liên tộc người:
Truyện Nôm của người Việt đã vượt ra khỏi không gian người Kinh, thâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và được chuyển hóa thành các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày - Nùng, Thái như: Quắm Hai Cống (Nhị độ mai), Tống Tén - Cúc Hoa (Tống Trân - Cúc Hoa), Hoàng Trừu, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Truyện Kiều.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt tư liệu: Luận án là công trình khảo sát hệ thống trên 100 văn bản truyện Nôm cổ, lập danh mục phân loại 105 truyện Nôm hiện còn (phụ lục), cung cấp nguồn cứ liệu văn bản học Hán Nôm phong phú và có độ tin cậy cao.
- Về mặt lịch sử thể loại:
- Bác bỏ quan điểm xếp truyện Nôm bình dân vào giai đoạn thế kỷ 13-15 do thiếu cơ sở văn bản học và ngôn ngữ học.
- Xác định truyện Nôm bình dân bắt đầu hình thành từ thế kỷ 17 dưới dạng các bản diễn ca lịch sử và diễn ca tôn giáo (với mô hình thơ lục bát cổ gieo vần ở chữ thứ tư của câu bát), phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 18-19 với đề tài xã hội và kéo dài sức sống đến đầu thế kỷ 20.
- Về mặt thi pháp và bản chất thể loại:
- Chứng minh truyện Nôm bình dân có cội nguồn sâu xa từ folklore (truyện cổ tích và thơ ca dân gian).
- Khẳng định bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân là sáng tác tự sự dân gian bằng thơ: kết cấu ba chặng ổn định (Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ), nhân vật loại hình, phương thức phản ánh "hiện thực cổ tích", ngôn ngữ nôm na mộc mạc và gắn liền với môi trường diễn xướng truyền miệng.
- Kiến nghị khoa học: Luận án đề xuất cần tiếp tục mở rộng việc nghiên cứu truyện Nôm bình dân trong mối tương quan loại hình với truyện thơ của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam và khu vực văn hóa Đông Nam Á.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Số lượng văn bản truyện Nôm có niên đại khắc in tuyệt đối ở thế kỷ 17 còn lại không nhiều do sự tàn phá của thời gian và các lệnh cấm khắc in, lưu hành nghiêm ngặt của chính quyền chúa Trịnh thời Lê trung hưng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo cứu so sánh liên ngành giữa truyện Nôm bình dân của người Việt với hệ thống truyện thơ của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và khu vực Đông Nam Á nhằm làm sáng tỏ quy luật phát triển loại hình truyện thơ tự sự trong khu vực.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học trung đại Việt Nam, Hán Nôm học, Ngôn ngữ học lịch sử và Văn hóa học.
- Nội dung giá trị:
- Bảng tiêu chí nhận diện mô hình lục bát cổ thế kỷ 17 qua vị trí gieo vần chữ thứ tư.
- Danh mục thư mục 105 văn bản truyện Nôm cổ hiện còn tại các viện nghiên cứu.
- Phương pháp tiếp cận folklore học trong việc giải mã bản chất thể loại của các tác phẩm văn học trung đại trung gian.
Câu hỏi thường gặp
1. Căn cứ nào cho phép luận án xác định truyện Nôm bình dân định hình từ thế kỷ 17 thay vì thế kỷ 13-15?
Luận án dựa trên ba căn cứ khoa học: (1) Cứ liệu văn bản học Hán Nôm và tự dạng chữ Nôm cổ không ghi nhận văn bản truyện Nôm nào tồn tại từ thế kỷ 13-15; (2) Đặc điểm lịch sử ngôn ngữ và thi luật lục bát chưa thể đạt tới hình thái truyện thơ tự sự dài ở thế kỷ 13-15; (3) Sự xuất hiện của tác phẩm diễn ca quy mô lớn Thiên Nam ngữ lục (8.136 câu) cùng các bản diễn ca tôn giáo (Quan Âm tống tử bản hạnh, Địa Tạng bản hạnh) và các chỉ dụ cấm in truyện Nôm từ năm 1663 đều tập trung ở thế kỷ 17.
2. Thể thơ lục bát cổ thế kỷ 17 trong truyện Nôm có đặc điểm thi luật gì đặc thù?
Đặc điểm đặc thù nhất của lục bát cổ thế kỷ 17 là hiện tượng gieo vần lưng ở chữ thứ tư của câu bát (chữ thứ sáu câu lục hiệp vần với chữ thứ tư câu bát), đi kèm quy luật phân bổ bằng trắc biến thể (t t b b t b b b) như đã ghi nhận trong Thiên Nam ngữ lục, Lý Công và bài ca dao thời Lê - Mạc. Từ đầu thế kỷ 18 trở đi, mô hình lục bát mới chuẩn hóa sang gieo vần ở chữ thứ sáu của câu bát.
3. Vì sao tác giả luận án nhận định hiện thực trong truyện Nôm bình dân là "hiện thực cổ tích"?
Bởi vì phần lớn đề tài, cốt truyện của truyện Nôm bình dân đều vay mượn hoặc cải biên từ truyện cổ tích (Tống Trân - Cúc Hoa từ truyện Trạng Gầu; Chàng Chuối từ truyện Lấy chồng dê...). Tác phẩm phản ánh hiện thực thông qua lăng kính, mô-típ và quan niệm thẩm mỹ của truyện cổ tích (cái thiện chiến thắng cái ác, sự can thiệp của yếu tố thần kỳ) chứ không mô tả trực tiếp các sự kiện lịch sử - xã hội đương thời khi tác phẩm ra đời.
4. Chính quyền phong kiến Lê - Trịnh đã ban hành những văn bản nào nhằm ngăn cấm truyện Nôm bình dân?
Sử sách ghi nhận bốn mốc chính: Điều 35 trong 47 điều lệ giáo hóa năm 1663 (thời Lê Huyền Tông, Trịnh Tạc); Lệnh chỉ năm 1718 (thời Lê Dụ Tông, Trịnh Cương) cấm in các "tạp truyện và bỉ ngữ bằng quốc âm"; Lệnh chỉ năm 1751 và bản diễn Nôm lục bát năm 1760 (thời Lê Hiển Tông, Trịnh Doanh) cấm in "truyện ngoa", "truyện cũ nôm na".
5. Luận án ghi nhận sự chuyển hóa của truyện Nôm bình dân sang văn học các dân tộc thiểu số như thế nào?
Truyện Nôm của người Việt đã được đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp nhận và chuyển hóa thành truyện thơ Nôm Tày - Nùng, Thái. Tiêu biểu gồm các tác phẩm: Quắm Hai Cống (chuyển hóa từ Nhị độ mai), Tống Tén - Cúc Hoa (từ Tống Trân - Cúc Hoa), Hoàng Trừu, Phạm Tải - Ngọc Hoa và Truyện Kiều.
Kết luận
Luận án "Truyện Nôm bình dân của người Việt - Lịch sử hình thành và bản chất thể loại" của tác giả Kiều Thu Hoạch là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về thể loại truyện Nôm bình dân dưới góc độ folklore học kết hợp văn bản học Hán Nôm. Luận án đã giải quyết thỏa đáng cuộc tranh luận học thuật về ranh giới thể loại, chứng minh truyện Nôm bình dân có cội nguồn từ văn học dân gian, định hình từ thế kỷ 17 thông qua mô hình lục bát cổ và phát triển rực rỡ trong các thế kỷ tiếp theo. Công trình xác lập hệ thống thi pháp và chức năng tư tưởng - thẩm mỹ đặc trưng, khẳng định vị trí của truyện Nôm bình dân trong đời sống văn hóa dân tộc và văn học khu vực.