Luận án phó tiến sĩ: Nghiên cứu chuyện nôm bình dân và lịch sử hình thành thể loại

Chuyên khảo văn học phân tích Luận án phó tiến sĩ ngữ văn chuyện nôm bình dân của người việtlịch sử hình thành và bản chất thể, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án phó tiến sĩ

1996

152
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỂ LOẠI TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN

2. CHƯƠNG 2: THI PHÁP TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN

3. CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG - THẨM MỸ CỦA TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thể loại chuyện nôm bình dân

Thể loại chuyện nôm bình dân là một phần quan trọng trong văn học dân gian Việt Nam. Nó phản ánh đời sống, tâm tư và nguyện vọng của người Việt qua các thời kỳ lịch sử. Văn hóa Việt Nam đã sản sinh ra nhiều tác phẩm văn học độc đáo, trong đó có những câu chuyện mang đậm tính chất dân gian. Những tác phẩm này không chỉ đơn thuần là giải trí mà còn chứa đựng những giá trị tư tưởng sâu sắc. Việc nghiên cứu thể loại này giúp hiểu rõ hơn về di sản văn hóanghệ thuật kể chuyện của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu, thể loại này có nguồn gốc từ những truyền thuyết, cổ tích và các hình thức truyền thuyết khác, từ đó phát triển thành những tác phẩm văn học mang tính chất bình dân.

1.1. Đặc điểm của chuyện nôm bình dân

Chuyện nôm bình dân thường có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu và gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân. Ngôn ngữ trong các tác phẩm này thường là ngôn ngữ dân gian, mang tính chất tự nhiên và sinh động. Các nhân vật trong chuyện thường là những người bình thường, phản ánh những khát vọng và ước mơ của người dân. Đặc biệt, thể loại này thường sử dụng hình thức nghệ thuật kể chuyện phong phú, từ đó tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc. Những câu chuyện này không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những bài học đạo đức, nhân văn sâu sắc, thể hiện tinh thần văn hóa của dân tộc.

II. Lịch sử hình thành và phát triển của chuyện nôm bình dân

Lịch sử hình thành của thể loại chuyện nôm bình dân gắn liền với sự phát triển của văn học Việt Nam từ thế kỷ 16 đến nay. Trong bối cảnh xã hội phong kiến, những mâu thuẫn giữa các giai cấp đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự ra đời của các tác phẩm văn học này. Các tác phẩm chuyện nôm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện những khát vọng tự do, công bằng của người dân. Qua các thời kỳ, thể loại này đã trải qua nhiều biến đổi, từ những câu chuyện ngắn gọn, đơn giản đến những tác phẩm có chiều sâu và phức tạp hơn. Sự phát triển của nghệ thuật kể chuyện cũng góp phần làm phong phú thêm cho thể loại này.

2.1. Những giai đoạn phát triển chính

Thể loại chuyện nôm bình dân đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Từ thế kỷ 16, khi chế độ phong kiến bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn, các tác phẩm văn học này đã xuất hiện như một phản ứng tự nhiên của người dân trước những biến động xã hội. Đến thế kỷ 18, với sự phát triển của nghệ thuậtvăn hóa, thể loại này đã đạt đến đỉnh cao với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Các tác giả đã sử dụng nghệ thuật kể chuyện một cách tinh tế, tạo nên những câu chuyện vừa mang tính giải trí vừa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Sự phát triển này không chỉ phản ánh đời sống xã hội mà còn thể hiện sự sáng tạo và tài năng của người Việt trong việc gìn giữ và phát huy văn hóa dân gian.

III. Chức năng tư tưởng và thẩm mỹ của chuyện nôm bình dân

Chuyện nôm bình dân không chỉ đơn thuần là những tác phẩm giải trí mà còn mang trong mình những chức năng tư tưởng và thẩm mỹ sâu sắc. Các tác phẩm này thường phản ánh những giá trị đạo đức, nhân văn và tinh thần yêu nước của người Việt. Chúng giúp người đọc nhận thức rõ hơn về bản thân, về xã hội và về những mối quan hệ trong cuộc sống. Nghệ thuật kể chuyện trong thể loại này thường sử dụng những hình ảnh, biểu tượng gần gũi, dễ hiểu, từ đó tạo nên sự kết nối mạnh mẽ với người đọc. Những câu chuyện này không chỉ mang tính chất giải trí mà còn là những bài học quý giá về cuộc sống, về tình người và về những giá trị văn hóa truyền thống.

3.1. Giá trị tư tưởng trong chuyện nôm bình dân

Giá trị tư tưởng trong chuyện nôm bình dân thể hiện rõ qua các chủ đề như tình yêu, lòng trung thành, sự hy sinh và khát vọng tự do. Những câu chuyện này thường khắc họa hình ảnh của những người anh hùng, những người có phẩm chất tốt đẹp, từ đó truyền tải những thông điệp tích cực đến người đọc. Chúng không chỉ giúp người đọc giải trí mà còn khơi dậy trong họ những cảm xúc mạnh mẽ, những suy nghĩ về cuộc sống và về con người. Qua đó, thể loại này góp phần làm phong phú thêm cho văn hóanghệ thuật của dân tộc.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu chag như ở lời kết thức, tac gia de nối ro 7 định của mình như một tuyên ngôn : " ' ? , a- - Trai Xem sư ky nuoc lem, ie a 7e ` in Rinh véng tey mới cheẹp lem nom na‹c. sản - Ipuyén ney 123 của xem nha, Léy lam loi dso nôm na tính tinh. Va loi tuyên ngồn nay thệt cung chẳng xa le gi so vơi những lvi rào đơn của hầu hết các tác gia truyện nôm bình dân : ~ Lược bay truyện cu đời xưa; Gâu phiên chấp chenh lạc lừa nôm na, (Hoang Truu)_ - But họa nhân theo ngồi roi, Hime vui chep truyện mấy lời nôm ne, (Phương Hoa) - Nôm na chep truyén ma choi, Xết xem bị thei dem nhời khen chê. (Phen Trần) Đặc biệt về mặt vin luật, thơ lục bat trong Thiên Nam ngữ lục thong xen lần những câu thơ không gieo vin ở chữ thứ sau của câu tam, mà lại gieo vin ở chữ thứ tư của câu tem.

Thí dụ như một đoạn miêu ta về ngoại hình của Ba Triệu : Mặt như ving nguyệt mới lên_ Mắt sang như den, ma tựa len giai, Vi dai ba thước loi thoi, Ngồi chấm đến đùi, cui rủ cến chân. Hay như một đoạn kể về Ngô Xzơng Văn ve Ngô Xương Ngập trong "Ngô chính kỹ" : - - 25 - dei người nước mắt rong rong, Thiên địa hay lòng huynh đệ đồng tâm Anh về ngôi beu đông lâm, a ` sò ` ` Quoc sự cung cém gia sự cưng col ee. Theo nha học gia Dương Quang Hem trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) thì lổi thơ này gọi là biến thể lục bạt Ong wiei thích :"Biển thể nghĩa là thể văn có biển đổi đi. Thể này tức cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoeng co xen vao một {ft câu na cách hiệp vần và luật bằng trắc khếc thể lục bất noi trên, Thể ney thường được đùng để ˆ.

Ld Ẫ a Bae viết các truyén có tính cách bình dén như Quan Thể Am , Phạm Côn Ciic Ho ; Ly Côn aVeVeoe" Seu dé, ông đần méy câu trong truyén Nêm Ly Gông lam mầu t Khoan khoan chên bước lên đường; Thấy chang họ Ly ngồi đương ăn may. Đầu thời đội non sở may, Mặt vẽ mình gầy cẩn sách giờ lâu. Dưới đất có bốn rồng chầu; Kiệu vồng tan tía trên đều hao quang Thị Hương xem thấy ro reng, Bước tới vội vàng chào Ly Thenh Quan. RỒi ông giai tnÍcn ring bốn cầu in chit đứng la theo h lục bất, cồn bởn câu in chữ nghiêng la o> B œ Œlàws +» et ayPy Q lay ao a Bp a.

Ow - fe ® Oy Q ley joy p- sn› Ko} `» SS Q Oy <‹ nt 1) oS Q Q - 4 vần và sy biển cổi của luệt bồng tric trong lổi thơ nay. Về biến đổi cếch hiệp vba thì "chữ cuối câu sau vin với chữ thử tu cêu tem, chứ không vin với chữ thử sau như trong thể luc vet chính thức," Con biển đổi luệt bằng trắc thì cổ hai trường hợp: 1> Luật của câu tam t= Thao ônz, vi chữ yêu vận (vin lung) trong cêu tam đổi chd, nên luật bằng trắc của câu Ẩy cũng phái đổi theo cho thÍch hop. Céu tem trong thể lục vat bất đầu bằng hai tigng bằng (b), thi trong lối biển thể lại bắt ởầu bằng hai tiếng trắc (+) để cho chữ thé tu la chr vin đặt được tiếng bằng (bd). Luật ca câu theo công thức sau : CoG Deb to tb eb 2- Luật của câu sau s- Ong cho rằng ahiỀu khi luật của câu sau cưng thay đổi va bắt đều bằng hai tiếng trắc (t) thao như công thức sau : % nh 2b = Ð 56.

D Và ông dễa một câu trong Truyện Ly đông lam thf đụ ‡ Thuở ấy có vua Bao Vương, Sinh ra công chúa phi phương la lùng «see Theo chung tôi, co ban 15 như thể, nhuag cũng như ở o Ø is 5 gag ae , ` thể Lục bết chính thức, trong 161 biến thể lục bất này eo trẻ e ^ Lạ ~ £ ^ cưng Ven ap dựng ngoại lệ "nhất, tam, ngủ bất luận" , ~ ` 7e ~ oe Ly. o eae i x o nghia le cec chữ thư nhat, thu ba, thư năm trong cầu sau _ ^ tớ ` ^ -‹ ^ ?. La a cung như cầu tem đều khong vat buộc phei theo dung luật bằng trắc như da néu trên. Ngoai va, ca biệt cung có khi sự biển đổi cồn vượt ca Lệ "nhất, tam; azu bất luện", để thay đổi đến cht: thứ bẩy.

Chẳng hẹn như trường hợp câu miêu tea Be Triệu : Vi dai ba thước lai thoi, ligoi chấm đến đài cli ri dến chân, Ch thứ bay ở cêu bẩm, theo công tie như Dương Quảng Ham đã nêu thi phai 18 tiếng ving, nhưng ở cây lại lề tiếng trắc. Điều ray chứng rổ zằng sư biển đổi vền điệu cùng luật bảng trểc trang thơ lục bat lạ hết sức linh hoạt, do do ma no ceng meng đệm tính chất bình dim, va rổ đúng 1a một chủng loại the ứng tac, thơ kể chuyện của tầng lớp bình dân, Cùng loại biển thể lục bất thao lổi gieo vần ở chữ thw tư này còn thấy oo ở trong thể loại ca đao dân ca,ma cổ phần chắc 1a cũng xuất hiện trong khoang hai thé kf 16-17. Chẳng hẹn như trong sech Nam phong gisi trao của Trần Danh Ấn (1754-1794) và séch Vũ trung tùy out của Phạm Dinh Hổ (1763-1323) ma chứng tôi đã cơ dip nhắc đến ở phần trên, đều co ghi được bai ca đao : e, ` *“ a `. ^ Gai co lặn 161 bo sông; oe, ` ae .„ * ? Genn geo due chong ticng knoe ni non.

` wang ve nuôi cai cùng cm, , La _—* Cho anh đi trey nược non Ceo Sang. ` +a read aR ee a VỀ vai ca ney, Phạm Dinh 36 da aia)gigi tnfch rằng đây 1a bei ca cua vợ céc chủ lfah làm ra khi chồng phai đi ,. ` ^ đt, a par ~ chinh chiến trong thoi kỳ nội cuiển liên miên giữa họ a ` h hạ ? " LE va ho lạc Ở Cao Sdnge = 8B= Xết vin luét che lổi biến thé lục bất va căn cứ vào cội dung được phan enh trong vei ce, ching tea hoàn toen co thé tin rong déy cứng ia bhi ca de xuất hiện trong khoang mẫy chục năm cuối thể LỆ TT tửcllầà vào thời kì ` vế ` a a DA ` ay ma họ lạc con số thu ở vimg Ceo Bange Thực re, nếu căn cứ veo niên dgi tuyét đổi thì ngay từ nue cuối thể kỷ 16, vei Lém tuyền ven cle Phùng Khắc Khoen, chứng ta cùng de cổ thể bất gặp hiện tượng gieo stn luag ở cht (hoặc ẩm tiết) thứ tư của câu bat rồi. Chẳng hạn như : iigay nhiều vật lạ của tươi, Che chở ngan đời, dén 4m dân no, Con cd thể din thêm một sổ thf dụ cổ tính chất đồng dei nus, tuy nhiên chỉ chừng fy cũng de đử để chứng ta cổ thể khẳng định rằng, hiện tượng thơ lục bất biển thể, giao vần ở chữ thứ tư của cầu bat, la hiện hượng thường cặp trong thơ ca Nôn dén gian của thể kf 17.

Co thể gọi đổ là tho luc bát cổ haặc thơ lục bat sớm đều được. Vi từ đầu thể kf 18 trở di, thì mô hình phổ biển của thơ lục bat trong cđc truyện Nôm bình đân là gieo vin ở chữ thi sau, chứ không phải ở chữ thứ tư của câu bat. Đây không chỉ 13 điỀu tim thấy trên bình điện nghiên cứu văn học, 2a con lồ điều đa tin thấy ca trên bình điện a 7 dây ~ nghiên cửu ngôn nzw hgce a ° as ø Aa ? ` ` Trong một ssi zzhiên sửưu công phu "Thu ben thêm về 2 : B ef Ễ f vy z cao la thé thơ Lạc bat", câng bố trên Tạp chf Văn họa dén gien nh. z Đ KG ¬- ay & ~ , BC en (Ses , ` SỐ 3“4 năm 1985, dac nhe 1gôn am hocliguyén "si Cấn và eu eae ` SA ^ ` ` Ẳ Vo Binh, “tu goc độ ugén new học" va bằng “phương pháp z e ° a ~ ig ° ` nghiên cưu cue ngon neu hoc", seu khi kheo sat kho tang e o , +.“ tụ SA 7e ` i rs 4 ¬ các tac phẩm lục bat hiện c3, va din re một sế thí du về L4 , R ` od e Pi e ~ vấn đề biến thể me trong cø c3 brường hợp giao vền ở chữ a “hs ones Lan ^ 2 td thu tu của cầu bet, da di toi Ret luận rằng "Co thể co Rae , & bs a Ry: ^ bỏ cổ ^ `.

nhimg biển the cổ xuất hiện vao luc mô hình lục det chưa thệt định hinh. Điều thu vị le từ goc độ đên tệc học, ve trên cơ sở cử liệu dén tộc hạc so sanh, cøc nhà dén tộa học Lê Văn đảo cũng từng có ahén xét rồng thé tho lục bất cổ cửa người Việt 1à hình thức lục bất gieo vin ở chữ thứ tư của sâu bate Trong tiểu luận "TẦm hiểu quan hé z‡ao lưu văn hoa Việt - Cham qua kho tng văn hẳa dén gien cua người Việt và người Cham", trong seach Cop phần nghiên cứu ban Vinh ben sắc các đân tộc ở Việt Nam (H.1980),tac gia da cho biết : "Dm ca người Viet sử dụng phổ biển thé thơ lục bat Trong dên ca Cham củng có thể thơ lục bát, Vf dụ những bài đên ca gies duyén To atm tare va nhưng bai đân ca én tinh To_mu_yut của người Cham giai bay nỗi niềm tâm sy giữa nhưng côi trei sai yêu nheu bằng những lời thơ cý nội đụng ft tzữ tinh như ở dim ca người Việt, về có ` eo ` A, Ề. “ hd Wink thye 1ã the tho luc oat Chem gieo vén giong như ở , _ “® v ` , 2A 7 7 » aÊ thơ lục bat e3 cua ngươi Việt (chứ thu seu cua sas! Ũ Q a0» u H aaa a + be = bơ w w thu tư cue câu bat)". oe ae RN eo v * ` - ` Rồi tec gie đền một bei ca luc bet Cham như seu : Théy mei mung déh thây ô , broh phik kâu 15 yom tha yrang.

Chek tien mung asit dih deng, Mal hu xa ureng 2an lô lingik. (Ai đến từ đằng kia ei đo, Dep long te hình như một người ‹ Mồ ta đa mến yêu từ khi con Bm ngựa, Nay da thugc về người khác rồi, tiếc qua trời ơi!

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về thể loại chuyện nôm bình dân của người Việt" mang đến cái nhìn sâu sắc về một thể loại văn học dân gian đặc sắc của người Việt. Tác giả phân tích nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của chuyện nôm trong đời sống văn hóa, từ đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của thể loại này. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách mà chuyện nôm không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân mà còn là phương tiện truyền tải tri thức và giá trị văn hóa qua các thế hệ.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học dân gian, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn khảo sát văn học dân gian stiêng, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các thể loại văn học dân gian khác. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ khảo sát và nghiên cứu văn học dân gian của cư dân ven biển miền trung và nam bộ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng của văn học dân gian ở các vùng miền khác nhau. Cuối cùng, bài viết Skkn dạy học văn học dân gian thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường thpt nguyễn sỹ sách sẽ cung cấp những phương pháp dạy học hiệu quả, giúp bạn áp dụng kiến thức vào thực tiễn giáo dục. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về văn học dân gian Việt Nam.