Tổng quan về luận án
Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn "Nghiên cứu về thể loại truyện Nôm bình dân của người Việt - Lịch sử hình thành và bản chất thể loại" do nghiên cứu sinh Kiều Thu Hoạch thực hiện năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên ngành Văn học dân gian (Mã số: 50407), đánh dấu một bước ngoặt học thuật trong việc nhận diện và xác lập vị thế của bộ phận truyện Nôm khuyết danh trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trước thời điểm công trình này ra đời, nền nghiên cứu ngữ văn trung đại Việt Nam tồn tại một khoảng trống học thuật (research gap) mang tính bản thể luận sâu sắc: giới nghiên cứu văn học sử và folklore học vẫn duy trì sự phân định mơ hồ, lưỡng phân khi tiếp cận truyện Nôm bình dân. Đa số các công trình trước đó như Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập III (1965) của Lê Trí Viễn và Lê Hoài Nam, hay Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Tập II (1978) của Nguyễn Lộc hầu như chỉ xử lý truyện Nôm dưới giác độ tác phẩm văn học viết, quy nạp vào từng thời kỳ lịch sử một cách cơ học hoặc chỉ dừng lại ở các bài viết ngắn bình luận tư tưởng của từng tác phẩm riêng lẻ (toàn giới học thuật chỉ có khoảng 15 bài nghiên cứu rải rác).
Để giải quyết triệt để vấn đề này, luận án xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học mang tính hệ thống:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Truyện Nôm bình dân thực chất ra đời từ thời điểm lịch sử nào và chịu sự chi phối của những tiền đề kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng trung đại nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc thi pháp, hệ thống ngôn ngữ, phương thức diễn xướng và phương thức sáng tác của truyện Nôm bình dân mang đặc trưng của sáng tác folklore hay văn học bác học?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Mối quan hệ chuyển hóa loại hình giữa các thể loại tiền thân (diễn ca tôn giáo, kể hạnh, truyện cổ tích) với truyện Nôm bình dân diễn ra theo quy luật nào?
- Giả thuyết khoa học 1 (H1): Truyện Nôm bình dân không phải ra đời từ thế kỷ 13–15 như các ức thuyết văn học sử cũ, cũng không thể bị giới hạn trong giai đoạn thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, mà đã định hình vững chắc từ thế kỷ 17 dựa trên các chứng tích ngôn ngữ lục bát cổ và văn bản học Hán Nôm.
- Giả thuyết khoa học 2 (H2): Bản chất thể loại của truyện Nôm bình dân là sáng tác folklore (dân gian) đích thực, vận động và tồn tại trong môi trường văn hóa truyền khẩu, diễn xướng dân gian thay vì thuần túy là văn bản thành văn tĩnh tại.
Khung lý thuyết của công trình được định vị trên nền tảng tiếp cận liên ngành giữa Folklore học (Folkloristics), Thi pháp học cấu trúc (Structural Poetics) và Văn bản học Hán Nôm lịch đại. Đóng góp đột phá của luận án nằm ở quy mô khảo sát thực nghiệm toàn diện trên 105 văn bản tác phẩm truyện Nôm hiện còn (được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học Xã hội), giải mã niên đại thể loại từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, đồng thời cung cấp một hệ thống tiêu chí thi pháp học chính xác để phân biệt ranh giới giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học.
Literature Review và Positioning
Khảo sát tổng quan y văn cho thấy tiến trình nghiên cứu truyện Nôm trước năm 1996 bị chia cắt bởi hai luồng quan điểm đối lập sâu sắc giữa các nhà nghiên cứu văn học viết và các học giả folklore học:
Luồng quan điểm thứ nhất tiếp cận truyện Nôm thuần túy từ góc độ văn học sử thành văn. Nhóm tác giả Lê Quý Đôn (1957) trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam đã xếp các truyện như Vương Tường, Trê Cóc, Trinh Thử, Thạch Sanh vào nhóm tác phẩm vô danh thế kỷ 13–15. Nhóm biên soạn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập III (1965) gồm Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam lại dồn toàn bộ truyện Nôm khuyết danh vào giai đoạn giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Đến năm 1978, Nguyễn Lộc trong bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã dành một chương cho "Truyện Nôm bình dân" nhưng chỉ bàn chung sau các kiệt tác của tác giả bác học như Hoa tiên, Sơ kính tân trang, Truyện Kiều. Điểm hạn chế căn bản của khuynh hướng này là biến truyện Nôm thành một đối tượng tĩnh tại, gạt bỏ môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian xung quanh nó.
Luồng quan điểm thứ hai thuộc về các nhà nghiên cứu văn học dân gian như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (Văn học dân gian, Tập I, 1972), Cao Huy Đỉnh (Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 1974), Đỗ Bình Trị (Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam, 1978). Các tác giả này nhận thấy rõ các yếu tố dân gian trong truyện Nôm nhưng lại ngập ngừng, chỉ xếp truyện Nôm như một thể loại "gần với văn học dân gian" mà không dành riêng một chương mục độc lập để định danh bản thể thể loại của nó. Hiện tượng lưỡng phân này được bộc lộ rõ nét qua nhận định của Lê Trí Viễn: "Truyện Nôm khuyết danh có thể có hai loại: một loại gần với văn học dân gian, một loại gần với văn học bác học... Gần với văn học dân gian hay cũng là văn học dân gian, đó hãy còn là vấn đề phải nghiên cứu" và nhận xét của Đinh Gia Khánh khi xem truyện Nôm chỉ là "hiện tượng chứng tỏ ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết bằng chữ Nôm của trí thức phong kiến".
Ở bình diện quốc tế và nghiên cứu loại hình so sánh, luận án đã định vị vị thế học thuật bằng cách đối thoại với luận án tiến sĩ của Trần Quang Huy (Đại học Đài Loan, 1973) nhan đề Việt Nam Nôm truyện dữ Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết quan hệ chi nghiên cứu, chỉ ra sự khác biệt bản chất giữa truyện Nôm bản địa và tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc; đồng thời mở rộng khung so sánh với các nghiên cứu loại hình truyện thơ Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc (1983) và các công trình nghiên cứu folklore Nga của V.M. Zhirmunsky về thi pháp anh hùng ca truyền khẩu. Luận án khẳng định bước tiến vượt bậc: lần đầu tiên đưa truyện Nôm bình dân thoát khỏi tình trạng "văn học khuyết danh" để định danh khoa học như một thể loại tự sự dân gian bằng thơ mang tính chất phức hợp loại hình.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án thách thức trực diện hệ quy chiếu đơn tuyến của lịch sử văn học truyền thống – vốn đồng nhất sáng tác chữ viết với văn học bác học – để bổ sung và mở rộng lý thuyết Folklore học trong môi trường văn hóa trung đại có chữ viết (written folklore / textualized folklore). Công trình xác lập bước chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ "Văn bản học tĩnh tại" sang "Thi pháp học folklore động lực", chứng minh rằng sự tồn tại của chữ viết (chữ Nôm) không làm triệt tiêu bản chất dân gian của tác phẩm, mà chỉ là phương tiện ghi chép, cố định hóa một chỉnh thể diễn xướng văn hóa truyền khẩu.
Khái niệm "Truyện Nôm bình dân" được luận án định nghĩa lại với các thuộc tính lý thuyết cốt lõi:
- Tính cội nguồn: Bắt nguồn trực tiếp từ kho tàng truyện cổ dân gian (cổ tích, truyền thuyết) và cấu trúc thơ ca dân gian (ca dao, diễn xướng cửa đình).
- Tính vô danh và tập thể: Sáng tác mang tính tập thể, trải qua quá trình bồi đắp, cải biến liên tục qua nhiều thế hệ dị bản của tầng lớp bình dân và các ông đồ nghèo nông thôn.
- Phương thức tồn tại diễn xướng: Không chỉ đọc bằng mắt mà chủ yếu tồn tại trong các không gian sinh hoạt văn hóa dân gian (kể chuyện đêm, hát trống quân, chèo sân đình, tuồng đồ).
┌────────────────────────────────────────┐
│ CỘI NGUỒN FOLKLORE TRUYỀN KHẨU │
│ (Truyện cổ tích, Truyền thuyết, Ca dao)│
└──────────────────┬─────────────────────┘
│
▼
┌────────────────────────────────────────┐
│ GIAI ĐOẠN DIỄN CA HÓA │
│ (Kể hạnh, Điễn ca tôn giáo, Chân kinh) │
│ - Mô hình Lục bát biến thể │
│ - Gieo vần lưng ở tiếng thứ tư │
└──────────────────┬─────────────────────┘
│ (Thế kỷ 17)
▼
┌────────────────────────────────────────┐
│ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN ĐỊNH HÌNH │
│ (Cấu trúc: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ)│
│ - Văn tự hóa qua bản khắc gỗ Nôm │
│ - Lưu truyền qua diễn xướng dân gian │
└──────────────────┬─────────────────────┘
│ (Thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 20)
▼
┌────────────────────────────────────────┐
│ KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐA DÂN TỘC │
│ - Sân khấu dân gian (Chèo, Tuồng đồ) │
│ - Giao lưu liên tộc người (Tày, Thái) │
└────────────────────────────────────────┘
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ ba trụ cột lý thuyết:
- Lý thuyết thi pháp học cấu trúc tự sự (Structural Narrative Theory): Mô hình hóa cấu trúc cốt truyện ba hồi bất biến: Gặp gỡ $\rightarrow$ Tai biến $\rightarrow$ Đoàn tụ.
- Ngôn ngữ học lịch sử và Văn bản học Hán Nôm: Phân tích quy luật biến âm tự dạng chữ Nôm và các cấu trúc vần luật cổ điển để định vị trục thời gian ra đời của văn bản.
- Loại hình học văn hóa diễn xướng (Performance Theory in Folkloristics): Xem xét văn bản trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh thực hành văn hóa (sân đình, chùa chiền, lễ hội làng xã).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp Thông diễn học văn hóa (Cultural Interpretivism), triển khai thiết kế nghiên cứu liên ngành đa tầng bậc (multi-level interdisciplinary design):
THIẾT KẾ LIÊN NGÀNH
┌────────────────────────────────┼────────────────────────────────┐
│ │ │
▼ ▼ ▼
┌─────────────────┐ ┌─────────────────┐ ┌─────────────────┐
│ FOLKLORE HỌC │ │ VĂN BẢN HỌC │ │ NGÔN NGỮ HỌC │
│ Loại hình & │ │ HÁN NÔM │ │ LỊCH SỬ │
│ Diễn xướng │ │ Khảo dị & │ │ Âm vị & │
│ dân gian │ │ Giám định niên │ │ Luật lục bát │
│ │ │ đại mộc bản │ │ biến thể │
└─────────────────┘ └─────────────────┘ └─────────────────┘
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu văn bản và khảo sát thực địa được thực hiện qua các bước nghiêm ngặt:
- Thu thập và phân loại mẫu văn bản: Tập hợp toàn bộ 105 tác phẩm truyện Nôm còn lưu giữ trong các tàng thư mộc bản, bản chép tay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Khoa học Xã hội (gồm các ký hiệu văn bản quý như Chàng Chuối tân truyện AB.84, Chúa Thao cổ truyện AB.82, Hữu Kế truyện AB.72, Lý Công tân truyện AN.76, Minh Không kệ dẫn diễn âm 599, Mộng Hiền truyện AB.189, Ông Ninh cổ truyện AN.42, Quán Âm tống tử bản hạnh 639).
- Đối chiếu dị bản và giám định niên đại văn bản học: Đối chiếu các dạng tự dạng chữ Nôm cổ, các dấu vết kiêng húy thời Lê - Trịnh, Tây Sơn và nhà Nguyễn; kết hợp khảo sát các tư liệu chính sử pháp chế như Lê triều chiếu lệnh thiện chính, Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch triều tạp kỷ.
- Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp chặt chẽ giữa:
- Dữ liệu văn bản học Hán Nôm.
- Cứ liệu ngôn ngữ học lịch sử của Nguyễn Tài Cẩn và Vũ Bình (1985) về luật thơ lục bát cổ.
- Cứ liệu dân tộc học so sánh của Lê Văn Hảo (1980) về hiện tượng đồng dạng trong thơ dân ca Chăm (To-am-tarc, To-mu-yut).
Data và phân tích
Mẫu khảo sát của luận án mang tính đại diện tuyệt đối cho di sản truyện Nôm Việt Nam với 105 đơn vị tác phẩm. Kỹ thuật phân tích văn bản tập trung vào cấu trúc âm luật và cấu trúc cú pháp của thể thơ lục bát trung đại.
Luận án chứng minh sự chuyển đổi quy luật hiệp vần từ mô hình lục bát cổ (thế kỷ 17) sang mô hình lục bát chính thức (thế kỷ 18 trở đi). Mô hình âm luật của câu lục bát biến thể thế kỷ 17 được luận án giải mã với công thức chặt chẽ:
$$\begin{matrix}
\text{Câu 6:} & \text{x} & \text{b} & \text{x} & \text{t} & \text{x} & \mathbf{b_1} \
\text{Câu 8:} & \text{t} & \text{t} & \text{x} & \mathbf{b_1} & \text{x} & \text{b} & \text{x} & \text{b_2}
\end{matrix}$$
Trong đó: Chữ cuối câu sáu hiệp vần với chữ thứ tư câu tám (yêu vận đặt ở vị trí thứ tư thay vì thứ sáu), và câu tám bắt đầu bằng hai tiếng trắc để cân bằng tiết tấu.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phát hiện 1: Xác lập thời điểm định hình thể loại vào thế kỷ 17 trên cơ sở pháp chế và văn bản học.
Luận án bác bỏ quan điểm xếp truyện Nôm vào thế kỷ 13–15, đồng thời chứng minh truyện Nôm bình dân đã phát triển rực rỡ ngay trong thế kỷ 17. Bằng chứng lịch sử mang tính pháp lý thép là Điều 35 trong 47 điều lệ giáo hóa ban hành năm Canh Trị nguyên niên (1663) đời vua Lê Huyền Tông, được Tham tụng Phạm Công Trứ soạn dưới lệnh chúa Trịnh Tạc, ghi rõ trong Lê triều chiếu lệnh thiện chính:
"Phàm kinh, sử, tử, tập, cập văn chương hữu ích ư thế giáo giả, phương khả san bản thông hành. Nhược Đạo, Thích dị đoan tà thuyết chư thư, tịnh quốc ngữ chư truyện cập thi ca thiệp ư dâm đãng giả, bất khả san bản mãi mại, dĩ thương phong hóa."
Sắc lệnh cấm in khắc này tiếp tục được Chúa Trịnh Cương nhắc lại vào năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718) và Chúa Trịnh Doanh nhắc lại vào năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Đặc biệt, năm Cảnh Hưng thứ 21 (1760), Bồi tụng Nhữ Đình Toản đã diễn thơ Nôm điều luật này:
"Ngũ kinh chư sử xưa nay,
Với chư tử tập cùng rày văn chương.
Dạy bảo có ích đạo thường,
Mới nên san bản bốn phương thông hành.
Kỳ như Thích, Đạo, phi kinh,
Lời tà mối lạ tập tành truyện ngoa.
Cùng là truyện cũ Nôm na,
Suốt thơ tập ấy lại ca khúc này.
Tiếng dâm dễ khiến người say,
Chớ cho in bản, hại thay thói thuần."
Việc nhà nước phong kiến liên tục ban lệnh cấm khắc in và lưu hành trong suốt hơn 100 năm (1663–1760) là bằng chứng không thể chối cãi về sự phổ biến và sức sống mãnh liệt của truyện Nôm bình dân ngay từ thế kỷ 17.
Phát hiện 2: Giải mã mô hình thi pháp lục bát biến thể thế kỷ 17 qua trường ca "Thiên Nam ngữ lục".
Khảo sát tác phẩm diễn ca lịch sử khổng lồ dài 8.136 câu thơ Nôm Thiên Nam ngữ lục (xuất hiện cuối thế kỷ 17), luận án phát hiện hiện tượng gieo vần ở chữ thứ tư của câu bát xuất hiện dày đặc, hoàn toàn đồng dạng với các truyện Nôm bình dân sớm như Lý Công, Minh Không kệ dẫn diễn âm, Quan Âm tống tử bản hạnh. Ví dụ miêu tả Bà Triệu trong Thiên Nam ngữ lục:
"Mặt như vầng nguyệt mới lên,
Mắt sáng như đèn, má tựa sen tươi.
Vú dài ba thước lôi thôi, (chữ thứ 4)
Ngồi chấm đến đùi, cúi rủ đến chân."
So sánh với truyện Nôm Lý Công:
"Khoan khoan chân bước lên đường,
Thấy chàng họ Lý ngồi đương ăn mày.
Đầu thời đội nón sở may, (chữ thứ 4)
Mặt ve mình gầy cuốn sách giở lâu."
Hiện tượng vần lưng ở vị trí thứ tư câu bát này hoàn toàn trùng khớp với bài ca dao thời Lê - Mạc ghi trong Nam phong giải trào của Trần Danh Án và Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ:
"Gái cớ lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Vàng ve nuôi cái cùng con, (chữ thứ 4)
Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng."
Điều này chứng minh vần lục bát chữ thứ tư là mô hình lục bát dân gian đặc trưng của thế kỷ 17, trở thành tiêu chí loại hình học vững chắc để định vị niên đại truyện Nôm bình dân.
MÔ HÌNH HIỆP VẦN LỤC BÁT BIẾN THỂ THẾ KỶ 17:
Câu Lục: ○ ─ ○ ─ ○ ─ [VẦN A] (tiếng thứ 6)
│
▼ (Hiệp vần lưng)
Câu Bát: ○ ─ ○ ─ [VẦN A] (tiếng thứ 4) ─ ○ ─ ○ ─ ○ ─ [VẦN B] (tiếng thứ 8)
Phát hiện 3: Quy luật chuyển hóa từ diễn ca tôn giáo (kể hạnh) sang truyện thơ Nôm.
Luận án chứng minh con đường hình thành truyện Nôm bình dân bắt đầu từ việc diễn ca các tích truyện tôn giáo (chủ yếu là Phật giáo) từ văn tế, bài cúng sang thể lục bát để "kể hạnh" trong hội chùa (như trường hợp Minh Không kệ dẫn diễn âm tại chùa Keo, Thái Bình; Quan Âm tống tử bản hạnh chuyển hóa thành Quan Âm Thị Kính; Địa Tạng bản hạnh chuyển thành truyện Mục Liên cứu mẫu). Sau đó, hình thức này mới mở rộng sang phản ánh các chủ đề thế sự - xã hội (Hữu Kế, Lý Công, Thoại Khanh - Châu Tuấn).
Phát hiện 4: Tính chất tiếp nhận và không gian văn hóa diễn xướng đa dân tộc.
Truyện Nôm bình dân người Việt không chỉ giới hạn trong cộng đồng người Kinh mà đã lan tỏa, dung hợp vào văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc qua con đường giao thương Kẻ Chợ và các đoàn lính thú biên ải ("Ba năm trấn thủ lưu đồn"). Tác phẩm chữ Nôm của người Việt đã được đồng bào Tày, Thái chuyển hóa thành truyện thơ dân tộc mình như Quắm Ái Cống (Nhị độ mai), Tống Tên - Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Phạm Tải - Ngọc Hoa.
Implications đa chiều
- Về lý thuyết văn học: Định hình một phân môn chuyên khảo độc lập về thi pháp học truyện Nôm bình dân trong cấu trúc nền văn học cổ điển Việt Nam.
- Về văn bản học và giám định di sản: Cung cấp khung phương pháp luận giám định niên đại mộc bản Nôm dựa trên âm luật học và cấu trúc vần lưng lục bát thế kỷ 17.
- Về bảo tồn nghệ thuật biểu diễn: Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa văn bản truyện Nôm và các kịch bản Chèo, Tuồng đồ sân đình, định hướng bảo tồn nguyên gốc các tích trò như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ, Thị Mầu lên chùa.
Limitations và Future Research
Mặc dù đạt được những thành tựu mang tính nền tảng, luận án thẳng thắn ghi nhận các giới hạn học thuật xuất phát từ hoàn cảnh tư liệu:
- Rào cản giám định niên đại tuyệt đối: Phần lớn các văn bản Nôm hiện lưu giữ tại các thư viện là bản khắc lại vào thời Nguyễn (thế kỷ 19, thời Tự Đức, Đồng Khánh) hoặc bản chép tay đầu thế kỷ 20, khiến việc khôi phục hoàn toàn nguyên bản thế kỷ 17 của một số truyện xã hội gặp nhiều thách thức.
- Sự khuyết thiếu văn bản Nôm giai đoạn thế kỷ 15–16: Sự tàn phá của thời gian và chiến tranh khiến các chứng tích lục bát thành văn giai đoạn Lê sơ còn lại quá ít (chỉ có bài hát cửa đình Sát hải đại vương đào văn của Lê Đức Mao dài 128 câu), buộc nghiên cứu phải dựa nhiều vào suy luận loại hình học so sánh.
Hệ thống 4 hướng nghiên cứu tương lai được đề xuất:
- Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và số hóa văn bản Hán Nôm để định lượng tần suất xuất hiện của vần lục bát biến thể trên toàn bộ kho tàng 105 tác phẩm.
- Nghiên cứu so sánh loại hình sâu rộng giữa truyện Nôm bình dân Việt Nam với truyện thơ truyền khẩu Đông Nam Á lục địa (Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar).
- Khảo sát sự tiếp biến văn bản truyện Nôm sang văn hóa diễn xướng Mo Mường và Then Tày.
- Nghiên cứu thi pháp tiếp nhận của công chúng bình dân qua các dị bản mộc bản được in ấn thương mại hóa tại các nhà in tư nhân đầu thế kỷ 20 (Nhà in Văn Minh, Đinh Thái Sơn).
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án được đánh giá là công trình tiên phong, quy mô và toàn diện nhất tại Việt Nam đặt nền móng cho việc nghiên cứu thể loại truyện Nôm bình dân từ góc độ folklore học. Các kết luận về niên đại thế kỷ 17 và âm luật lục bát biến thể trở thành kiến thức kinh điển được trích dẫn trong giáo trình đại học ngữ văn trên toàn quốc.
- Bảo tồn văn hóa và sân khấu: Cung cấp cơ sở khoa học lý giải vì sao các vở chèo cổ (Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình - Dương Lễ) lại có sức sống trường tồn; khẳng định giá trị nhân văn của khát vọng tự do hôn nhân, giải phóng phụ nữ và tinh thần phản kháng giai cấp phong kiến.
- Chính sách di sản: Đặt nền móng cho các dự án sưu tầm, phiên âm, dịch thuật và bảo tồn kho tàng sách Nôm vô giá tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
- Ý nghĩa quốc tế: Đưa văn học dân gian Việt Nam hội nhập vào mạng lưới nghiên cứu folklore khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định tính độc lập và bản sắc rực rỡ của tiếng Việt trong văn tự Nôm trung đại.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học dân gian, Hán Nôm, Ngôn ngữ học lịch sử: Tiếp cận phương pháp luận nghiên cứu liên ngành mẫu mực, cách thức xử lý văn bản Nôm cổ và kỹ thuật phân tích âm luật học.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học trung đại: Sử dụng khung phân loại chuẩn xác để phân biệt rõ ràng giữa dòng văn học Nôm bác học (Truyện Kiều, Hoa tiên) và dòng truyện Nôm bình dân (Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa).
- Các nhà biên kịch, đạo diễn sân khấu kịch hát dân tộc (Chèo, Tuồng, Cải lương): Khai thác cốt truyện, mô-típ và ngôn ngữ dân gian mộc mạc từ 105 văn bản Nôm để phục dựng và tái sáng tạo các tác phẩm sân khấu truyền thống.
- Cơ quan quản lý di sản và văn hóa xuất bản: Định hướng công tác sưu tầm, bảo tồn mộc bản, và tái bản các ấn phẩm văn học Nôm khuyết danh phục vụ công chúng.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp độc đáo nhất là việc xác lập luận điểm: Truyện Nôm bình dân là một thể loại folklore đích thực tồn tại dưới dạng văn bản hóa (textualized folklore). Luận án đã mở rộng lý thuyết Folklore học truyền thống (vốn chỉ công nhận truyền khẩu phi văn tự), chứng minh rằng trong xã hội trung đại phương Đông, chữ Nôm đóng vai trò như một phương tiện cố định hóa diễn xướng dân gian mà không làm mất đi tính nguyên hợp, tính tập thể và tính dị bản của văn học dân gian.
2. Đột phá về phương pháp luận của luận án khi so sánh với ít nhất hai công trình đi trước?
So với công trình của nhóm Lê Quý Đôn (1957) và giáo trình của Lê Trí Viễn - Lê Hoài Nam (1965) – vốn thuần túy dựa trên cảm quan văn học sử hoặc phân kỳ lịch sử cơ học – luận án đã tạo đột phá bằng việc kết hợp Văn bản học Hán Nôm giám định mộc bản với Ngôn ngữ học lịch sử (phân tích luật thơ lục bát biến thể hiệp vần ở tiếng thứ tư) và Dân tộc học so sánh (đối chiếu dân ca Chăm của Lê Văn Hảo), tạo nên độ tin cậy khoa học vững chắc.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu văn bản là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là việc giải mã chuỗi văn bản pháp chế phong kiến từ năm 1663 (Lê triều chiếu lệnh thiện chính đời Lê Huyền Tông) đến năm 1760 (bản diễn ca Nôm của Nhữ Đình Toản). Cứ liệu lịch sử này chứng minh rằng truyện Nôm bình dân đã bùng nổ mạnh mẽ và trở thành một "mối đe dọa tư tưởng" đối với nhà nước phong kiến Lê - Trịnh ngay từ thế kỷ 17, bác bỏ hoàn toàn định kiến cho rằng thể loại này chỉ xuất hiện từ giữa thế kỷ 18.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án xây dựng quy trình phân tích văn bản học mẫu mực: Khảo sát mã số văn bản tại Viện Hán Nôm $\rightarrow$ Đối chiếu dị bản tự dạng chữ Nôm $\rightarrow$ Bóc tách cấu trúc vần luật (vần lưng câu bát vị trí 4 so với vị trí 6) $\rightarrow$ Định vị niên đại loại hình $\rightarrow$ Phân tích cấu trúc cốt truyện 3 giai đoạn.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào?
Chương trình nghiên cứu mở rộng định hướng tập trung vào: Toàn bộ việc phiên âm, khảo dị hệ thống 105 tác phẩm truyện Nôm hiện còn; xây dựng bản đồ địa - văn hóa phân bố truyện Nôm tại các vùng đồng bằng Bắc Bộ; và nghiên cứu sự giao lưu văn hóa xuyên tộc người giữa truyện Nôm người Việt với truyện thơ các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường.
Kết luận
- Luận án khẳng định truyện Nôm bình dân có cội nguồn sâu xa từ văn hóa folklore Việt Nam, định hình vững chắc từ thế kỷ 17 và phát triển liên tục đến đầu thế kỷ 20.
- Công trình giải mã thành công mô hình thi pháp lục bát biến thể gieo vần ở chữ thứ tư của câu bát như một chỉ dấu niên đại học thế kỷ 17.
- Luận án chứng minh quy luật chuyển hóa thể loại từ diễn ca tôn giáo, bài kể hạnh nhà chùa sang truyện thơ xã hội thế sự.
- Xác lập mô hình cấu trúc tự sự ổn định (Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ) và phương thức tồn tại gắn liền với diễn xướng dân gian (Chèo, Tuồng đồ, hát Trống quân).
- Khẳng định chức năng tư tưởng - thẩm mỹ tiến bộ của truyện Nôm bình dân trong việc đề cao nhân phẩm người phụ nữ, đấu tranh cho tự do yêu đương và phản kháng chế độ phong kiến suy tàn.
- Mở ra bước chuyển dịch mô hình nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam theo hướng liên ngành giữa văn bản học, ngôn ngữ học lịch sử và folklore học so sánh quốc tế.