Chương 1: MOT SO VAN ĐÈ LÍ THUYET CÓ LIEN QUAN 1. Khai niém van ban Thuật ngữ “văn ban’ trong các ngôn ngữ An-Au đều bắt nguồn từ chữ La- tỉnh ‘textus’ có nghĩa là ‘day bén, vai’. Người hiểu “văn bản” trực tiếp trong nghĩa “tắm vải” là Barthes 1973 trong bài “Phân tích văn bản (đối với) một thần thoại của Edgar Poe” trong Kí hiệu học truyện kê vàvăn bản (Sémiotique narrative et textuelle, Larousse, 1973, tr 52-53). Tác giả viết: “Phân tích văn bản đòi hỏi.
khai thác văn bản như là một mảnh vải. như là một dải bện của những giọng khác nhau, của những mạng phức hợp cùng một lúc đan quyện vào nhau và cũng chưa hoàn tất”. Hiện nay liên quan đến thuật ngữ này còn có các thuật ngữ như discourse được dịch là diễn ngôn (Đỗ Hữu Châu, 1993) và có khi cũng là ngôn bản (Hoàng Vân Vân, 2001). Trước khi ngôn ngữ học ra đời thì phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học chưa bao giờ vượt qua giới hạn của câu.
Có nhà ngôn ngữ học còn cho rang: Câu luôn luôn được coi là đơn vị hoàn chỉnh. Đơn vị cao nhất được nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ học. Năm 1953, nhà ngôn ngữ học Dan Mạch L. Hjelmeslev là người đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ học văn bản đã viết: Cái duy nhất đến với ngành nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi đầu [.] đó là văn bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối không tách rời của nó”.
Reformatskij] Những năm 70 của thế kỷ trước, ngôn ngữ học văn bản đã nhanh chóng đạt tới thời kỳ phát triển nhất, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thé giới cũng như ở Việt Nam. Cũng từ đây, văn bản được coi là đối tượng nghiên cứu và trở thành đơn vị cao nhất của ngôn ngữ học. Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy ở giai đoạn đầu của ngôn ngữ học văn bản, các nhà nghiên cứu thường dùng thuật ngữ “text” dé chỉ đối tượng nghiên cứu là các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu. Khi đó, tên gọi văn bản, ngôn ban được dùng dé chỉ chung những sản phẩm giao tiếp bằng lời âm và chữ viết mà có thuộc tính liên kết và mạch lạc; khi định nghĩa thì chưa có sự đối lập với thuật ngữ diễn ngôn.
Sở dĩ như vậy là vì ở thời kỳ đầu, trọng tâm chú ý của việc nghiên cứu tập trung hơn ở các sự kiện giao tiếp bằng chữ viết, ngôn liệu cũng lấy từ các văn bản viết, do đó tên gọi văn bản được dùng một cách phô biến. Chang han, năm 1976 Halliday & Hasan đặt văn bản ở một mat bằng khác hăn câu: “Một văn bản là một đơn vị ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định băng kích cỡ của nó [.], nó là một cái khác với câu về chủng loại. Tốt hơn nên xem xét một văn bản như một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa.
196] Năm 1980, nhà nghiên cứu Loseva (thuộc Liên Xô cũ) cũng ghi nhận: “Văn bản có thé định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý và cau trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với điều được thông báo [. Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng- ngữ pháp. Tác giả này đã thừa nhận thái độ của người tạo văn bản như một phần tất yếu của văn bản; thái độ đó có phần trùng hợp với “mục đích giao tiếp” mà các nhà nghiên cứu diễn ngôn sau này thường nhắc đến. Ở nước ta, Trần Ngọc Thêm là người đầu tiên nghiên cứu văn bản với công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”.
Văn bản là một hệ thống mà các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cau trúc. Cau trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.
Định nghĩa này đã nêu được các yếu tô tạo thành văn bản là các câu- phần tử và cấu trúc của văn bản với mạng lưới liên kết được hiểu rộng theo hai chiều quan hệ và liên hệ. Ở giai đoạn thứ hai và tiếp cho đến hiện nay, ngôn ngữ nói được quan tâm nhiều hơn trước, tạo nên thế cân bằng với ngôn ngữ viết trong sự nghiên cứu. Người ta cố gắng phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nên có xu hướng dùng van bandé chỉ sản phẩm và phương tiện giao tiếp chữ viết (lời chữ), dùng diễn ngôn dé gọi tên sản pham và phương tiện giao tiếp nói miệng (lời âm). Do vậy các định nghĩa về văn bản được đưa ra thường có sự đối lập với định nghĩa về diễn ngôn.
Trước tiên có thé kế đến một vài nhà nghiên cứu đã xác định khái niệm văn bản như một sự quy ước dùng khi cần xác định đối tượng để làm việc mà không đi vào bản thể của đối tượng nghiên cứu, như: “Tôi sẽ sửdụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp. Sự kiện đó tự nó có thê liên quan đến ngôn ngữ nói (vi dụ: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán) hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp phích dán tường, một bảng kê các thứ mua sắm, một tiểu thuyết). Tôi sẽ để thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiép trong ngữ cảnh. “Chúng ta sẽ dùng từ văn bản như là một thuật ngữ khoa học dé chi đữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” và “việc thu băng một hành vi giao tiếp sẽ lưu giữ lai văn bản.Khi xác định khái niệm, các nhà nghiên cứu thường đặt văn bảnvà diễn ngônở trên cùng một bình diện nhưng có những đặc trưng nhất định phân biệt với nhau.
Chăng hạn, năm 1989 Guy Cook định nghĩa: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” còn “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích. Chúng tôi có thê hiểu định nghĩa này là: Gia sử có một tài liệu ngôn ngữ (bằng chữ hoặc bang âm), nếu chỉ xét ở bề mặt từ ngữ (với những nội dung ma chúng diễn dat 10 là chúng ta đã phân tích tài liệu đó như một văn bản (còn gọi là phân tích văn bản đối với nó); còn nếu xét tài liệu đó trong quan hệ với ngữ cảnh tình huống và ý định, mục đích của người phát là chúng ta đã phân tích nó như một diễn ngôn (gọi là phân tích diễn ngôn đối với tài liệu đó). Như vậy, phân tích văn bản cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn. Hiện nay ý tưởng của Guy Cook được nhiều người sử dụng trong phân tích diễn ngôn.
Trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học (1994) do R. Asher chủ biên, văn bảnđược định nghĩa bang ba nghĩa ứng với ba lĩnh vực nghiên cứu: “Văn bản: 1. Một quãng được viết hay được phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, dé tài- chủ đề v. của nó, hình thành nên một đơn vi, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biên chỉ đường v.
Văn học trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, [. Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản. Theo chúng tôi, đây là một sự định nghĩa bao quát được các cách hiểu về văn bản, không chỉ trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung mà còn cả cách hiểu văn bản trong văn học và trong bộ môn phân tích diễn ngôn vốn đang thịnh hành trong ngôn ngữ học hiện nay. Không nói đến nghĩa 2, chúng tôi cho rằng nghĩa 1 và nghĩa 3 thé hiện hai quan niệm rộng va hẹp về khái niệm văn bản.
Nghĩa I là quan niệm rộng về văn bản, được dùng trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung. Theo đó, văn bản bao gồm cả dạng nói và dạng viết của sản phẩm và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ. Đây cũng là một quan niệm tương đối phô biến mà chúng ta có thể thấy trong các công trình của M.Hasan cũng như của Diệp Quang Ban, chăng hạn:“Một văn ban có thê là được nói ra hay là được việt ra, là văn xuôi hay là tho, là 11 một đối thoại hay là một đơn thoại. Nó có thể là một cái gì đó từ một câu tục ngữ đơn lẻ cho đến cả một vở kịch trọn vẹn, từ một tiếng kêu cứu nhất thời cho đến một cuộc thảo luận suốt ngày tại một uy ban” [4,tr.
31] Năm 1989, Halliday & Hasan tiếp tục khẳng định văn bản là ngôn ngữ trong giao tiếp, có tính mục đích được tạo ra trong ngữ cảnh giao tiếp và có thê được diễn đạt băng các phương tiện khác nhau: “Văn bản là ngôn ngữ thực hiện một chức năng giao tiếp cụ thể, trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Văn bản đối lập với các từ, các câu bị tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp. Văn bản có thé ở hình thức ngôn ngữ nói, viết hay bat kỳ phương tiện diễn đạt nào”. Trong một công trình gần đây nhất, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa: “Văn bản là một loại đơn vi được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài.
như một truyện kê, bài thơ, một đơn thuốc, một biển chi đường”. Theo tác giả, định nghĩa trên có thé dùng chung cho cả thuật ngữ diễn ngôn khi chưa cần phân biệt hai thuật ngữ này. Diệp Quang Ban cho răng, đặc trưng của văn bản gồm 5 yếu tố: 1. Yếu tố chức năng: Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản, cụ thé là người tạo văn bản dùng lời nói hay chữ viết của minh dé thé hiện một hành động nào đó nhằm tác động người nghe (như hỏi, sai khiến, trình bày, cảm ơn, mời chào,.) Cũng chính chức năng này của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp.