Chương I: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của cấu trúc thông tin. Chương 2: Các phương thức tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt. Chương 3: Phạm vi tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt. TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÍ THUYET 1.
Tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong ngôn ngữ học 1. Lý thuyết phân đoạn thực tại Trong các công trình nghiên cứu những năm gân đây thường hay nói tới thuật ngữ "sự phân đoạn thực tại câu" (Actual Division of the Sentence), "phối cảnh chức năng của câu" (Functional Sentence Perspective). Tuy khác nhau về tên gọi nhưng chúng đều cùng thuộc về lý thuyết phân đoạn thực tại câu.
Người đặt nền móng cho lý thuyết này là A.Weil (1818 - 1909) - nhà ngôn ngữ học Pháp. Những ý tưởng của ông đã được V.Mathesius (1882 - 1945) phát triển và đề xuất ra thuật ngữ "phân đoạn thực tại câu". Theo bài viết của ông, "các yếu tố cơ bản của phân đoạn thực tại câu là điểm xuất phát [hay là cơ sở], tức là cái mà, trong tình huống đã cho, là cái đã biết hoặc chí ít cũng dé dàng hiểu được và người nói xuất phát từ đó, và hạt nhân của phát ngôn, tức là cái mà người nói thông báo về điểm xuất phat của phát ngôn.Mathesius, một số nhà nghiên cứu mà đại diện là nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc J.Firbas chủ trương bé sung thêm một thành phan thứ ba vào sự phân đoạn là "chuyển dé" (transition) với chức năng là phần chuyên tiếp từ chủ dé sang thuật đề (hoặc ngược lai). Trái với xu hướng trên là quan điểm của R.Dooley khi tiến hành phân tích cấu trúc câu của tiếng Guarani (1982).
Theo ông, phần duy nhất bắt buộc phải có trong câu là hạt nhân dụng pháp và phần này ít nhất phải chứa đựng một cái lõi hay tâm (core). Đó là một cái lõi mang tính thông báo cao độ, phần xung quanh chỉ là một cái khung (frame) ma nội dung là một tiền giả định được chia sẻ giữa người nói và người nghe (người hỏi và người trả lời). Do vậy, cấu trúc thông báo của câu sẽ chỉ có một trung tâm hay còn gọi là tiêu điểm. Dù có những xu hướng khác nhau như vậy nhưng đa số các tác giả thong nhất một quan niệm chung là xếp cấu trúc thông báo vào bình diện cú pháp.
Cau trúc thông tin theo ngữ pháp chức năng Lý thuyết do Mathesius và nhóm ngôn ngữ học Praha đề xướng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển theo những chiều hướng khác nhau. Cho đến nay, cách phân tích câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã phát triển và ngày càng có ảnh hưởng đến giới ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và giới nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói riêng. Dik (1981) tạo nền tảng lý thuyết cho ngữ pháp chức năng bằng cách giới thiệu về hệ hình chức năng qua việc trả lời một số câu hỏi về chức năng của ngôn ngữ tự nhiên. Dik cho rằng ngữ pháp chức năng xem ngôn ngữ như là một "công cụ giao tiếp xã hội".
Chức năng chính của ngôn ngữ tự nhiên là "thiết lập giao tiếp" giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Giao tiếp có thể được xem như là một mô hình tương tác tác động qua đó người sử dụng ngôn ngữ tạo nên một sự thay đôi nào đó trong thông tin dụng học của người cùng giao tiếp. Như vậy, ngữ pháp chức năng đề cao tầm quan trọng của dụng học, một khi nó nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ (người nói và người nghe) và bối cảnh giao tiếp. Dik cũng đã phân biệt trong dụng học có 4 chức năng khác nhau đối với bản thân kết cau vị ngữ: chủ dé (theme), hậu dé (tail), đề (topic), tiêu điểm (focus).
Hai chức năng dụng học dưới đây nằm ngoài khung vị ngữ: - Chủ đề (theme): chủ đề chỉ định toàn bộ diễn ngôn có liên quan đến điều mà kết cấu vị ngữ đi sau biểu thị một sự quan yếu. - Hậu dé (tail): hậu đề biểu thị, như một "hậu ý" đối với kết cấu vị ngữ, những thông tin làm rõ hay bé nghĩa cho nó. Hai chức năng dụng học còn lại nằm trong khung vị ngữ: - Đề (topic): đề biéu thị những thực thé mà kết cấu vị ngữ xác định điều gi đó "về" nó trong bối cảnh đã biết. - Tiêu điểm (focus): tiêu điểm biểu thị những thông tin được xem là quan trong hay nôi bật nhất trong bối cảnh đã biết.
[10,35] Bên cạnh quan niệm của S.Dik, một công trình có tầm ảnh hưởng sâu rộng khi nói tới ngữ pháp chức năng là "An Introduction to Functional Grammar"(Dẫn luận Ngữ pháp chức năng) được xuất bản lần đầu tiên vào 1985 của M. Ông cho răng câu được dùng với 3 siêu chức năng khác nhau: câu trong văn bản ứng với siêu chức năng văn bản (textual), câu trong giao tiếp ứng với siêu chức năng liên nhân (interpersonal), câu dùng làm cái biểu hiện ứng với siêu chức năng quan niệm (ideational). Theo đó ứng với mỗi chức năng có một cách tô chức đặc thù trong câu; mỗi cách tổ chức đặc thù đó làm thành kiểu cấu trúc dành riêng cho việc thực hiện một chức năng nhất định, không trùng lặp với cau trúc của chức năng khác: qua cấu trúc đề - thuyết, câu với tư cách là một thông điệp ứng với siêu chức năng văn bản. Qua cấu trúc thức, câu với tư cách lời trao đáp ứng với siêu chức năng liên nhân.
Qua cau trúc nghĩa biểu hiện, câu với tư cách như là một sự thé hiện ứng với chức năng quan niệm. Từ đó, Halliday quan niệm khi đưa câu vào văn bản, vào tình huống người sử dụng, người nói phải chọn từ ngữ làm điểm xuất phát cho việc tổ chức câu. Yếu tố được chọn làm xuất phát điểm cho câu được gọi là phần khởi đề, phần còn lại là phan trần thuyết, tức là phần diễn giải có liên quan đến phan dé, gọi gọn lại là phần dé và phần thuyết. Quan hệ giữa hai phan này được gọi là cau trúc đề hay cấu trúc đề - thuyết.
Theo ông, "có một mối quan hệ gần gũi giữa cấu trúc thông tin và cấu trúc đề ngữ. Nếu mọi cái đều ngang bằng nhau thì người nói sẽ chọn đề ngữ từ trong thành phần thông tin cũ và đặt tiêu điểm, đỉnh điểm ở thông tin mới ở một nơi nào đó trong thành phần thuyết ngữ. Nhưng mặc dù chúng có quan hệ với nhau, thông tin cũ - mới và đề ngữ - thuyết ngữ không giống nhau. Đề ngữ là cái tôi, người nói, chọn làm xuất điểm.
Thông tin cũ là cái bạn, người nghe đã biết hoặc có và bạn có thể tiếp cận được. Đề - thuyết hướng tới người nói trong khi thông tin cũ - mới lại hướng tới người nghe" [16,478]. Có thé thay, Halliday khang định cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin không đồng nhất với nhau. Từ những sự trình bày trên nhận thấy ngữ pháp chức năng của S.Dik và Halliday có nét khác biệt nhưng nhìn chung đều tiếp cận van dé của ngôn ngữ theo một chiều hướng khác với ngữ pháp cấu trúc.
Thực tế hai cách miêu tả bố sung cho nhau và làm hoàn thiện công việc nghiên cứu ngôn ngữ để nhằm những mục đích nhất định. Bởi thiết nghĩ hai biểu thức ngôn ngữ khác nhau cho dù cùng diễn đạt một thông tin nội dung mệnh đề nhưng chắc chắn dé thé hiện cho hai mục dich khác nhau. Một trong những ý nghĩa có thé sản sinh khi ta sử dụng những cấu trúc ngữ pháp và từ vựng khác nhau là nêu bật một sự tình mang tính tiêu điểm mà luận văn của chúng tôi muốn bàn tới. Ý nghĩa khác nhau đó nằm trong tầm phạm vi của dụng học.Dik [49,9] bàn đến cấu trúc thông tin dụng học, ông đã chia thành ba thành tố chính: (i) Thông tin chung: bao gồm những thông tin dài hạn về thé giới, những đặc trưng văn hoá và thiên nhiên của nó và những thông tin về bat kỳ một thé giới nào khác, dù thực hay tưởng tượng.
(ii) Thông tin tình huống: bao gồm những thông tin xuất phát từ người tham gia giao tiếp hay tình huong giao tiếp. (iii) Thông tin ngữ cảnh: là những thông tin từ các biểu thức ngôn ngữ di trước và sau thời điểm giao tiếp được xét đến. Từ sự phân loại thông tin trên cho chúng ta thấy phần thông tin tình huống sẽ rất đa dạng và phong phú vì xuất phat từ tình giao tiếp cụ thé trong thực tế. Do đó, phần thông tin dụng học mà luận văn này chúng tôi muốn xem xét khi bàn đến hiện tượng tiêu điểm hoá chỉ nằm trong phạm vi của phần thông tin thể hiện trong ngữ cảnh, nghĩa là chúng tôi muốn xét hiện tượng tiêu điểm chỉ trên cơ sở phát ngôn trong ngữ cảnh của văn bản mà thôi.
Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong Việt ngữ học Bên cạnh việc điểm qua các quan niệm khác nhau ở trên, chúng tôi nhận thấy cấu trúc cú pháp và cấu trúc thông tin dù không đồng nhất với nhau nhưng giữa hai loại cấu trúc này có mối liên hệ mật thiết trong từng ngữ cảnh cụ thể. Trong khi cấu trúc cú pháp chịu sự quy định đặc thù về loại hình cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ thì cấu trúc thông tin là một loại cấu trúc thực hiện chức năng. Bat cứ một thông tin mới nào trong phát ngôn cũng đều được thé hiện qua một hình thức cú pháp nhất định. Do đó việc xem xét cấu trúc thông tin không thể không đặt trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp dé có cơ sở vững chắc lí giải được những quy tắc trong thói quen sử dụng ngôn ngữ của người Việt.
Về cấu trúc cú pháp 1. Phân tích câu trúc cú pháp theo quan hệ chủ - vị Trong Việt ngữ học tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về cấu trúc cú pháp tiếng Việt. Sự khác nhau đó khiến việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Nhìn chung có hai đường hướng chính xung quanh cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt.
Đường hướng nghiên cứu phổ biến vẫn ton tại trong ngữ pháp nhà trường cho đến nay là phân tích cấu trúc câu ở bình điện kết học theo quan hệ chủ - vi. Những nhà nghiên cứu theo hướng này là Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban.