phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. “hương 1: Những cơ sở lý luận của luận án “hương 2 : Miêu tả những đặc trưng của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt “hương 3: Đối chiếu những đặc trưng của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng Ành và tiếng Việt -hương 4: Những ứng dung quan trọng của phân tích đối chiếu câu phủ định tiếng \nh và tiếng Việt vào việc giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt. CHUONG1 : NHUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA LUẬN AN Sự phủ định là một bộ phận của hoạt động nhận thức, của quá trình hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người. Sự phủ định là một phạm trù cơ bản của tư duy, của lô-gích hình thức.
Nó đối lập với phạm trù khẳng định. Vì vậy sự phủ định đồng thời là đối tượng nghiên cứu của triết học, lô-gích học và ngôn ngữ học. Phủ định xét về mặt triết học : Về mặt triết học, phủ định được coi như một giai đoạn tất yếu của sự phát triển, là điều kiện của sự biến đổi về chất của các sự vật. Thế giới vật chất vận động va phát triển không ngừng.
Một dạng nào đó của vật chất được sinh ra, tồn tại, rồi mất đi, được thay thế bằng một dạng khác. Triết học gọi sự thay thế đó là sự phủ định. Sự phủ định như thế là một yếu tố nhất thiết phải có của sự vận động và phát triển vì không có lĩnh vực nào lại có thể có sự phát triển nếu như không phủ định những hình thức tồn tại đã có từ trước. Thêm vào đó, khi nói đến sự phủ định, triết học duy vật biện chứng không có ý nói đến bất kỳ sự phủ định nào mà chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ.
Nguyên nhân của cái mới ra đời thay thế cái cũ, tức là nguyên nhân của sự phủ định, nằm ngay trong bản thân sự vật, nó là kết quả của những mâu thuẫn được giải quyết trong bản thân mỗi sự vật. Vì vậy , sự phủ định là có tính khách quan, là một yếu tố tất yếu của sự phát triển. Chẳng hạn, những định luật và học thuyết khoa học ngày càng phát triển là kết quả của quá trình phủ định của những tri thức đúng dan, sâu sắc đối với những tri thức sai lầm noac kém sâu sac, không đây đủ. Ngoài ra, phủ định là kết quả của sự tự thân phát rién trên cơ sở giải quyết những mâu thuẫn vốn có của các sự vật và hiện tượng.
cho nên cái mới ra đời không thể là một sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn, nà là một sự phủ định có kế thừa. Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ vì vậy nó có thon lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp của cái cũ để chuyển sang cái nới, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt gây cản trở cho sự phát triển. Chẳng hạn, rong lĩnh vực nhận thức, triết học Mác ra đời giữa thế kỷ XIX, nó đã kế thừa mọi tá trị tư tưởng của quá khứ, mà trực tiếp là các giá trị của nền triết học cổ điển dtc. Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng, không chỉ là nhân tố khắc phục ‘Ai cũ , mà còn là gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định, tạo tên vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sự phát triển.
Phân tích sự phủ định xét về nặt triết học có thể giúp chúng ta nhận thức được một quan niệm chân chính về sự shát triển phải là một thái độ ủng hộ cái mới, đấu tranh cho cái mới, khẳng định ‘Ai mới, phủ định cái cũ, chống lại cái cũ, lỗi thời kìm hãm sự phát triển. Do đó ‘hing ta có thể nói sự khẳng định-sự phủ định luôn luôn gắn liên với quá trình nhận thức của chúng ta về sự phát triển của thế giới khách quan [123, 455]. Phú định xét về mặt lô-gích học : Phủ định là một thao tác lô-gích, nhờ đó mà ừ một phán đoán này tạo ra được một phán đoán mới (gọi là phủ định cái xuất ›hát) sao cho nếu phán đoán xuất phát là chân lý thì sự phủ định phán đoán ấy là ai, còn nếu phán đoán xuất phát là sai thì cái phủ định nó là chân lý. Như chúng ta lã biết, phán đoán là một hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng khẳng định hoặc hi định, thể hiện nhận thức con người về những đối tượng trong thế giới khách juan.
Một phán đoán sẽ có một và chi một trong hai giá tri đúng hoặc sai. Hai giá ri này được kí hiệu bằng hai chữ đ (đúng) và s (sai), hoặc hai số 1 và 0. Trong lô- ích, sự phủ định phán đoán được xác định một cách duy nhất bởi quy tắc "Nếu hán đoán P (la) sau đây là đúng thì phán đoán ~P. (1b) sai còn nếu phán đoán (1a) sai i phán đoán (Ib) dung": la) P = Bức tranh này đẹp.
Lb) ~P = Bức tranh này không đep. (92, 17] "{ dụ (2a) và (2b) cũng làm rõ định lý trên : 2a) P = Bill painted the house. (Bill sơn nhà) )b)~P = Bill didn't paint the house.(Bill không sơn nhà) [22, 431] lột phán đoán là đúng khi nó phù hợp với thực tế khách quan , có thể chứng minh ược như phán đoán ( 3 ) hoặc có thể trình bày dưới dạng nguyên lý, tiên dé như hán đoán ( 4 ) : 3) P=All elephants are animals. Về mat cấu tao, từ phán đoán a, ta tạo được phán đoán phủ định của nó bằng ách đặt tác tử phủ định vào trước phán đoán này : ~ a.
Đọc là "không a". Tác tử hủ định được định nghĩa qua bảng chân lí sau : a ^a 1 0 0 1 í dụ : Phủ định (1a) ta được (1b), phủ định (2a) ta được (2b). Phủ định (5a) ta ược (Šb) sau đây : (du: ja) P = Ba đọc báo va Năm coi ti vi. 1b)~P =Không phải Ba đọc báo va Năm coi ti vi.
[92, 53] Mỗi phán đoán đều có dang : S (Subject) là P (Predicate) ( phán đoán khang định ) S khong là P ( phán đoán phủ định ) Ở đó § được đọc là chủ từ P được đọc là vị từ Các phán đoán có thể phân loại theo chất và lượng thành : Phan đoán khẳng định chung ( được kí hiệu là A ) có dạng thức 16-gich là : A =mọi S là P í dụ :(6) P = Mọi người đêu sẽ chết. Phán đoán khẳng định riêng (được kí hiệu là I) có dạng thức lô-gích là : I = một số S, nhưng không phải là mọi S , là P rí dụ : 7) P = Chiếc bảng này màu đen. Phán đoán phi định chung (được kí hiệu là E) có dạng thức lô-gích là : E =mọi S( đều ) không là P 7í dụ : 8) P = Tất cả chúng ta déu không là diễn viên. Phan đoán phu định riêng ( được kí hiệu là O ) có dạng thức lô-gích là : O = một số Š, nhưng không phải là mọi S, không là P 7í dụ : 9) P = Ông Ba không phải là kỹ sư.
(92, 47-48] ion loại phán đoán này có quan hệ chặt chẽ với nhau về giá trị chân lý va chúng ược biểu hiện trên 4 đỉnh của một hình vuông được gọi là hình vuông lô-gích mà ở ó quan hệ phủ định sẽ là quan hệ đường chéo. Nếu phủ định một phán đoán khẳng ¡nh chung A thì được một phán đoán phủ định riêng O và nếu phủ định một phán oán khẳng định riêng I thì được một phán đoán phủ định chung E. Ta có : ông thức I: ~TA=OQ ông thức IT: ~I=E lếu chú ý tới nguyên lý phủ định kép thi từ 2 công thức I va II ta suy ra : ông thức II : ~O=A ông thức IV : ~E=I tuan hệ giữa các phán đoán cùng kiểu ( cùng khang định hoặc cùng phủ định) là 1ững quan hệ thứ bậc : nếu phán đoán nằm ở đỉnh trên đã đúng thì phán đoán nằm đỉnh dưới tương ứng cũng đúng. Ta có : ông thức V : A ------->I ông thức VỊ : E ------- >O 10 )uan hệ giữa các phán đoán chung A và E là quan hệ đối lập, nghĩa là chúng hông thể cùng đúng, còn quan hệ giữa các phán đoán riêng I và O là quan hệ phản tối lập, nghĩa là chúng không thể cùng sai.
Ta có : 1ông thức VI: AAE(AvaE) luôn luôn sai ông thức VII: I VO(I hoặc O) luôn luôn đúng. A E | O Hình 1 [88] Về mat biếu hiện, những phán đoán được hình thành nhờ có câu, tức là nhờ ó ngôn ngữ. Tuy nhiên phán đoán cũng chỉ tương ứng với câu tường thuật khẳng inh hoặc phủ định (những ví dụ từ (1a) đến (9) trên) vì có thể xác định được chúng ó phù hợp với thực tế khách quan hay không, nghĩa là biết được chúng đúng hay ai. Đây là những câu [34, 91] gọi là câu phân tích (analytic sentence) có thể xác ¡nh được giá trị chân lý.
Còn những câu nghi vấn (1c), câu cảm thán (1d) (thực hất là những câu phủ định từ câu (1a)), câu mệnh lệnh (10) đều không phải là hững phán đoán vì chúng không phản ánh hay miêu tả một hiện thực khách quan ào; cho nên không thể xác định được giá trị chân lí của chúng. Ngoài ra những âu tường thuật (11-13) mà [34, 92] gọi là câu tổng hợp (synthetic sentence) tức là 5 thể đúng hoặc sai tuỳ thuộcvào thế giới quan của từng người hoặc những câu mà 12, 45] gọi là câu nghich lí lô-gích cũng không được gọi là những phán đoán vì nh chân lý của chúng không thể xác định được. i dụ : (la-d, 10) trích từ [92, 17-47] a) Bức tranh này đẹp. b) Bức tranh này không dep.
11 (Ic) Saobảo bức tranh này dep ? (]d) Bức tranh này mà dep ! (10) Dừng xe lai. (11) Cats never live more than 20 years. [34, 92] (Mèo không bao giờ sống hơn 20 tuổi) (12) Bachelors cannot form lasting relationships. [34, 92] (Những người sống độc thân không thể tao nên những quan hệ lâu dai) (13) No cat_likes to bathe.
(Chẳng có con mèo nào thích tắm cả) (34, 92] Có mối quan hệ chặt chẽ giữa phán đoán khẳng định và câu tường thuật khẳng định (gọi tat là câu khang định), giữa phán đoán phủ định va câu tường thuật phủ định (gọi tắt là câu phủ định), đồng thời giữa phán đoán khẳng định-câu khẳng định và phán đoán phủ định-câu phủ định.