Phần mở đầu: Phần này giới thiệu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chƣơng 1: Cơ sở lí luận. Chương này trình bày khái quát các lí thuyết về kết hợp từ cố định, về lỗi và phân tích lỗi, về ngôn ngữ học ngữ liệu, và giới thiệu các kho ngữ liệu tiếng Anh được dùng làm tham chiếu xác định lỗi. Bên cạnh đó, chương này cũng đưa ra giả thuyết nghiên cứu của luận văn và miêu tả cụ thể về quá trình thu thập ngữ liệu, xây dựng kho ngữ liệu, và việc áp dụng phương pháp ngôn ngữ học ngữ liệu trong phân tích lỗi kết hợp từ cố định.
Chƣơng 2: Lỗi thực từ kết hợp với giới từ. Chương này trình bày kết quả và bàn luận về nguyên nhân gây ra các loại lỗi kết hợp từ cố định trường hợp thực từ kết hợp với giới từ. Chƣơng 3: Lỗi thực từ kết hợp với thực từ. Chương này trình bày kết quả vào bàn luận về nguyên nhân gây ra các loại lỗi kết hợp từ cố định trường hợp thực từ kết hợp với thực từ.
Phần kết luận: tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, nêu ra những hạn chế của luận văn và phương hướng phát triển tiếp theo. Định nghĩa kết hợp từ cố định Trước hết, chúng ta xem xét ba nhóm từ dưới đây: (1) (2) (3) dark blue crystal clear green-eyed make a cake make a mistake make it Nhóm (1), nghĩa của cả cụm từ được dễ dàng suy ra từ nghĩa của từng thành tố trong cụm từ đó, đồng thời mỗi một thành tố có thể tham gia vào các quan hệ liên tưởng khác nhau, ví dụ “dark blue”, thì “dark” có thể được thay thế bằng “light”, “blue” có thể được thay thế bằng “red” hay “green”, v. Nhóm (1) là một kết hợp lỏng lẻo, và tần suất dark + blue kết hợp với nhau không phải là dày đặc trong các kết hợp của blue. Nhóm này gọi là các kết hợp từ tự do.
Nhóm (3), nghĩa của cả cụm từ không thể suy ra từ nghĩa của từng thành tố trong cụm đó, ví dụ “green-eyed” nghĩa là “ghen tị”- chỉ một loại cảm xúc của con người, trong khi nghĩa của từng yếu tố trong cụm ghép lại thì chỉ là “mắt – xanh”. Nhóm này gọi là các “thành ngữ”, chúng là một tổ hợp cố định, luôn luôn đi cạnh nhau và khó phán đoán về nghĩa. Nhóm thứ (2) nằm giữa hai nhóm trên, nghĩa của cả cụm có thể hình dung được dựa vào nghĩa của từng thành tố, ví dụ “crystal clear” = rõ ràng (như) pha lê, tuy nhiên mỗi yếu tố trong cụm từ lại không hoàn toàn tự do tham gia vào quan hệ liên tưởng khác. Ví dụ không thể thay “crystal” bằng “glass” được.
Chúng ta có thể hình dung kết hợp từ cố định nằm trên một dải liên tục từ kết hợp lỏng lẻo đến thành ngữ, tính “cố định” của chúng lại khá linh hoạt trong nhiều trường hợp khác nhau, chúng có thể rất gần với kết hợp lỏng lẻo, hoặc rất gần với thành ngữ. 11 z Kết hợp lỏng lẻo Kết hợp cố định Thành ngữ Chúng ta có thể tham khảo một định nghĩa như sau về kết hợp từ cố định trong từ điển Oxford: “[kết hợp từ cố định] là sự kết hợp theo thói quen của một từ cụ thể với một từ khác có tần suất lớn hơn ngẫu nhiên.” (the habitual juxtaposition of a particular word with another word or words with a frequency greater than chance.) Việc đưa ra những bộ tiêu chí để phân biệt một kết hợp là lỏng lẻo hay cố định đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm từ lâu. Để xác định cụm từ cố định, Firth (1957) dựa vào tần suất đồng hiện, ông và những người ủng hộ coi tần số đồng hiện là đặc điểm đặc thù của kết hợp từ cố định. Halliday (1966) và Sinclair (1991) tiếp tục đề cao vai trò của tần suất đồng hiện.
Sinclair cho rằng, kết hợp từ cố định là “sự xuất hiện của hai hay nhiều từ, trong một khoảng cách gần nhau trong văn bản” (“the occurrence of two or more words, within a short space of each other in a text”). Tuy nhiên, Howarth (1998), Schmitt (1998), Shin và Nation (2008), và Nizonkiza (2012b) trong [36], [49], [52], [47], cho rằng, tuy tính “kết hợp thường xuyên” là một chỉ dấu quan trọng, nhưng chỉ riêng nó vẫn là không đủ để miêu tả kết hợp từ cố định. Danh sách 100 kết hợp từ cố định phổ biến trong ngôn ngữ nói tiếng Anh do Shin và Nation [52, tr.345] đề xuất đã không đưa vào những cụm chào hỏi như „good morning‟, „good afternoon‟, „good evening‟, và „how are you?‟, mặc dù chúng đáp ứng được yêu cầu về tần suất đồng hiện. Họ đề xuất tần suất sử dụng cần được cân bằng hợp lí với các tiêu chí khác, đặc biệt trong giảng dạy.
12 z Một hướng tiếp cận khác là từ truyền thống từ vựng học. Những người ủng hộ truyền thống này đề xuất định nghĩa về kết hợp từ cố định bằng việc cân nhắc bản chất cú pháp của các thành tố kết hợp từ và mức độ về khả năng thay thế của chúng. Ví dụ: “powerful engine” là một kết hợp từ cố định trong tiếng Anh, trong khi “strong engine” lại không phải. Các tính từ “powerful” và “strong” có nghĩa rất gần nhau nhưng lại không thể dùng thay thế được.
Tuy nhiên ta vẫn có thể thay “powerful” bằng “big, small, twin,…” để tạo thành các kết hợp đúng với từ “engine”. Tương tự với kết hợp “strong tea”, các từ thay thế cho tính từ “strong” có thể là “stewed, weak, cold, hot, fresh, …” nhưng không thể dùng “powerful” khi miêu tả về “tea”. Rõ ràng ở đây, sự thay thế là có thể xảy ra nhưng bị giới hạn. Theo Nesselhauf (2005), hướng tiếp cận từ truyền thống từ vựng học bị ảnh hưởng bởi truyền thống từ vực học tiếng Nga, và Cowie là đại diện tiêu biểu.
Cowie chia kết hợp từ cố định thành hai loại là loại hỗn hợp (composites) và loại công thức (formulae). Những cụm từ như “good morning” và “how are you” là loại công thức với chức năng ngữ dụng là chủ yếu. Ngược lại, kết hợp từ cố định thuộc loại hỗn hợp thì sẽ chủ yếu có chức năng cú pháp [45]. Benson và cộng sự [12] và Nation (2001) lại chấp nhận tần suất là yếu tố quyết định khi định nghĩa kết hợp từ cố định dù họ đi theo hướng từ vựng học.
Theo đó, một kết hợp từ cố định phải “bị giới hạn, rõ ràng và thường xuyên” (“restricted, transparent and frequent”). Điều này tạo tiền đề cho một hướng tiếp cận mới nhằm dung hòa hai trường phái trước. Hướng tiếp cận này chọn những ưu điểm của cả hai truyền thống nhằm hạn chế những điểm yếu của từng bên [45, tr. Hướng tiếp cận này phù hợp với quan điểm của Handl‟s (2008) nói rằng kết hợp từ cố định là kết quả của minh bạch ngữ nghĩa, phạm vi kết hợp và tần số có liên quan của các thành tố (semantic transparency, 13 z collocational range, and related frequency of the constituents) [33].
Vậy nên các yếu tố ngữ nghĩa, từ vựng và thống kê đều thuộc hướng tiếp cận này. Luận văn chọn hướng tiếp cận dung hòa về kết hợp từ cố định và áp dụng định nghĩa trong Từ điển Oxford Collocations Dictionary (2002) về kết hợp từ cố định. Một kết hợp từ được coi là cố định, khi nó đảm bảo các yếu tố sau: (+) tính rõ ràng về nghĩa, (+) bị giới hạn về khả năng thay thế, (+) tần suất đồng hiện cao hơn ngẫu nhiên và (+) phù hợp với thói quen diễn đạt của người bản ngữ. Thói quen diễn đạt của người bản ngữ, hay tính “tự nhiên”, tức là được người bản ngữ chấp nhận rộng rãi, điều này không phụ thuộc vào một cá nhân.
Một cá nhân người bản ngữ, ví dụ như một nhà văn, có thể sáng tạo ra một cách kết hợp từ độc đáo, nhằm phục vụ cho một mục đích nghệ thuật nào đó. Một kết hợp từ như thế, khi chúng tôi đặt vào trong kho ngữ liệu bản ngữ để kiểm tra mức độ phổ biến, và kết quả là nó không phù hợp với đại đa số, thì chúng tôi cũng vẫn kết luận đây là một kết hợp “lỗi”. Phân loại kết hợp từ cố định Phân loại kết hợp từ cố định được thấy trong các nghiên cứu của M. Các tác giả đưa ra những bảng phân loại khác nhau, nhưng nhìn một cách tổng quát, chúng tôi thấy các kết hợp từ cố định được chia thành 2 loại lớn, loại kết hợp từ cố định thiên ngữ nghĩa, tức là các kết hợp giữa thực từ và thực từ, và loại thiên cấu trúc, tức là một cụm từ bao gồm từ chính (danh từ, động từ hoặc tính từ) và một giới từ hoặc một cấu trúc ngữ pháp như một từ nguyên thể hoặc một mệnh đề” (a phrase consisting of a dominant word (noun, adjective, or verb) and a preposition or grammatical structure such as an infinitive or a clause).[56] 14 z Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào tiêu chí hình thức từ loại, chia kết hợp từ cố định thành hai loại, loại kết hợp giữa thực từ và thực từ và loại kết hợp giữa thực từ và giới từ.
Thụ đắc kết hợp từ cố định của ngƣời học tiếng Anh nhƣ một ngoại ngữ Sự chuyển di ngôn ngữ từ tiếng mẹ đẻ được coi là một yếu tố thiết yếu trong thụ đắc ngoại ngữ, do vậy, sẽ có ảnh hưởng đến việc sử dụng kết hợp từ cố định của người học [45]. Ví dụ, học viên người Thụy Điển và người Trung Quốc tạo ra các kết hợp từ cố định như *do changes, *do a great effort, *make damage, *make the cleaning, bởi sự chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ [57]. Ngoài ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, việc sử dụng các từ đồng nghĩa thay thế cũng là một cách người học ngoại ngữ “vượt tuyến” tạo nên các kết hợp không phù hợp với thói quen của người bản ngữ. Phân tích lỗi và phân tích lỗi kết hợp từ cố định Định nghĩa về lỗi: Lỗi là sự lệch chuẩn so với các quy tắc của ngôn ngữ đích [27].
Các quy chuẩn ở đây được lựa chọn tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cũng như nhu cầu của người học. Trong luận văn này, đối tượng người học hướng đến mục tiêu thành thạo kĩ năng viết học thuật, cho nên quy chuẩn lựa chọn là tiếng Anh học thuật tiêu chuẩn (standard academic English). Các nguồn ngữ liệu đối chiếu vì thế sẽ được lựa chọn trên tiêu chí này. 15 z Phân biệt lỗi và lầm: Lỗi có tính hệ thống, lỗi do người học mắc phải khi sử dụng ngôn ngữ đích.