mở đầu cho hướng đi này là tác giả Vũ Quang Hào (1991) với Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cầu tạo. Công trình nay đã đưa ra những đánh giá chuyên sâu, xác đáng về đặc điểm cấu tạo của hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt và góp phan thúc đây việc xây dựng và thống nhất các van dé cụ thể đối với một hệ thuật ngữ cụ thê. Tiếp đó, hàng loạt các công trình luận án nghiên cứu về thuật ngữ 20 của nhiều chuyên ngành khác nhau được công bố, như: luận án “So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đạt” của Nguyễn Thị Bích Hà (2000); luận án “Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông tiếng Việt” của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005); luận án “Đặc điểm cầu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ sở hữu trí tuệ tiếng Việt” của Mai Thi Loan (2012); luận án "Nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật xây dựng tiếng Việt" của Vũ Thị Thu Huyền (2013); luận án "Nghiên cứu các phương thức cầu tạo hệ thống thuật ngữ khoa học tự nhiên (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lý)" của Ngô Phi Hùng (2014); luận án "Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt" của Quách Thi Gam (2015); luận án "Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt” của Nguyễn Quang Hùng (2016). Đối với các thuật ngữ nước ngoài, các nghiên cứu chủ yếu: tập trung khảo sát đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa, phương thức chuyên dịch thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt như ở luận án “Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt” của Vương Thị Thu Minh (2005) và luận án "Cách dich thuật ngữ Anh - Việt chuyên ngành cảnh sát" của Nguyễn Thị Bích Hường (2014); Hay gần đây nhất, các nghiên cứu thuật ngữ có xu hướng tập trung nhiều vào việc đối chiếu thuật ngữ Anh-Viét ở một ngành khoa học, lĩnh vực chuyên môn nào đó như: luận án “Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh” của Không Minh Hoàng Việt (2017); luận án “Thudt ngữ kĩ thuật thương mại Anh - Việt” của Trần Quốc Việt (2017); luận án “Khảo sát doi chiếu chuyển dịch thuật ngữ tài chính Anh - Việt (trên văn bản chuyên ngành tài chính)” của Đỗ Thị Thu Nga (2018); luận án “Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh-Viét (Qua Family law act của Anh và Luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam) ” của Nguyễn Thị Minh Trang (2018); luận án “Đối chiếu thuật ngữ dâu khí Anh-Viét” của Nguyễn Thị Thu Hà (2019); và luận án “Đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh-Viét” của Ñgô Thị Thanh Vân (2019).
Như vậy, có thê thấy hoạt động nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam đang thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu cũng như những người 21 làm công tác giảng dạy và thực sự đã và đang diễn ra rất sôi nổi và rộng khắp trên nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau. Các hoạt động nghiên cứu về thuật ngữ chú trọng đến cả về lý thuyết lẫn thực tiễn trên nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Kết quả là, công tác nghiên cứu thuật ngữ đã đạt được rất nhiều thành tựu, cả về số lượng và chất lượng. Điều này thực sự có ý nghĩa đối với quá trình truyền tải và truyền bá kiến thức chuyên môn, đồng thời đánh dấu những bước phát triển mạnh mẽ trong công tác nghiên cứu thuật ngữ nói riêng và ngành ngôn ngữ học nói chung ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ quân sự và thuật ngữ vũ khí 1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ quân sự và thuật ngữ vũ khí trong tiếng Anh Cứ liệu từ thực tế khảo sát cho thấy, việc quan tâm nghiên cứu về thuật ngữ quân sự nói chung và TNVK nói riêng trong tiếng Anh chỉ ở mức khá khiêm tốn. Các công trình chủ yếu tập trung vào việc biên soạn từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Anh hoặc từ điển đối chiếu giữa tiếng Anh với tiếng Việt hoặc một ngôn ngữ khác nhằm phục vụ cho nhu cầu giao tiếp, học tập, nghiên cứu hàng ngày. Chang hạn, Bộ quốc phòng Mỹ thường xuyên cập nhật an pham từ điển Dictionary of Military and Associated Terms (Tw điển thuật ngữ quân sự và liên ngành) kể từ năm 1989 nhằm đảm bảo sự chuẩn mực, thống nhất hiểu theo một nghĩa trong các hoạt động chung của Mỹ cũng như các hoạt động chung của liên minh.
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cũng cho biên soạn từ điển thuật ngữ nhăm dam bao sự nhất quán trong các hoạt động chung của họ. Và nhiều an phâm từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Anh, hay từ điển đối chiếu tiếng Anh với một thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Nga, tiếng A Rập,. cũng được tô chức biên soạn, trong đó có các ấn pham từ điển quân sự Anh-Việt của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân như: Từ điển Anh-Việt quân sự của Phạm Công Tuấn (2003), Từ điển Anh-Việt quân sự do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành năm 2006 va Tir điển quân sự Anh-Việt của Phạm Bá Toàn, Nguyễn Văn Tư, Phạm Sĩ Tám (2007). Bên cạnh các ấn phẩm từ điển, có một số ít bài nghiên cứu về thuật ngữ quân sự trong tiếng Anh như: Frane Malenica and Ivo Fabijanié (2013) nghiên cứu về 22 một số kiểu viết tắt của các thuật ngữ quân sự trong bài viết Abbreviations in English Military terminology; Roman (2013) khảo sát tỉ lệ tương đương về nội hàm khái niệm giữa thuật ngữ quân sự tiếng Anh-Anh và Anh-Mỹ trên ngữ liệu gồm 673 thuật ngữ trong bài viết Comparative analysis of British and American military.
Sự quan tâm về thuật ngữ vũ khí tiếng Anh mới chỉ được thể hiện trong một số nghiên cứu bước đầu của chúng tôi, gồm: 1) Lưu Văn Nam (2017), “Đặc điểm về cấu tạo và định danh của hệ thống từ ngữ chỉ vũ khí trong tiếng Anh”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống Sô 4(258), tr. 68-73; 2) Luu Van Nam (2020), “Nominative features of weapon terms in English”, American Journal of Educational Research Vol. 278-281; va 3) Luu Van Nam (2021), “Nominative features of English-Vietnamese weapon terms”, British Journal of English Linguistics Vol. Có thé nói, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu nào khảo sát về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của thuật ngữ quân sự/thuật ngữ vũ khí tiếng Anh.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ quân sự và thuật ngữ vũ khí trong tiếng Việt Không giống với các hệ thuật ngữ khác, hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt luôn găn liền với đời sống chính trị của nhân dân Việt Nam từng giờ, từng phút vì đất nước và người dân thì luôn phải on mình chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Mặc dù vậy, sự quan tâm nghiên cứu chuyên sâu đối với hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt dường như khá muộn. Các công trình đề cập đến thuật ngữ quân sự nói chung, TNVK nói riêng thuộc nhiều thé loại khác nhau: từ bài giảng, giáo trình trong các trường đại học chuyên ngành quân sự, đến các từ điển giải thích thuật ngữ quân sự, đến các công trình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ học của thuật ngữ quân sự. Trong số đó, các công trình nói chung, đặc biệt là những công trình thực sự là những nghiên cứu thuật ngữ có số lượng rất hạn chế.
Trong công tác biên soạn bài giảng, giáo trình, vào năm 1982 - 1983, thuật ngữ quân sự tiếng Việt mới lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy tại Trường Đại học 23 Ngoại ngữ Quân sự bằng các tập bài giảng của các giảng viên Dương Kỳ Đức (1983), Nguyễn Văn Dựng (1983), Vũ Quang Hào (1983),. Gần đây, có thêm cuốn giáo trình “Thuật ngữ quân sự tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Trọng Khánh (2014) được đưa vào giảng day tại Học viện Khoa hoc Quân sự (tên gọi mới của Trường Đại học Ngoại ngữ Quân sự). Cuốn giáo trình này đề cập đến những khái niệm cơ bản về các đặc trưng của thuật ngữ quân sự tiếng Việt và vấn đề chuẩn hoá, cách sử dụng thuật ngữ quân sự trong biên - phiên dịch các văn bản quân sự. Trong công biên soạn từ điển, vào năm 1985, ấn phẩm đầu tiên về thuật ngữ quân sự tiếng Việt mới được công bó.
Do là cuốn Tir điển giải thích thuật ngữ quân Sự tiếng Việt của Cục Khoa học quân sự với 1500 mục từ. Tiếp đó, vào năm 2007, cuốn từ điển này được Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự, Bộ Quốc phòng bổ sung, chỉnh lý và xuất bản thành cuốn Tir điển thuật ngữ Quân sự với 2500 mục từ. Trong công các nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ học của thuật ngữ, tác giả Vũ Quang Hào (1991) bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ “Hé thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo”. Đây là công trình đầu tiên quan tâm nghiên cứu và đưa ra những đánh giá chuyên sâu, xác đáng về đặc diém nguồn gốc và đặc điểm cau tạo của hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt từ việc khảo sát 3000 thuật ngữ quân sự tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đề xuất chỉnh lý đối với thuật ngữ quân sự. Gần 30 năm sau, có sự xuất hiện của nghiên cứu tiếp theo cũng ở cấp độ của một luận án Tiến sĩ: “Thudt ngữ quân sự trong tiếng Việt trên bình diện cấu tạo và định danh”. Trong luận án này, tác giả Trần Thị Hà (2018) tập trung nghiên cứu thuật ngữ quân sự tiếng Việt về bình diện đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh trên cơ sở khảo sát 4346 thuật ngữ quân sự tiếng Việt, trong đó có quan tâm đến nhóm thuật ngữ chỉ vũ khí, khí tài (gồm 534/4346 thuật ngữ) và xác định được 4 đặc trưng định danh khái quát gồm: đặc trưng phạm vi, đặc trưng tinh năng, tác dụng; đặc trưng khả năng cơ động và đặc trưng đặc điểm. Trên bình diện nghiên cứu đối chiếu, có luận văn Thạc sĩ “Đối chiếu thuật ngữ quân sự giữa tiếng Anh và tiếng Việt” của Nguyễn Văn Khánh (2013) được bảo 24 vệ tại Đại học KHXH&NV - DHQGHN.
Trong luận văn nay, tac giả miêu tả và đối chiếu đặc điểm cấu tạo, mô hình cấu tạo của hệ thuật ngữ quân sự tiếng Anh và các tương đương chuyên dịch của chúng trong tiếng Việt. Bên cạnh đó tác giả khảo sát và đánh giá cách chuyền dịch thuật ngữ quân sự từ tiếng Anh sang tiếng Việt, đồng thời đưa ra một số đề xuất về việc chuyên dịch các thuật ngữ quân sự cũng như cách sử dụng chúng.