Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm phân tích sự vận động của thể chân dung văn học tại Việt Nam từ sau năm 1986 dưới lăng kính của lý thuyết diễn ngôn.
- Tên đề tài: Thể chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết diễn ngôn
- Loại hình công trình: Luận án Tiến sĩ Văn học
- Chuyên ngành: Văn học Việt Nam (Mã số: 9 22 01 21)
- Nghiên cứu sinh thực hiện: Đỗ Thị Cẩm Nhung
- Người hướng dẫn khoa học: PGS. Phạm Phương Chi
- Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
- Năm bảo vệ: 2024
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, thể chân dung văn học tại Việt Nam phát triển với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình thuộc nhiều thế hệ. Sự xuất hiện của các tập sách như Chân dung và đối thoại (1998) của Trần Đăng Khoa, các tập tản văn Kí ức vụn (2009), Bạn văn (2011), Chuyện đời vớ vẩn (2011) của Nguyễn Quang Lập, Chuyện làng văn (2012) của Di Li hay Dị-nghị-luận, Đồng-chân-dung (2013) của Đặng Thân cho thấy sự thay đổi về cách viết và cách tiếp cận đối tượng. Thể chân dung văn học góp phần cung cấp cứ liệu về đời sống và sáng tác của giới văn nghệ sĩ, phản ánh diện mạo văn học Việt Nam giai đoạn Đổi mới.
Song song đó, từ năm 1986, phân ngành Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) và Dụng học (Pragmatics) tác động mạnh mẽ đến các nghiên cứu ngôn ngữ văn chương. Tuy nhiên, các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu thể tài này từ góc độ thể loại ký, tiểu sử tác giả hoặc thi pháp học truyền thống. Việc tiếp cận thể chân dung văn học đương đại từ lý thuyết diễn ngôn là hướng đi mới, giúp nhận diện sự biến chuyển của thể loại này trong mối quan hệ với những chuyển biến về tư tưởng, văn hóa và thẩm mỹ của thời kỳ Đổi mới.
Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn, chỉ ra những đặc điểm đổi mới của thể chân dung văn học trong tương quan với các biến chuyển của văn học Việt Nam từ sau năm 1986.
- Đem lại góc nhìn đa chiều về thể chân dung văn học, góp phần xác định giá trị và vị trí của thể loại này trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc nói chung và văn học đương đại nói riêng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học, đặc biệt là lý thuyết diễn ngôn của Mikhail Bakhtin, làm nền tảng lý luận cho luận án.
- Khảo sát các công trình nghiên cứu về thể chân dung văn học trên thế giới và tại Việt Nam, xác định các đặc điểm, xu hướng vận động của thể loại này trong đời sống văn học đương đại.
- Nghiên cứu ba phương diện của diễn ngôn hội thoại theo quan niệm của Bakhtin gồm: đối thoại (nắm bắt thần thái đối tượng, tạo chân dung ấn tượng), độc thoại nội tâm (tạo đồng chân dung, chân dung tự họa, phát biểu về nghề nghiệp và con người) và tính mạch lạc (kết nối tác phẩm với đời tư, liên kết nhiều tác giả cùng dựng chân dung).
- Khảo sát xu hướng thế tục hóa trong thể chân dung văn học đương đại qua việc đời thường hóa nhân vật đáng kính, kéo gần khoảng cách trần thuật; phân tích các biến chuyển từ diễn ngôn thống nhất sang diễn ngôn đa tạp, từ diễn ngôn sùng bái sang diễn ngôn suồng sã, từ diễn ngôn nghiêm trang sang diễn ngôn hài hước.
- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của diễn ngôn chấn thương qua các khía cạnh: chấn thương do chiến tranh và nghèo đói, chấn thương do giới hạn của lịch sử và cộng đồng, chấn thương do áp chế quan liêu; phân tích sự dịch chuyển từ diễn ngôn thời đại sang diễn ngôn thân phận, từ ca ngợi sang hoài nghi, từ tin tưởng sang lật tẩy.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm chân dung văn học được xuất bản sau năm 1986 tại Việt Nam, xét trên cả bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật qua lăng kính lý thuyết diễn ngôn.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát ở các tác phẩm có sự biến đổi diễn ngôn rõ rệt so với giai đoạn trước 1986, tập trung vào hệ thống ngữ liệu gồm khoảng 30 tập sách chính cùng một số tác phẩm in rải rác.
| Nhóm tác giả |
Các tác phẩm khảo sát tiêu biểu |
| Nhà văn, nhà thơ thế hệ trước và đương đại |
• Xuân Sách: Chân dung nhà văn (1992) • Tô Hoài: Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều (1999), Hồi kí (2005) • Trần Đăng Khoa: Chân dung và đối thoại (1998), Người thường gặp (2001) • Ngô Văn Phú: Văn chương và người thưởng thức (2000), Chuyện văn chuyện đời (2004) • Nguyễn Lương Ngọc: Nhớ bạn (2001) • Bùi Ngọc Tấn: Viết về bè bạn - Rừng xưa xanh lá, Một thời để mất (2005) • Nguyễn Huy Thắng: Những chân dung song hành (phần I và II, 2008) • Nguyễn Huy Thiệp: Giăng lưới bắt chim (2010) • Phan Thị Thanh Nhàn: Sự cực đoan đáng yêu (2010) • Vân Long: Những người… “rót biển vào chai” (2010) • Nguyễn Quang Lập: Bạn văn (2011) • Hồ Anh Thái: Họ trở thành nhân vật của tôi (2012) • Ma Văn Kháng: Phút giây huyền diệu (2013) • Đặng Thân: Dị-nghị-luận, Đồng-chân-dung (2013) • Vũ Từ Trang: Phía sau con chữ (2007), Nhà văn độc hành độc bộ (2013), Vì ai ta mãi phong trần (2017) |
| Nhà phê bình văn học |
• Vương Trí Nhàn: Những kiếp hoa dại (1993), Cây bút, đời người (2002), Ngoài trời lại có trời (2003, 2006), Có những nhà văn như thế (2006), Cánh bướm và đóa hướng dương (2006) • Đỗ Lai Thúy: Con mắt thơ (2000), Chân trời có người bay (2002), Vẫy vào vô tận (2014) • Lưu Khánh Thơ: Nhà văn qua hồi ức người thân (2001) |
| Tác phẩm khảo sát bổ trợ |
• Di Li: Chuyện làng văn (2012) • Bình Nguyên Trang: Sông của nhiều bờ (2012) • Nguyễn Quỳnh Trang: Đi về không điểm đến (2013) • Nguyễn Tham Thiện Kế: Miền lưu dấu văn nhân (2013) • Trần Hoàng Thiên Kim: Đi tìm những giấc mơ (2017) • Văn Thành Lê: Như cánh chim trong mắt của chân trời (2017) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Các học giả quốc tế tiếp cận thể chân dung văn học (literary portrait) theo nhiều chiều kích lịch sử và thể loại:
- Edmund Heier (1987): Xác định bản chất thể loại là khắc họa đặc tính cá nhân. Thể loại này đạt đỉnh cao tại Pháp vào thế kỷ XVII với các bản tiểu sử dài trọn vẹn, tự định hình thành một thể loại văn học độc lập.
- Nina Ekstein (1992): Nghiên cứu chân dung văn học Pháp thế kỷ XVII trong mối liên hệ với các salon xã hội (social salon) và bối cảnh chính trị của chủ nghĩa chuyên chế; chỉ ra chức năng truyền thống của chân dung là tôn vinh, khẳng định vinh quang và biểu hiện sự bất tử hóa cá nhân.
- C. E. Wenger (1935): Trong công trình An Introduction to the Æsthetics of Literary Portraiture, tác giả phân tích sự tương đồng giữa cách dựng chân dung văn học với xây dựng nhân vật điển hình, nhấn mạnh việc sử dụng hình mẫu sống để phản ánh trải nghiệm thẩm mỹ và số phận con người (như Socrates, Cellini, Goethe, Lincoln).
- B. Bazylova / Bazylova Baglan (2012): Trong Typology of Genre of Literary Portraits, tác giả xếp chân dung văn học vào hệ thống thể loại mang tính sử thi, là hiện tượng nghệ thuật tổng hợp yếu tố tư liệu và nghệ thuật; dẫn quan điểm của N. V. Gogol về yêu cầu miêu tả con người đương thời đúng nghĩa và như một nhân cách độc biệt.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thể chân dung văn học được chia thành hai xu hướng chính:
- Xu hướng khái quát lịch sử và đặc trưng thể loại:
- Nguyễn Đăng Mạnh với Chân dung văn học (1990), Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách (2000).
- Nguyên An (Nguyễn Quốc Luân) với chuyên luận Chân dung văn học trong văn học Việt Nam hiện đại (2010), luận án tiến sĩ và các bài báo chuyên ngành (1986, 1992), xác định chân dung văn học thuộc loại ký văn học, mang tính phê bình tiểu sử và gắn liền với ý thức cá nhân.
- Hà Thị Kim Phượng với chuyên luận Thể tài chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại (2022), nhấn mạnh sự hòa quyện giữa chất ký (ghi chép xác thực), chất văn (nghệ thuật sống động) và chất phê bình (đánh giá vị trí tác giả).
- Các nghiên cứu khác của Lại Nguyên Ân (1984), Đức Dũng (1996), Phan An Na (2008), Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014), Nguyễn Thị Thu Hà (2014).
- Xu hướng nghiên cứu trường hợp cụ thể (tác giả, tác phẩm):
- Nghiên cứu về Vũ Bằng và Tô Hoài: Ngô Văn Giá (2002), Trần Đình Sử (2016), Dương Thị Thu Hiền (2015), Nguyễn Văn Quang (1996), Nguyễn Thị Ngọc Thủy (2005), Nguyễn Thị Thư (2010), Đỗ Thị Ngọc Chi (2022).
- Nghiên cứu về các cây bút khác: Nguyễn Thị Mai Xuân (2012 - về Phan Thị Thanh Nhàn), Nguyễn Song Hào (2015 - về Bùi Ngọc Tấn, Hồ Anh Thái, Đỗ Lai Thúy), Nguyễn Thế Hiền (2010 - về Ngô Văn Phú), Vũ Nho (2021 - về Nguyên An).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình đi trước đã xác định đặc trưng thể loại, nguồn gốc tư liệu và nghệ thuật xây dựng chân dung của từng tác giả, song chưa có công trình nào khảo sát thể chân dung văn học Việt Nam đương đại một cách hệ thống dưới ánh sáng của lý thuyết diễn ngôn. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát thể loại trên bình diện tư tưởng, văn hóa và thẩm mỹ thông qua ba trục diễn ngôn then chốt: diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn thế tục hóa và diễn ngôn chấn thương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm diễn ngôn
Luận án tiếp thu lịch sử lý thuyết diễn ngôn và chọn tư tưởng của Mikhail Bakhtin làm khung tham chiếu chủ đạo:
- Khái niệm diễn ngôn trong ngôn ngữ học và lý luận văn học:
- Z. Harris (1952) khởi xướng thuật ngữ phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis), coi diễn ngôn là đơn vị văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu.
- Michel Foucault đưa ra ba định nghĩa: khu vực chung của các nhận định, nhóm nhận định cá thể hóa, và hoạt động được quy chuẩn (regulated practice).
- Roland Barthes (1970) coi diễn ngôn là đoạn lời nói hữu tận, tạo thành thể thống nhất về nội dung và gắn với nhân tố văn hóa.
- I. Bellert, Guy Cook, G. Brown và G. Yule tiếp cận diễn ngôn như một tiến trình giao tiếp có mục đích.
- Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa, Đỗ Hữu Châu phân tích mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản, nhấn mạnh tính liên kết và tác động của ngữ cảnh.
- Lý thuyết diễn ngôn của Mikhail Bakhtin:
- Bakhtin phê phán ngôn ngữ học hàn lâm tĩnh tại, đề xuất bộ môn "siêu ngôn ngữ" nghiên cứu đời sống của lời nói trong thực tiễn giao tiếp.
- Trong tiểu luận Vấn đề các thể loại lời nói, ông chỉ ra thể loại lời nói là kho lưu trữ dữ liệu đời sống, phản ánh hơi thở thời đại và chi phối phát ngôn cá nhân.
- Bản chất diễn ngôn là tính đối thoại (dialogism) và tính đa âm, đa giọng (polyphony), thể hiện cuộc giao tranh giữa lực ly tâm (đối thoại hóa, khai phóng) và lực hướng tâm (độc thoại hóa, tập trung quyền lực). Diễn ngôn luôn chứa đựng "tính khác" và phản hồi đối với lời nói của người khác.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận định tính và liên ngành:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem xét các yếu tố cấu thành chỉnh thể nội dung và nghệ thuật của thể chân dung văn học, đặt trong hệ thống tiến trình văn học đổi mới.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp chủ đạo, phân tích các phát ngôn, cấu trúc ngữ liệu trong mối quan hệ chặt chẽ với ngữ cảnh tình huống (contextual situation) và nghĩa xã hội của lời nói.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các tác giả và giữa hai giai đoạn trước - sau năm 1986 nhằm nhận diện sự chuyển dịch về giọng điệu, điểm nhìn và kỹ thuật dựng chân dung.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn hóa học, tâm lý học, sử học và thi pháp học để phân tích các chiều kích tư tưởng và giọng điệu diễn ngôn.
- Thao tác bổ trợ: Khảo sát, thống kê ngữ liệu, phân loại văn bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tổng hợp lịch sử nghiên cứu thể chân dung văn học trong và ngoài nước, đồng thời xác lập hệ thống đặc trưng của thể loại này trong văn học Việt Nam sau năm 1986:
Chương này cũng hệ thống hóa các khái niệm diễn ngôn từ ngôn ngữ học cấu trúc đến lý thuyết Bakhtin, thiết lập nền tảng lý luận để triển khai các chương thực nghiệm ngữ liệu tiếp theo.
Chương 2: Diễn ngôn hội thoại trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại
Chương 2 đi sâu phân tích ba bình diện của diễn ngôn hội thoại trong các tác phẩm chân dung:
- Đối thoại trong thể chân dung văn học:
- Nắm bắt thần thái đối tượng: Tác giả sử dụng các phát ngôn đối thoại trực tiếp để làm nổi bật tính cách nhân vật. Điển hình là đối thoại giữa Trần Đăng Khoa và Lê Lựu về tiểu thuyết Chuyện làng Cuội trong Chân dung và đối thoại, hay cuộc đối thoại nhã nhặn nhưng sắc sảo giữa Thanh Tịnh và Nguyễn Tiến Lãng, cuộc phỏng vấn thi sĩ Tế Hanh của Ngô Văn Phú trong Văn chương và người thưởng thức.
- Tạo ra những chân dung ấn tượng: Thủ pháp đối thoại được dùng linh hoạt như hình thức phỏng vấn hỏi - đáp trực tiếp (Trần Đăng Khoa trò chuyện với Vũ Tú Nam), đối thoại về nhân vật thứ ba (cuộc trao đổi với Lê Lựu về văn chương Nguyễn Đức Mậu), đối thoại qua điện thoại (Trần Đăng Khoa và Lê Lựu ở Moskva), đối thoại với nhân vật đời thường (cụ Đinh Thị Khuyên 106 tuổi), hoặc đối thoại mang tính hư cấu tưởng tượng (tác giả mặc áo giấy cãi nhau với "ma" để đánh giá tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường).
- Độc thoại nội tâm:
- Tạo ra đồng chân dung và chân dung tự họa: Thể hiện tính chất "chân dung kép". Nguyễn Tuân bộc lộ cái tôi tài hoa, ngông nghênh khi viết về Tản Đà (Chén rượu vĩnh biệt); Vũ Bằng trong Bốn mươi năm nói láo dùng giọng tự trào, tự phán xét bản thân khi nhớ về Nguyễn Tuân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Ngô Tất Tố, Thạch Lam; Tô Hoài trong Cát bụi chân ai, Chiều chiều sử dụng độc thoại để tự mổ xẻ những yếu hèn, ngộ nhận trong cải cách ruộng đất, vụ án Nhân văn Giai phẩm và mối quan hệ với Xuân Diệu.
- Tạo ra những phát biểu về nghề nghiệp và con người: Bùi Ngọc Tấn (Rừng xưa xanh lá) suy tư về trách nhiệm thiện - ác của người cầm bút; Vũ Bằng đúc kết về đạo đức nghề báo và định hướng sáng tác cho Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tất Thứ.
- Mạch lạc trong thể chân dung: Phân tích tính liên kết từ văn bản tác phẩm đến cuộc đời tư nhân của tác giả, cũng như sự tương tác mạch lạc khi nhiều tác giả cùng tham gia khắc họa một chân dung văn học.
Chương 3: Diễn ngôn thế tục hóa trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại
Chương 3 tập trung phân tích sự giải thiêng và đưa văn học trở về với đời sống trần thế:
- Xu hướng thế tục hóa: Các nhân vật văn nghệ sĩ vốn được tôn sùng, đặt ở vị trí trang nghiêm trong văn học sử trước đây được chuyển hóa thành những con người đời thường với đầy đủ thói quen, tật xấu, nhu cầu sinh hoạt và gánh nặng mưu sinh thường nhật. Điểm nhìn trần thuật rút ngắn khoảng cách từ chiêm bái từ xa sang tiếp cận cự ly gần.
- Các đặc điểm chuyển đổi của diễn ngôn thế tục hóa:
- Từ diễn ngôn thống nhất sang diễn ngôn đa tạp: Xóa bỏ cái nhìn đơn giọng, tiếp nhận sự đa dạng trong cách đánh giá nhân cách và văn nghiệp.
- Từ diễn ngôn sùng bái sang diễn ngôn suồng sã: Sử dụng ngôn ngữ giao tiếp vỉa hè, bàn trà, chiếu nhậu, tiếng lóng, thổ ngữ và ngôn từ đời thường.
- Từ diễn ngôn nghiêm trang sang diễn ngôn hài hước: Sử dụng giọng điệu giễu nhại, hóm hỉnh, tếu táo nhằm tái hiện các góc khuất sinh động của giới cầm bút.
Chương 4: Diễn ngôn chấn thương trong thể chân dung văn học Việt Nam đương đại
Chương 4 khảo sát sự hiện diện của những chấn thương tinh thần và thân phận con người:
- Sự hình thành diễn ngôn chấn thương: Phản ánh những nỗi đau, mất mát và vết thương tâm lý do chiến tranh khốc liệt, nghèo đói kéo dài, những giới hạn khắc nghiệt của bối cảnh lịch sử - cộng đồng và sự áp chế của cơ chế quan liêu, giáo điều đối với số phận cá nhân nhà văn.
- Các đặc điểm chuyển đổi của diễn ngôn chấn thương:
- Từ diễn ngôn thời đại sang diễn ngôn thân phận: Chuyển trọng tâm từ những sự kiện lịch sử mang tính vĩ mô, tập thể sang nỗi đau, bi kịch và số phận cụ thể của từng cá nhân cầm bút.
- Từ diễn ngôn ca ngợi sang diễn ngôn hoài nghi: Hoài nghi những khuôn mẫu định kiến, những giá trị từng được tô hồng hoặc đóng khung cứng nhắc.
- Từ diễn ngôn tin tưởng sang diễn ngôn lật tẩy: Bộc lộ sự thật phía sau các giai thoại văn chương, tái hiện những va đập tâm lý, sự bất an và những tổn thương chưa được giải tỏa trong quá khứ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp khoa học về mặt lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống thể chân dung văn học Việt Nam từ góc độ lý thuyết diễn ngôn. Công trình xác định sự vận động của thể chân dung sau năm 1986 không chỉ dừng lại ở phương diện kỹ thuật hay phương thức nghệ thuật, mà phản ánh những biến chuyển trên bình diện tư tưởng, văn hóa và ý thức thẩm mỹ của thời kỳ Đổi mới.
- Về thực tiễn: Luận án chứng minh ba khuynh hướng diễn ngôn then chốt gồm diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn thế tục hóa và diễn ngôn chấn thương đã phản ánh sâu sắc tác động của công cuộc đổi mới đời sống xã hội và dân chủ hóa văn học đối với văn học đương đại Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học
- Khẳng định tính hiệu quả của lý thuyết diễn ngôn, đặc biệt là lý thuyết về tính đối thoại và thể loại lời nói của Mikhail Bakhtin, trong việc ứng dụng vào nghiên cứu các thể loại văn xuôi phi hư cấu và ký văn học.
- Góp phần khẳng định thể chân dung văn học là một thể tài "năng động, năng sản" (chữ dùng của Ngô Văn Giá), sở hữu ngôn ngữ sống động, khẳng định vị thế và giá trị lịch sử văn học độc lập bên cạnh các thể loại văn học truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu vào khoảng 30 tác phẩm xuất bản từ năm 1986 có sự chuyển dịch rõ nét về mặt diễn ngôn, do đó chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng tác phẩm chân dung xuất hiện phong phú trên các phương tiện truyền thông mới và mạng xã hội. Khung nghiên cứu tập trung vào 3 trục diễn ngôn chính (hội thoại, thế tục hóa, chấn thương) nên chưa phân tích sâu các dạng thức diễn ngôn vi mô khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát các văn bản chân dung văn học trên không gian mạng (blog cá nhân, tạp chí điện tử, mạng xã hội).
- Ứng dụng lý thuyết diễn ngôn để nghiên cứu các phương diện khác của thể tài như diễn ngôn giới, diễn ngôn sinh thái hoặc so sánh đối chiếu thể chân dung văn học Việt Nam với các nền văn học khu vực.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung phương pháp luận về việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn và thi pháp học Bakhtin vào phân tích tác phẩm văn xuôi; phần tổng quan tài liệu (Chương 1) là nguồn tra cứu về lịch sử thể chân dung văn học.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học sử: Sử dụng các tư liệu, nhận định và phân tích tại Chương 2, 3 và 4 để bổ trợ cho việc giảng dạy các chuyên đề văn học Việt Nam đương đại, tiến trình Đổi mới văn học sau 1986 và thể tài ký - chân dung.
- Người sáng tác và phê bình văn học: Cung cấp các góc nhìn về kỹ thuật dựng chân dung, nghệ thuật đối thoại, xử lý mối quan hệ giữa yếu tố xác thực và hư cấu nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Thể chân dung văn học Việt Nam sau năm 1986 được phân chia thành những kiểu loại nào theo tiêu chí nội dung văn bản?
Căn cứ vào tính chất nội dung và phương thức tiếp cận của chủ thể người viết, luận án chỉ ra thể chân dung văn học sau 1986 phân hóa thành 3 kiểu loại chính:
- Chân dung mang tính phê bình văn học: Thường do các nhà nghiên cứu, phê bình văn học hoặc nhà văn có thiên hướng lý luận thực hiện (như Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên, Chu Văn Sơn, Nguyên An, Bùi Ngọc Tấn, Tạ Duy Anh).
- Chân dung mang tính tản văn: Thể hiện cảm xúc, kỷ niệm đời thường phóng khoáng (như Nguyễn Quang Lập, Phạm Ngọc Tiến, Vũ Từ Trang).
- Chân dung mang tính báo chí: Gắn liền với các bài phỏng vấn, ghi chép nhanh của các cây bút trẻ (như Di Li, Nguyễn Quỳnh Trang, Bình Nguyên Trang, Như Bình, Trần Hoàng Thiên Kim).
2. Thuật ngữ "chân dung kép" hay "đồng chân dung" trong luận án được hiểu như thế nào?
"Chân dung kép" (hay đồng chân dung, chân dung tự họa) là hiện tượng văn bản chân dung thể hiện cùng lúc hai gương mặt: gương mặt của đối tượng được khắc họa và gương mặt tinh thần của chính người viết. Khác với giai đoạn trước 1986 khi tác giả thường giấu mình sau văn bản, các tác giả đương đại bộc lộ cái tôi, giọng điệu, cá tính và suy tư riêng. Người được xem là mở đầu cho tinh thần này trong văn học Việt Nam là Vũ Bằng.
3. Lý thuyết của Mikhail Bakhtin được vận dụng như thế nào để phân tích diễn ngôn hội thoại trong luận án?
Luận án vận dụng quan niệm của Bakhtin về bản chất đối thoại của ngôn ngữ, tính đa thanh (polyphony) và sự tương tác giữa các "giọng" xã hội. Khung lý thuyết này được dùng để phân tích cách thức các tác giả sử dụng đối thoại nhằm nắm bắt thần thái nhân vật, phá vỡ tính đơn giọng của quyền lực tác giả, cũng như phân tích độc thoại nội tâm như một dạng đối thoại bên trong để bộc lộ nhận thức về nghề nghiệp và nhân cách.
4. Diễn ngôn thế tục hóa và diễn ngôn chấn thương mang những đặc trưng chuyển dịch chủ yếu nào?
- Diễn ngôn thế tục hóa: Chuyển dịch từ diễn ngôn thống nhất sang diễn ngôn đa tạp; từ diễn ngôn sùng bái sang diễn ngôn suồng sã; từ diễn ngôn nghiêm trang sang diễn ngôn hài hước, đưa nhân vật văn nghệ sĩ từ vị thế trang nghiêm trở về với đời sống thường nhật.
- Diễn ngôn chấn thương: Chuyển dịch từ diễn ngôn thời đại sang diễn ngôn thân phận; từ diễn ngôn ca ngợi sang diễn ngôn hoài nghi; từ diễn ngôn tin tưởng sang diễn ngôn lật tẩy, phản ánh những tổn thương do chiến tranh, đói nghèo, áp chế quan liêu và giới hạn lịch sử.
Kết luận
Luận án Thể chân dung văn học trong văn học Việt Nam đương đại nhìn từ lý thuyết diễn ngôn của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Cẩm Nhung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự chuyển biến của thể chân dung văn học sau năm 1986. Bằng việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn của Mikhail Bakhtin kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành, luận án đã làm rõ ba khuynh hướng diễn ngôn nổi bật gồm diễn ngôn hội thoại, thế tục hóa và chấn thương. Kết quả nghiên cứu xác lập vị trí thể tài chân dung văn học như một thành tố tích cực tham gia vào tiến trình dân chủ hóa và đổi mới diện mạo văn học Việt Nam đương đại.