ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ LAN HƯƠNG GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã ngành: 60.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Hằng Phương THÁI NGUYÊN - NĂM 2016 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam” là do bản thân tôi thực hiện. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Nếu sai sự thật tôi xin chịu trách nhiệm. Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016 Tác giả Hoàng Thị Lan Hương XÁC NHẬN CỦA KHOA XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG CHUYÊN MÔN DẪN KHOA HỌC PGS. TS Nguyễn Hằng Phương i Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. Nguyễn Hằng Phương người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Viện Văn học đã giúp em hoàn thành khóa học. Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của luận văn. Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016 Tác giả Hoàng Thị Lan Hương ii Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN . ii MỤC LỤC . iii MỞ ĐẦU . Lí do chọn đề tài . Lịch sử vấn đề . Mục đích nghiên cứu . Nhiệm vụ nghiên cứu . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận văn . Cấu trúc luận văn . CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TẾ VÀ CÁC TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN THỂ LOẠI . Giai thoại và các tiêu chí nhận diện thể loại . Khái niệm giai thoại . Các tiêu chí nhận diện thể loại . Vấn đề phân loại giai thoại . Thực tế lưu truyền giai thoại trong đời sống hiện nay . 29 Chương 2 NỘI DUNG CỦA GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM . Đả kích, châm biếm tầng lớp có chức sắc, địa vị trong xã hội phong kiến . Thể hiện tinh thần dân tộc, yêu nước, thương dân. Phác họa chân dung đời thường của các tác gia . 53 iii Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Chương 3 NGHỆ THUẬT CỦA GIAI THOẠI VỀ CÁC TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM . Kết cấu, cốt truyện . Một số biện pháp nghệ thuật . Phóng đại . 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 99 iv Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, bên cạnh những thể loại lớn đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời như: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, truyện cười,…giai thoại là một thể loại mới được quan tâm, chú ý qua không ít các công trình sưu tầm, tuyển chọn có giá trị trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết, thể loại này vẫn chưa được đào sâu, soi sáng một cách kì cùng. Đó là chưa kể đến những ý kiến, quan điểm học thuật trái chiều nhau. Tất cả những biểu hiện ấy khiến thể loại này chưa thể tồn tại trong trạng thái rõ ràng nhất có thể. Nhưng theo một số nhà nghiên cứu uy tín về văn học ở Việt Nam như Kiều Thu Hoạch, Trần Thanh Mại, Hoàng Ngọc Phách…thì giai thoại chính là một thể loại văn học dân gian độc lập, có vị trí riêng. Giá trị nội dung và những đặc sắc nghệ thuật của thể loại giai thoại đã được một số tác giả chỉ ra nhưng còn sơ sài và các tác giả chưa thực sự đi sâu vào phân tích và khẳng định đây là một trong những thể loại góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng cho kho tàng văn học dân gian. Điều này khiến cho ấn tượng về giai thoại trong lòng người đọc mờ nhạt đi nhiều so với thực tế tiếp nhận. Trong thời gian gần đây, việc giảng dạy văn học dân gian cho sinh viên chuyên ngành văn học ở trường đại học, cao đẳng rất được quan tâm. Ngoài những thể loại văn học dân gian đã quen thuộc như: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, vè, câu đố, ca dao, dân ca….thì việc đưa một thể loại còn mới mẻ vào học tập, nghiên cứu là rất cần thiết. Nó góp phần mở thêm một hướng đi mới trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Bằng việc thực hiện luận văn, chúng tôi góp phần phục vụ kịp thời công tác giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Ngữ văn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên và đóng góp ít nhiều tư liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về thể loại văn học này. Xuất phát từ nhận thức trên, luận văn đặt nhiệm vụ khảo sát, hệ thống lại những ý kiến đã nêu về giai thoại và đặc biệt chú trọng đi sâu nghiên cứu giá trị nội dung, nghệ thuật của một bộ phận giai thoại. Với những lí do nêu trên, 1 chúng tôi lựa chọn đề tài “Giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam”. Từ đó, luận văn góp một tiếng nói nhỏ vào việc nghiên cứu thể loại giai thoại và góp phần khắc phục một khoảng trống đáng tiếc trong đời sống nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Lịch sử vấn đề 2. Về vấn đề thể loại, giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của văn học dân gian và cả văn học thành văn. Tuy số lượng giai thoại khá phổ biến nhưng về lý thuyết thể loại nó còn ít được chú ý. Các công trình nghiên cứu ban đầu mới quan tâm đến vấn đề định nghĩa tên gọi thể loại và các công trình có tính chất sưu tầm vẫn chiếm đa số. Học giả uyên bác người Nga V. Japropp xem giai thoại như một tiểu loại của cổ tích sinh hoạt: “Nói về cổ tích sinh hoạt hay truyện cổ tích hiện thực, cần phải đề cập tới vấn đề giai thoại. Theo ý chúng tôi, nó không phải là một loại hình riêng của sáng tác dân gian, khác biệt với loại truyện cổ tích đoản thiên về con người” [40]. Nghiên cứu kĩ càng hơn nữa những truyện cổ tích sinh hoạt về con người, thì có thể khẳng định được rằng trong folklore không có ranh giới giữa truyện cổ tích sinh hoạt về con người và truyện giai thoại. Có chăng thì cũng “chỉ có thể xếp giai thoại thành một tiểu loại riêng trong truyện cổ tích sinh hoạt” [40]. Cùng quan điểm với V. Ja Propp, Guxep cũng xem giai thoại như một thể loại văn học dân gian, nhưng ông tách hẳn nó ra khỏi cổ tích sinh hoạt và định nghĩa như sau: “Chúng tôi tách giai thoại ra khỏi cổ tích sinh hoạt và cổ tích trào phúng (loại này dĩ nhiên có thể mang những yếu tố giai thoại), vì nó có một số đặc điểm cho phép nó như một thể loại độc lập. Chúng tôi gọi giai thoại là tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có sự tăng tiến đến điểm cao, biểu hiện rõ rệt và kết thúc bất ngờ” [40]. Như vậy, nguyên nhân khiến Guxep tách giai thoại ra khỏi cổ tích là tính trào phúng và hài hước của nó. Soi chiếu định nghĩa ấy vào tình hình giai thoại Việt Nam, có thể thấy, tác giả thiên về giai thoại trào phúng, hài hước với tính cách tiểu loại hơn là bản thân thể loại giai thoại trong hình hài của một thể loại độc lập. Theo nhà nghiên cứu Võ Phúc Châu, “ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện ngay từ thời Đường - Tống nhưng chưa thấy ai luận bàn gì về thể loại. Ở 2 Nga, những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết giai thoại mới được giới folklore học quan tâm” [40]. Còn ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được chính thức sử dụng từ 1965, qua tập sách Giai thoại văn học Việt Nam của nhóm soạn giả Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch. Khi giới thiệu cuốn Giai thoại văn học, năm 1965 Trần Thanh Mại là người đầu tiên xác định vị trí của giai thoại. Ông cho rằng: “… trừ một số cá biệt, nói chung thì giai thoại văn học không thuộc phạm vi văn học dân gian” [24, tr. Bởi theo ông, hầu hết các mẩu chuyện giai thoại đó đều phải do “các nhà chữ nghĩa sáng tác” [24, tr. Năm 1988, nhà xuất bản Văn học đã giới thuyết khái niệm giai thoại văn học khi tái bản cuốn Giai thoại văn học nói trên. Nhưng cuốn sách chỉ nhấn mạnh khái niệm giai thoại văn học và vị trí của nó trong văn học dân tộc như cầu nối giữa văn học dân gian - văn học viết mà hơi nhòe tính chất thể loại, không xác định nó là văn học dân gian hay văn học bác học. Đến năm 1994, Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng giai thoại Việt Nam coi giai thoại văn học như các tác phẩm văn học thế giới nhưng không phủ nhận rằng nó có nguồn gốc bác học và đã được dân gian hóa. Trong cuốn Từ điển Văn học do nhà xuất bản Thế giới phát hành năm 2004, các tác giả đã bước đầu định nghĩa giai thoại và cho rằng đây là một thể loại độc lập. Tuy nhiên, bản thân định nghĩa về giai thoại mà cuốn từ điển nêu vẫn còn mâu thuẫn khi nhấn mạnh “Nó thuộc văn chương bác học” [49, tr. Cho đến nay, qua một số công trình nghiên cứu về folklore, bản chất của giai thoại, nhìn chung, đã được xác định. Có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Kiều Thu Hoạch, Hoàng Ngọc Phách… Nếu ở phương Tây, giai thoại là những mẩu chuyện thiên về trào phúng, hài hước để đề cao tư duy duy lí; thì ở phương Đông, nội hàm đó có thể mở rộng sang cả những câu chuyện hết sức nghiêm túc về các nhân vật nổi tiếng được khúc xạ qua tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ vô tận của cộng đồng - tức tư duy duy cảm. Đó không chỉ là những câu chuyện dí dỏm, vui tươi mà còn là những câu chuyện đẹp. Do đó, giai thoại Việt Nam nói riêng và giai thoại phương Đông nói chung, ngoài tính hài còn mang cả tính nghiêm 3 trang, cẩn trọng, hay thậm chí là những câu chuyện nhuốm màu bi ai.
## Tổng quan nghiên cứu
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, giai thoại là một thể loại mới được quan tâm trong những năm gần đây với khoảng 442 giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam được sưu tầm. Tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết, thể loại này vẫn chưa được nghiên cứu sâu sắc và còn nhiều quan điểm trái chiều về vị trí và bản chất của nó. Luận văn tập trung nghiên cứu bộ phận giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam nhằm làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của thể loại này, đồng thời khẳng định vị trí độc lập của giai thoại trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các giai thoại được lưu truyền trong dân gian và các tư liệu đã được sưu tầm, với thời gian nghiên cứu bao gồm các giai thoại từ trước thế kỷ XX trở về trước. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung tư liệu cho công tác giảng dạy văn học dân gian tại các trường đại học, cao đẳng, đồng thời góp phần làm phong phú thêm nghiên cứu về thể loại giai thoại trong văn học Việt Nam.
## Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
### Khung lý thuyết áp dụng
- **Lý thuyết về thể loại giai thoại**: Giai thoại được xem là một thể loại văn học dân gian độc lập, có đặc điểm tự sự, quy mô tác phẩm ngắn gọn, tình huống lý thú, lời thoại giàu trí tuệ và dí dỏm, nhân vật được đời thường hóa.
- **Lý thuyết folklore**: Giai thoại thuộc loại hình folklore với các đặc trưng như tính truyền miệng, tính tập thể, tính dị bản và tính nguyên hợp đa chức năng.
- **Mô hình phân loại giai thoại**: Phân loại giai thoại thành hai tiểu loại chính là giai thoại văn học và giai thoại lịch sử, trong đó giai thoại văn học gồm giai thoại về các tác gia và giai thoại về các sáng tác văn học khuyết danh.
- **Khái niệm chính**: Giai thoại, folklore, thể loại văn học dân gian, tính dị bản, tính truyền miệng.
### Phương pháp nghiên cứu
- **Nguồn dữ liệu**: Tư liệu giai thoại đã được sưu tầm và xuất bản, kết hợp với phương pháp điền dã văn học để thu thập thêm giai thoại từ các nhà văn, nhà thơ, người dân địa phương.
- **Phương pháp phân tích**: Phân tích - tổng hợp các giai thoại để làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật, so sánh các giai thoại cùng đề tài và với các thể loại văn học dân gian khác nhằm làm nổi bật đặc trưng của giai thoại.
- **Phương pháp so sánh**: So sánh giai thoại văn học với giai thoại lịch sử và các thể loại dân gian khác như truyện cười, truyền thuyết để xác định đặc điểm riêng biệt.
- **Phương pháp nghiên cứu liên ngành**: Áp dụng nghiên cứu văn hóa học để đánh giá giai thoại trong bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử.
- **Timeline nghiên cứu**: Nghiên cứu tập trung vào giai thoại từ trước thế kỷ XX, với quá trình thu thập và phân tích dữ liệu kéo dài trong khoảng thời gian thực tế của luận văn.
## Kết quả nghiên cứu và thảo luận
### Những phát hiện chính
- **Phát hiện 1**: Khoảng 93% giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam có nội dung đả kích, châm biếm tầng lớp quan lại, nho sĩ dốt nát và những kẻ có chức sắc trong xã hội phong kiến, phản ánh sự mục nát của xã hội đương thời.
- **Phát hiện 2**: Giai thoại thể hiện rõ tinh thần dân tộc, yêu nước và thương dân qua các câu chuyện về các tác gia như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, với các tình tiết thể hiện lòng tự hào dân tộc và sự phê phán bọn thực dân, tay sai.
- **Phát hiện 3**: Giai thoại có đặc điểm nghệ thuật nổi bật như quy mô ngắn gọn, tình huống truyện lý thú, lời thoại giàu trí tuệ và dí dỏm, nhân vật được đời thường hóa, giúp người đọc cảm nhận gần gũi và sinh động về các tác gia.
- **Phát hiện 4**: Giai thoại tồn tại dưới dạng truyền miệng và văn bản, có nhiều dị bản khác nhau nhưng vẫn giữ được cốt truyện và giá trị nội dung, chứng tỏ sức sống bền bỉ trong đời sống văn hóa dân gian.
### Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của việc giai thoại đả kích tầng lớp quan lại là do xã hội phong kiến Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn khủng hoảng, mục nát, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều quan lại dốt nát, tham nhũng. Các tác gia văn học đã dùng giai thoại như một công cụ phản ánh hiện thực xã hội, đồng thời thể hiện thái độ phê phán sâu sắc. So sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả này phù hợp với quan điểm cho rằng giai thoại là thể loại văn học dân gian có tính phản ánh xã hội cao.
Tinh thần yêu nước và thương dân được thể hiện qua các giai thoại về các tác gia nổi tiếng, góp phần làm nổi bật vai trò của văn học trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Các giai thoại này không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị giáo dục, truyền cảm hứng cho thế hệ sau.
Về mặt nghệ thuật, đặc điểm ngắn gọn, lời thoại dí dỏm giúp giai thoại dễ nhớ, dễ truyền miệng, tạo nên sức sống lâu dài. Việc nhân vật được đời thường hóa giúp người nghe cảm thấy gần gũi, dễ đồng cảm, khác biệt với các thể loại như truyền thuyết vốn đề cao tính thiêng liêng, bất tử của nhân vật.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ phân bố tỷ lệ nội dung giai thoại (đả kích, yêu nước, đời thường hóa) và bảng so sánh đặc điểm nghệ thuật giữa giai thoại và các thể loại dân gian khác.
## Đề xuất và khuyến nghị
- **Tăng cường sưu tầm và bảo tồn giai thoại**: Các cơ quan văn hóa, trường đại học nên phối hợp tổ chức các chương trình sưu tầm giai thoại nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian, đặc biệt là giai thoại về các tác gia văn học Việt Nam. Thời gian thực hiện: 1-2 năm.
- **Đưa giai thoại vào chương trình giảng dạy**: Bộ Giáo dục và Đào tạo nên xem xét đưa giai thoại vào chương trình giảng dạy văn học dân gian tại các trường đại học, cao đẳng và phổ thông để nâng cao nhận thức và hứng thú học tập của sinh viên, học sinh. Chủ thể thực hiện: các trường đại học, sở giáo dục.
- **Phát triển các ấn phẩm, tài liệu tham khảo**: Xuất bản các tuyển tập giai thoại có giá trị nội dung và nghệ thuật cao, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy. Thời gian: 1 năm.
- **Tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học**: Tạo diễn đàn trao đổi, thảo luận về giai thoại nhằm nâng cao nhận thức học thuật và thúc đẩy nghiên cứu sâu rộng hơn về thể loại này. Chủ thể: các viện nghiên cứu, trường đại học.
- **Ứng dụng công nghệ số**: Xây dựng kho dữ liệu số về giai thoại để lưu trữ, tra cứu và phổ biến rộng rãi trên các nền tảng trực tuyến, giúp tiếp cận đông đảo công chúng. Thời gian: 2 năm.
## Đối tượng nên tham khảo luận văn
- **Sinh viên và giảng viên ngành Văn học Việt Nam**: Giúp hiểu sâu sắc về thể loại giai thoại, phục vụ học tập và giảng dạy văn học dân gian.
- **Nhà nghiên cứu văn học dân gian và folklore**: Cung cấp tư liệu và phân tích chuyên sâu về giai thoại, hỗ trợ nghiên cứu chuyên ngành.
- **Giáo viên phổ thông và trung học**: Tận dụng giai thoại để làm phong phú bài giảng, tăng sự hứng thú và hiệu quả học tập cho học sinh.
- **Cộng đồng văn hóa và nghệ thuật**: Giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian, đặc biệt trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
## Câu hỏi thường gặp
1. **Giai thoại là gì và có đặc điểm gì nổi bật?**
Giai thoại là thể loại văn học dân gian kể những câu chuyện ngắn gọn, lý thú, có lời thoại dí dỏm và nhân vật đời thường hóa. Nó khác với truyện cười ở tính lý thú hơn là gây cười sảng khoái.
2. **Giai thoại về các tác gia văn học có vai trò gì trong văn học dân gian?**
Giai thoại giúp làm sáng tỏ tính cách, cuộc sống và tư tưởng của các tác gia, đồng thời phản ánh xã hội và văn hóa qua lăng kính dân gian, góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian.
3. **Phương pháp nghiên cứu giai thoại trong luận văn là gì?**
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, điền dã văn học, phân tích - tổng hợp, so sánh và nghiên cứu liên ngành để thu thập và phân tích các giai thoại.
4. **Tại sao giai thoại lại có nhiều dị bản?**
Do giai thoại được truyền miệng qua nhiều thế hệ, nên có sự biến đổi về chi tiết, lời thoại, nhưng vẫn giữ được cốt truyện và giá trị nội dung cơ bản.
5. **Làm thế nào để ứng dụng giai thoại trong giảng dạy?**
Giáo viên có thể sử dụng giai thoại để minh họa bài học, tạo sự hứng thú cho học sinh, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về nhân vật và bối cảnh lịch sử, văn hóa.
## Kết luận
- Giai thoại là thể loại văn học dân gian độc lập, có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm phong phú kho tàng văn học Việt Nam.
- Khoảng 93% giai thoại về các tác gia có nội dung đả kích tầng lớp quan lại, phản ánh xã hội phong kiến mục nát.
- Giai thoại thể hiện tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc và thương dân qua các câu chuyện về các tác gia văn học tiêu biểu.
- Đặc điểm nghệ thuật của giai thoại gồm quy mô ngắn gọn, lời thoại trí tuệ, nhân vật đời thường hóa, tạo sức sống lâu bền trong dân gian.
- Nghiên cứu mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn, phát huy giá trị giai thoại trong giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian.
**Hành động tiếp theo**: Khuyến khích các cơ quan giáo dục và văn hóa tăng cường sưu tầm, nghiên cứu và ứng dụng giai thoại trong giảng dạy và truyền thông văn hóa.
**Kêu gọi**: Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên hãy tiếp tục khai thác, phát huy giá trị của giai thoại để góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.