CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE THƠ NGUYEN PHONG VIỆT TRONG BOI CANH VĂN HOA ĐẠI CHUNG VIET NAM DUONG ĐẠI 1. Khai quát về bối cảnh văn hóa đại chúng Việt Nam đương dai 1. Quan niệm về văn hóa đại chúng Văn hóa là khái nệm mang nội hàm rộng lớn với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của con người. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESCO, 2002) đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và nó chứa đựng ngoài văn hoc và nghệ thuật, cả cach sống, phương thức chung sống, hệ giá trị, truyền thông và đức tin” [10, tr.
Trong tiếng Việt, văn hóa cũng được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống van hóa); theo nghĩa chuyên biệt đề chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn). Theo nghĩa rộng hơn, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm tinh vi hiện đại, tín ngưỡng, phong tục, lối song, lao động. Với cách hiểu này, văn hoá mới là đối tượng đích thực của văn hóa học. Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau.
Đề định nghĩa một khái niệm, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ bản của nó. Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu, cần và đủ dé phân biệt khái niệm (sự vật) ay với khái niệm (sự vat) khác. Phan tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như giá trị, như hoạt động, như kí hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội.), có thể xác định được các đặc trưng cơ bản mà tổng hợp lại, ta có thé nêu ra một định nghĩa về văn hoá theo UNESCO như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [23, tr. 13 Khi đi tìm cách hiểu cho thuật ngữ văn hoá đại chúng, Gordon Lynch trong Tim hiểu than hoc va văn hoá đại chúng (Understand Theology and Popular Culture) cho rang Văn hoá đại chung là một thuật ngữ được sử dung hoàn toàn khác nhau bởi những tác giả khác nhau dựa trên hướng nghiên cứu riêng mà họ được giao phó [14].
Trước khó khăn như vậy, Gordon Lynch đã đề xuất việc tìm hiểu nội hàm văn hoá đại chúng bằng cách đặt dạng thức văn hoá này trong thế đối sánh với các dạng thức văn hoá khác như văn hoá cao cấp (high culture), văn hoá tiền vệ (avant — garde), văn hoá bình dân (folk culture), văn hoá chủ lưu (dominant culture). Dựa trên những điểm tương đồng và dị biệt của các dạng thức văn hoá được phân tích một cách cặn kẽ, Gordon Lynch muốn hướng đến một cách hiểu hợp lý trong khả năng cho phép về thuật ngữ văn hoá đại chúng. John Storey trong Ly thuyét văn hoá và văn hoá đại chúng (Cultural Theory and Popular Culture) đưa ra 6 định nghĩa khác nhau về văn hoá đại chúng. Theo một định nghĩa, Storey mô tả văn hóa đại chúng hoặc đại chúng là văn hóa thương mại vô vọng được sản xuất hàng loạt để tiêu thụ hàng loạt bởi một khối lượng người tiêu dùng không phân biệt đối xử.
Ông nói thêm rằng văn hóa phổ biến là công thức và thao túng, không giống như cách anh ấy xem quá trình quảng cáo. Một sản phẩm hoặc thương hiệu phải được bán cho khán giả trước khi nó có thể tham gia vào văn hóa đại chúng hoặc đại chúng, bằng cách ném bom xã hội với nó, sau đó nó trở nên phổ biến văn hóa [18]. Britney Spears là một ví dụ điển hình về định nghĩa này. Con đường trở thành ngôi sao và vị trí trong văn hóa đại chúng của Britney Spears dựa trên các chiến lược tiếp thị để xây dựng hình ảnh của bản thân cùng với lượng người hâm mộ của cô.
Do đó, cô đã thu hút được hàng triệu người hâm mộ, các bài hát của cô được phát thường xuyên trên nhiều đài phát thanh, cô tiếp tục bán hết vé cho các buổi hòa nhạc và thu hút sự say mê của công chúng. Giống như việc tạo ra Britney Spears, văn hóa nhạc Pop hầu như luôn phụ 14 thuộc vào sản xuất hàng loạt dé tiêu thụ sản phẩm. Họ dựa vào các phương tiện truyền thông đại chúng để có được thông tin và định hình lợi ích. Học giả Jim Cullen, qua lời giới thiệu cho cuốn Bách khoa thu văn hoá đại chúng của St.
James Encyclopedia of Popular Culture) đã gọi văn hoa đại chúng là “nghệ thuật của đời sống thường nhật” (The Art of Everyday Life). Cũng trong lời giới thiệu này, ông dẫn lời của nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá Lawrence Levine, xem văn hoá đại chúng là “nền văn hoá dân gian của xã hội công nghiệp” (the folklore of industrial society) [15]. Qua một vai khái niệm đã nêu ở trên, chúng tôi nhận thấy việc di tìm câu trả lời “Văn hoá đại chúng là gì?” vốn không đơn giản. Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về văn hóa đại chúng.
Ở mỗi một thời đại, một môi trường hay một quốc gia đều có cách hiểu co giãn, tuy nhiên chúng tôi hiểu văn hoá đại chúng theo cách cua nhà nghiên cứu nghệ thuật người Nga Kirill Razlogov “Văn hoá đại chúng thường được định nghĩa như là những sản phẩm văn hoá (theo nghĩa rộng nhất, bao gồm các tác phẩm nghệ thuật, hàng tiêu dùng và nghệ thuật am thực) được các chuyên gia sáng tạo và phô biến với quan điểm cho răng trên nền tảng thương mại, đông đảo dân chúng không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác, quốc tịch, v. sẽ sử dụng nó. Văn hoá dai chúng khác với văn hoa dân gian (được dân chúng sáng tạo dé tự sử dụng); hội tụ mà không hợp nhất với văn hoá bình dân (thứ văn hoá giành được sự hưởng ứng trong dân chúng ở một quốc gia hay ở một khu vực nảo đó); và nó chuẩn bị cho thế giới tiếp nhận một nền văn hoá toàn cầu, tức một nền văn hoá sẽ bao quát toàn cầu ở cấp độ lý tưởng” [15]. Ta thấy rằng văn hoá đại chúng là bộ phận văn hoá chịu sự tác động của quá trình công nghiệp hóa kéo theo sự gia tăng của số lượng người lao động, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động sản xuất hàng hóa hàng loạt và tiêu thụ theo cơ chế thị trường, sự xoá nhoà không gian bởi những tiến bộ của các phương tiện truyền 15 thông, quá trình đô thị hoá và đời sống chính trị dân chủ.
Cách thức truyền bá những giá trị văn hoá đại chúng gan liền với những phương tiện truyền thông dai chúng như sách báo, truyền hình, mạng xã hội, trong đó sự phát triển củ Internet như một không gian két nôi, lan tỏa các giá tri có vai trò rat lớn. Dựa trên cách hiểu của Kirill Razlogov về văn hoá đại chúng, Nguyễn Văn Dân đưa ra nhận xét: văn hoá đại chúng có hai đặc tính nồi bat là tính thương mại và tính giải trí. Điều này bắt nguồn từ việc nền văn hoá đại chúng phải đáp ứng hai tiêu chí cơ bản “hiệu quả tiêu thụ của sản phẩm văn hoá” và “thị hiểu của đại chúng toan cầu” [4]. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, các sản phẩm văn hóa đại chúng đã mang đến cho công chúng một đời sống tinh thần phong phú, giúp công chúng được thỏa mãn nhu cầu giải trí với số lượng lớn các tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực: điện ảnh, âm nhạc, văn học, điêu khắc,.
Theo thời gian, các sản phẩm văn hóa đại chúng ngày càng được cải thiện về chất lượng nghệ thuật. Tuy nhiên, việc chạy theo các giá trị thương mại, kinh tế, lợi nhuận, số đông cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng của các sản phâm văn hóa đại chúng. Truyền thông chạy theo các thông tin giật gân, gây sốc, thu hút công chúng bằng các chiêu trò. Nhiều tác phẩm nghệ thuật chiều theo công chúng phổ thông với thị hiếu hoi hot, mang tính a dua, các sản phẩm âm nhạc, hội họa, điện ảnh, sân khấu cũng sao nhãng các gia tri cốt lõi.
Các nhà xuất ban chạy theo thị hiếu cho ra đời một số xuất bản phẩm mang tính chất hang hóa, thương mại. Người viết cũng chiều theo thị hiéu công chúng, tạo nên các tác phẩm có tính chất giải trí, nhất thời. Văn học là một loại hình nghệ thuật. Các tác phẩm cua văn học tinh hoa là giá tri kết tinh cao về tư tưởng và nghệ thuật, hàm lượng tri thức và kiến văn sâu rộng, không chiều theo thị hiểu đám đông dễ dai, thé hiện trình độ sử dụng ngôn ngữ điêu luyện của tác giả nên thường kén người đọc.
Ngược lại, “văn học đại chúng lại gân như đôi ngược 16 với văn học tinh hoa” [6, tr. Dé tài của văn học đại chúng đơn giản, gần gũi VỚI Cuộc sống thường nhật của con người hiện đại, đề cao tính giải trí, sử dụng cốt truyện dé hiểu, thé văn quen thuộc và ngôn ngữ thông tục, nhẹ nhàng, dé lây lan cảm xúc. Ngày nay, không khó để khảo sát, thống kê nhanh về lượng người đọc dòng văn học tinh hoa, kinh điển và dòng văn hoc đại chúng trên các diễn dan online. Theo đó, các tác phâm văn học đại chúng (truyện teen, tản văn, .) có lượng người truy cập và tiếp nhận các tác phẩm chiếm số lượng gấp nhiều lần so với các tác phâm tinh hoa, kinh điển.
Qua đó, ta có thé thấy, hiện nay nhu cau thụ hưởng các tác phẩm văn học đại chúng của công chúng rất đáng kẻ, đó chính là điều kiện thuận lợi thúc đây văn học đại chúng phát triển sôi động. Tình hình văn hóa đại chúng ở Việt Nam hiện nay Trước năm 1975, trong điều kiện chiến tranh, Đảng đã chủ trương xây dựng một nền văn hóa mang tính dân tộc và đại chúng dé tuyên truyền, cô vũ Cách mang cho quan chúng công nông binh phần nhiều còn hạn chế về trình độ học van. Tác giả của các tác phẩm văn nghệ trong gia đoạn này, bên cạnh các nghệ sĩ chuyên nghiệp, còn là những người cầm bút xuất thân từ quần chúng nhân dân: những người thợ, người lính,. Do chủ trương xây dựng nền văn hóa phục vụ công nông binh nên các sản phâm văn hóa dễ dàng phổ biến và được tiếp nhận với tầng lớp này.